Động mạch ngực trong

Trong giải phẫu người, động mạch ngực trong (tiếng Anh: internal thoracic artery; viết tắt là ITA), trước đây thường được gọi là động mạch vú trong (tên vẫn thường được các bác sĩ phẫu thuật sử dụng), là một động mạch cung cấp máu cho thành ngực trước và bầu ngực.[1] Đây là một động mạch kép, với một động mạch chạy dọc theo mỗi bên của xương ức, tiếp tục phân đôi làm hai nhánh là động mạch thượng vị trên và động mạch cơ cơ hoành.

Động mạch ngực trong
Gray522.png
Động mạch ngực trong phải và các nhánh của nó (được đề tên cũ tại góc trên bên phải.)
Chi tiết
NguồnĐộng mạch dưới đòn
NhánhTâm hoành
Các nhánh gian sườn trước
Cơ cơ hoành
Trên thượng vị
Các nhánh xuyên
Tĩnh mạchTĩnh mạch ngực trong
Định danh
LatinhArteria thoracica interna, arteria mammaria interna
MeSHD008323
TAA12.2.08.029
FMA3960
Thuật ngữ giải phẫu

Cấu trúcSửa đổi

Động mạch ngực trong bắt đầu từ bề mặt trước của động mạch dưới đòn gần điểm gốc của nó.[2][3] Nó có chiều rộng từ 1 đến 2 mm.[4]

Nó di chuyển xuống dưới bên trong lồng ngực, cách khoảng 1 cm từ hai bên của xương ức,[5] và do đó nằm chính giữa núm vú. Nó đi kèm với tĩnh mạch ngực trong.

Nó chạy sâu đến cơ xiên bên ngoài bụng, nhưng ở bề mặt của dây thần kinh phế vị.

Ở người lớn, động mạch ngực trong nằm gần xương ức nhất tại khoang gian sườn đầu tiên. Khoảng cách giữa động mạch này và viền bên ngoài cùng của xương ức tăng lên khi đi xuống dưới, lên đến 1,1cm đến 1,3cm ở khoang gian sườn thứ sáu. Ở trẻ em, khoảng cách này từ 0,5cm đến 1,0cm.[6]

Các nhánhSửa đổi

  • Các nhánh trung thất
  • Nhánh tuyến ức
  • Động mạch ngoài tim–cơ hoành—đi với dây thần kinh cơ hoành
  • Nhánh xương ức
  • Nhánh xuyên
  • Mười hai nhánh khoang gian sườn mặt trước, hai trong số đó đi đến mỗi một trong sáu gian sườn trên cùng. Trong một khoang nhất định, nhánh trên đi ngang theo mặt dưới của xương sườn cho đến khi nó nối với động mạch gian sườn mặt sau tương ứng của nó. Nhánh dưới của khoang nối với nhánh phụ của động mạch gian sườn mặt sau.

Sau khi đi qua khoang sườn thứ sáu, động mạch ngực trong tách thành hai nhánh cụt sau:

  • Động mạch cơ cơ hoành—gần như đi theo hoàn toàn mép sườn cánh
  • Động mạch thượng vị trên—tiếp tục đi theo đường đi của động mạch ngực trong, đi xuống thành bụng

Vai tròSửa đổi

Động mạch ngực trong cung cấp máu cho thành ngực và bầu ngực.[1]

Ý nghĩa lâm sàngSửa đổi

Sử dụng trong phẫu thuật bắc cầuSửa đổi

Động mạch lồng ngực trong là mạch máu thường được bác sĩ phẫu thuật tim lựa chọn để phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Động mạch lồng ngực trái có khả năng co giãn lâu dài vượt trội so với tĩnh mạch hiển[7][8] và động mạch khác[9] (ví dụ động mạch quay, động mạch dạ dày–mạc nối) khi được ghép với động mạch vành đi xuống mặt trước bên trái, nói chung là mạch máu quan trọng nhất, về mặt lâm sàng, để dùng làm bắc cầu.[10]

Các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ có thể sử dụng động mạch ngực trong bên trái hoặc bên phải để tái tạo vạt tự do của vú cùng đối tượng sau khi phẫu thuật cắt bỏ vú. Thông thường sẽ nối mạch máu vi mạch ở khoang sườn thứ hai tại động mạch mà trên đó đặt vạt tự do.

Hình ảnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b Kramer, R. S.; Morton, J. R.; Groom, R. C.; Robaczewski, D. L. (1 tháng 1 năm 2018), “Coronary Artery Bypass Grafting”, trong Vasan, Ramachandran S.; Sawyer, Douglas B. (biên tập), Encyclopedia of Cardiovascular Research and Medicine (bằng tiếng Anh), Oxford: Elsevier, tr. 700–729, doi:10.1016/b978-0-12-809657-4.99754-0, ISBN 978-0-12-805154-2, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020
  2. ^ Stewart, Charles E.; Urken, Mark L. (1 tháng 1 năm 2009), Wei, Fu-Chan; Mardini, Samir (biên tập), “CHAPTER 18 - Deltopectoral flap”, Flaps and Reconstructive Surgery (bằng tiếng Anh), Edinburgh: W.B. Saunders, tr. 193–205, doi:10.1016/b978-0-7216-0519-7.00018-6, ISBN 978-0-7216-0519-7, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020
  3. ^ Barral, Jean-Pierre; Croibier, Alain (1 tháng 1 năm 2011), Barral, Jean-Pierre; Croibier, Alain (biên tập), “13 - Vessels of the breast”, Visceral Vascular Manipulations (bằng tiếng Anh), Oxford: Churchill Livingstone, tr. 121–132, doi:10.1016/b978-0-7020-4351-2.00013-2, ISBN 978-0-7020-4351-2, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020
  4. ^ Markiewicz, Michael R.; Ord, Robert; Fernandes, Rui P. (1 tháng 1 năm 2017), Brennan, Peter A.; Schliephake, Henning; Ghali, G. E.; Cascarini, Luke (biên tập), “43 - Local and Regional Flap Reconstruction of Maxillofacial Defects”, Maxillofacial Surgery (Third Edition) (bằng tiếng Anh), Churchill Livingstone, tr. 616–635, doi:10.1016/b978-0-7020-6056-4.00044-7, ISBN 978-0-7020-6056-4, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020
  5. ^ Barral, Jean-Pierre; Croibier, Alain (1 tháng 1 năm 2011), Barral, Jean-Pierre; Croibier, Alain (biên tập), “13 - Vessels of the breast”, Visceral Vascular Manipulations (bằng tiếng Anh), Oxford: Churchill Livingstone, tr. 121–132, doi:10.1016/b978-0-7020-4351-2.00013-2, ISBN 978-0-7020-4351-2, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020
  6. ^ Jelicić N, Djordjević L, Stosić T (1996). “Unutrasnji grudni krvni sudovi (a. et vv. thoracicae internae) i njihov prakticni znacaj” [The internal thoracic blood vessels (internal thoracic arteries and veins) and their practical significance]. Srpski Arhiv Za Celokupno Lekarstvo (bằng tiếng Serbia). 124 (3–4): 58–61. PMID 9102819.
  7. ^ Kitamura, S; Kawachi, K; Kawata, T; Kobayashi, S; Mizuguchi, K; Kameda, Y; Nishioka, H; Hamada, Y; Yoshida, Y (1996). “Ten-year survival and cardiac event-free rates in Japanese patients with the left anterior descending artery revascularized with internal thoracic artery or saphenous vein graft: a comparative study”. Nippon Geka Gakkai Zasshi. 97 (3): 202–9. PMID 8649330.
  8. ^ Arima, M; Kanoh, T; Suzuki, T; Kuremoto, K; Tanimoto, K; Oigawa, T; Matsuda, S (2005). “Serial angiographic follow-up beyond 10 years after coronary artery bypass grafting”. Circulation Journal. 69 (8): 896–902. doi:10.1253/circj.69.896. PMID 16041156.
  9. ^ Cohen, G; Tamariz, MG; Sever, JY; Liaghati, N; Guru, V; Christakis, GT; Bhatnagar, G; Cutrara, C; và đồng nghiệp (2001). “The radial artery versus the saphenous vein graft in contemporary CABG: a case-matched study”. The Annals of Thoracic Surgery. 71 (1): 180–5, discussion 185–6. doi:10.1016/S0003-4975(00)02285-2. PMID 11216742.
  10. ^ Kramer, R. S.; Morton, J. R.; Groom, R. C.; Robaczewski, D. L. (1 tháng 1 năm 2018), “Coronary Artery Bypass Grafting”, trong Vasan, Ramachandran S.; Sawyer, Douglas B. (biên tập), Encyclopedia of Cardiovascular Research and Medicine (bằng tiếng Anh), Oxford: Elsevier, tr. 700–729, doi:10.1016/b978-0-12-809657-4.99754-0, ISBN 978-0-12-805154-2, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020

Liên kết ngoàiSửa đổi