Mở trình đơn chính

25album phòng thu thứ ba của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Anh Adele,[3][4][5][6] phát hành ngày 20 tháng 11 năm 2015 bởi XL Recordings.[7][8][9] Sau thành công toàn cầu với album 21 (2011), Adele đã cân nhắc việc từ bỏ ngành công nghiệp âm nhạc với thái độ tích cực. Tuy nhiên, cô quyết định chỉ tạm dừng sự nghiệp và dành thời gian để nuôi dạy con trai mình.[10][11][12] Trong khoảng thời gian vắng bóng, cô trải qua giai đoạn bế tắc về ý tưởng và phải dời lại buổi thu âm cho album mới, lo sợ rằng mình đã đánh mất khả năng sáng tác.[13][14][15][16] Vào năm 2013, Adele có nhiều bứt phá và tiếp tục bắt tay thực hiện album đến năm 2015.[17][18]

25
Adele - 25 (Official Album Cover).png
Album phòng thu của Adele
Phát hành20 tháng 11, 2015 (2015-11-20)
Thu âm2013–15
Thể loại
Thời lượng48:25
Hãng đĩa
Sản xuất
Adele
Live at the Royal Albert Hall
(2011)Live at the Royal Albert Hall2011
25
(2015)
Đĩa đơn từ 25
  1. "Hello"
    Phát hành: 23 tháng 10 năm 2015
  2. "When We Were Young"
    Phát hành: 22 tháng 1 năm 2016
  3. "Send My Love (To Your New Lover)"
    Phát hành: 16 tháng 5 năm 2016
  4. "Water Under the Bridge"
    Phát hành: 4 tháng 11 năm 2016

Mang tựa đề phản ánh cuộc đời và tâm niệm ở tuổi 25, 25 được Adele gọi là "đĩa thu âm làm lành".[3][19] Ca từ của album kể về sự "khao khát của bản thân, sự mong nhớ" của Adele, cùng "sự u buồn khi thời gian trôi nhanh", liên quan đến chủ đề làm mẹ và hối tiếc.[20][21][22][23] Khác với những tác phẩm trước đây của Adele, phần sản xuất của 25 kết hợp các yếu tố điện tử và mẫu nhịp điệu độc đáo, với các yếu tố của R&B thập niên 1980 và đàn organ.[24] Tương tự như 21, Adele tiếp tục hợp tác với nhà sản xuất và nhà viết lời Paul EpworthRyan Tedder, cùng với nhiều cộng sự mới như Max Martin, Shellback, Greg Kurstin, Danger Mouse, The Smeezingtons, Samuel DixonTobias Jesso Jr.

25 nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, đa phần đều khen ngợi chất giọng của Adele và quá trình sản xuất album.[25][26] 25 đạt được những thành công vượt trội trên toàn cầu, ra mắt ở vị trí quán quân tại hơn 25 thị trường và phá vỡ nhiều kỷ lục doanh số tuần đầu tại nhiều quốc gia, trong đó có Vương quốc Anh và Hoa Kỳ;[27][28] tại Hoa Kỳ, album bán được 3.38 triệu bản trong tuần đầu phát hành, trở thành album có doanh số lớn nhất trong một tuần kể từ khi Nielsen SoundScan bắt đầu theo dõi doanh số tiêu thụ âm nhạc từ năm 1991.[29][30][31] 25 sau đó đã trở thành album bán chạy nhất thế giới năm 2015 với doanh số chạm mốc 17,4 triệu bản.[32] Tính đến năm 2016, album đã bán được 20 triệu bản, trở thành một trong những album bán chạy nhất toàn cầu.

Album được chứng nhận Kim cương từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) với hơn 10 triệu bản tiêu thụ tại thị trường Hoa Kỳ, giúp Adele trở thành nghệ sĩ duy nhất trong thập niên 2010 có hai album đạt được chứng nhận này. Nhiều nhà phê bình cho rằng album này đã tạo nên những tác động nhất định đến ngành công nghiệp âm nhạc,[33][34] khi khuyến khích công chúng mua album đĩa cứng, thay vì thông qua hình thức tải nhạc số hoặc nghe nhạc trực tuyến.[35][36] 25 đem về cho Adele nhiều giải thưởng, bao gồm Album Anh quốc của năm tại giải thưởng BRITAlbum của năm tại giải Grammy lần thứ 59.

Bối cảnhSửa đổi

Vào tháng 1 năm 2012, Adele đang hẹn hò với doanh nhân từ thiện và cựu học sinh Trường Eton Simon Konecki từ mùa hè năm 2011. Vào tháng 6 năm 2012, Adele thông báo cô và Konecki chuẩn bị đón đứa con đầu lòng.[37][38][39] Từ khi hạ sinh con trai Angelo vào ngày 19 tháng 10 năm 2012, Adele tạm rời khỏi sân khấu âm nhạc.[40]

Sau khi phát hành 21, Adele xem xét việc rút lui khỏi ngành công nghiệp âm nhạc, nghĩ rằng mình nên dành thời gian cho gia đình.[41] Tuy nhiên, việc sáng tác vẫn được tiếp tục và những ca khúc mới cuối cùng cũng ra đời. Trước khi được phát hành, 25 được liệt kê như là một trong số những album được mong chờ nhất năm 2015. Billboard, Fuse, The Sydney Morning Herald và nhiều trang khác đã đặt album ở vị trí đầu tiên trong danh sách của họ, sau đó họ nêu rõ "Nếu Adele phát hành album của cô vào năm 2015, cô có thể chiếm ưu thế trong năm."[42] Trước khi album được công bố, các nhà báo và người hâm mộ dự đoán album sẽ được mang tên 25 tiếp tục chủ đề về tuổi của các album trước của cô như 1921.[43][44] Vào sinh nhật lần thứ 26 vào tháng 5 năm 2014, Adele đăng tải một thông điệp đầy ẩn ý thông qua tài khoản Twitter của cô với đoạn tweet có nội dung, "Tạm biệt 25 nhé... Hẹn gặp lại lần nữa vào năm sau". Billboard và Capital FM ngay sau đó dự đoán album tiếp theo của cô sẽ mang tên 25 và trình làng trước công chúng vào năm 2015.[9][45]

Phát hànhSửa đổi

Với đề xuất ngày phát hành lần đầu vào tháng 8 năm 2014,[46][47] hãng XL Recordings công bố lùi dự định ra mắt 25 đến nửa cuối năm 2015.[48] 25 xuất hiện trong các danh sách album được kỳ vọng nhất năm 2015 theo nhiều trang thông tin đại chúng,[49][50][51] trước khi được Adele thông báo lên kệ vào tháng 11 cùng năm trong một bức thư gửi đến khán giả qua mạng xã hội.[3][4][5][6][7]

Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "Hello" ra mắt cùng một video âm nhạc vào ngày 23 tháng 10 năm 2015,[7] theo sau một đoạn giới thiệu kéo dài 30 giây thu hút xấp xỉ 13.4 triệu người xem[52][53] trên chương trình X Factor.[54][55] Thông báo phát hành và ảnh bìa được công bố trên tài khoản Instagram của Adele.[56]

Danh sách bài hátSửa đổi

Phiên bản tiêu chuẩn[57]
STT Tên bài hátSáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Hello"  Kurstin 4:55
2. "Send My Love (To Your New Lover)"  
  • Martin
  • Shellback
3:43
3. "I Miss You"  Epworth 5:49
4. "When We Were Young"  Ariel Rechtshaid 4:51
5. "Remedy"  Tedder 4:05
6. "Water Under the Bridge"  
  • Adkins
  • Kurstin
Kurstin 4:00
7. "River Lea"  Danger Mouse 3:45
8. "Love in the Dark"  Dixon 4:46
9. "Million Years Ago"  
  • Adkins
  • Kurstin
Kurstin 3:47
10. "All I Ask"  
  • Adkins
  • Bruno Mars
  • Philip Lawrence
  • Christopher Brody Brown
The Smeezingtons 4:32
11. "Sweetest Devotion"  
  • Adkins
  • Epworth
Epworth 4:12
Tổng thời lượng:
48:25
Ghi chú

Xếp hạngSửa đổi

Chứng nhậnSửa đổi

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[136] 9× Bạch kim 630.000^
Áo (IFPI Austria)[137] 3× Bạch kim 60.000*
Bỉ (BEA)[138] 8× Bạch kim 240.000*
Canada (Music Canada)[139] Kim cương 1,000,000[140]
Đan Mạch (IFPI Denmark)[141] 3× Bạch kim 60.000^
France 785,300[103]
Đức (BVMI)[142] 5× Bạch kim 1.000.000^
Hungary (Mahasz)[143] 5× Bạch kim 30.000^
Ireland 107,000[144]
Ý (FIMI)[145] 5× Bạch kim 300.000*
Mexico (AMPROFON)[146] Bạch kim 60.000^
New Zealand (RMNZ)[147] 9× Bạch kim 135.000^
Ba Lan (ZPAV)[148] Kim cương 100.000*
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[149] 3× Bạch kim 120.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[150] 6× Bạch kim 180.000^
Anh (BPI)[151] 10× Bạch kim 3,249,093[152]
Hoa Kỳ (RIAA)[153] Kim cương 9,200,000[154]
Tóm lược
Toàn cầu None 20,000,000[155]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Lịch sử phát hànhSửa đổi

Quốc gia Ngày Phiên bản Định dạng Nhãn thu âm Cat. Gc.
Toàn thế giới 20 tháng 11 năm 2015
  • Tiêu chuẩn
  • cao cấp
XLCD740 [156]
Hoa Kỳ Cao cấp CD 50281802 [58]
Nhật Bản BGJ-5252 [157]
Hàn Quốc 2 tháng 12 năm 2015 Tiêu chuẩn
  • CD
  • tải nhạc số
Kang&Music KACD1508 [158]
Trung Quốc 21 tháng 12 năm 2015 Tiêu chuẩn
  • CD
  • tải nhạc số
  • BeggarsChina-XL
  • Starsing
9787883258315 [159]

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Handy, Bruce (2 tháng 1 năm 2014). “Review: Adele's 25 Is the Confessional Blockbuster You Wanted It to Be”. Vanity Fair. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  2. ^ a ă Rosen, Jody (19 tháng 11 năm 2015). “Adele Powers Through a Lifetime of Regret & Weariness on '25' Album Review”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  3. ^ a ă â “Adele Finally Shares Update on New Album '25': 'I'm Sorry It Took So Long'. Billboard. Ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  4. ^ a ă Tim Jonze (ngày 1 tháng 1 năm 1970). “Adele reveals details of new album 25 | Music”. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  5. ^ a ă “Adele's new track: Other artists pushed material back to avoid clash - BBC Newsbeat”. Bbc.co.uk. Ngày 1 tháng 1 năm 1970. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  6. ^ a ă “Adele's New Album '25' to be Epic Release, Other Artists Advised to Drop Their Records at a Later Date: Entertainment”. Latinos Post. Ngày 13 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  7. ^ a ă â Lynch, Joe (ngày 22 tháng 10 năm 2015). “Adele Reveals Release Date, Tracklist for '25' Album”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  8. ^ Leyfield, James (ngày 5 tháng 5 năm 2014). “Adele drops biggest hint yet she is to release a third album imminently”. Daily Mail (London). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014. 
  9. ^ a ă “Adele Teases New Album '25' On Twitter”. Capital FM. Ngày 5 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014. 
  10. ^ Kaufman, Gil (3 tháng 4 năm 2012) "Adele To Release New Single This Year". MTV. Retrieved 19 October 2012
  11. ^ “Adele Admits Almost Quitting Music After '21'. Radio.com. 23 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2015. 
  12. ^ “Adele Gives Birth to Baby Boy”. Billboard. 21 tháng 10 năm 2012. 
  13. ^ “Adele on Her Return: 'I Was So Frightened That No One Cared'. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2015. 
  14. ^ “Adele Scrapped A "Boring" Album About Motherhood Before '25'. Idolator. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2015. 
  15. ^ Collins, Hattie (29 tháng 10 năm 2015). “adele interview: world exclusive first interview in three years”. ID. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2015. 
  16. ^ Hiatt, Brian (3 tháng 11 năm 2015). “Adele: Inside Her Private Life and Triumphant Return”. Rolling Stone. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2015. 
  17. ^ “Adele Speaks Out On SiriusXM, Beats Radio 1, 'Hello' Explodes Worldwide”. All Access. 
  18. ^ “Radio on Adele's 'Hello': 'She Can Make You Feel What She Feels'. Billboard. 
  19. ^ “Adele confirms new album is called 25”. BBC News. 21 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2015. 
  20. ^ “Adele says new album '25' is about 'trying to clear out the past'. NME. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  21. ^ “Adele Finally Shares Update on New Album '25': 'I'm Sorry It Took So Long'. Billboard. 21 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  22. ^ O'Connor, Samantha. “Adele – 25 – Review”. Thefourohfive.com. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  23. ^ “Adele – 25: A first listen – BBC News”. BBC. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  24. ^ Jones, Preston (18 tháng 11 năm 2015). “Adele gives us a Million reasons to love 25”. Fort Worth Star-Telegram. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015. 
  25. ^ “Reviews for 25 by Adele”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  26. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “25 – Adele”. AllMusic. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015. 
  27. ^ “Adele's '25' Sets Biggest U.K. Opening Sales Week, Most Downloaded No. 1 Album”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2015. 
  28. ^ Copsey, Rob (27 tháng 11 năm 2015). “Adele's 25 is officially the UK's biggest selling Number 1 album ever”. Official Charts Company. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2015. 
  29. ^ Caulfield, Keith (23 tháng 11 năm 2015). “Adele's '25' Sells 2.3 Million in First Three Days in U.S., Aiming for 2.9 Million Debut Week”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2015. 
  30. ^ “Adele's '25' Is Already 2015's Biggest-Selling Album”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015. 
  31. ^ “Official: Adele Breaks *NSYNC's Single-Week U.S. Album Sales Record”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015. 
  32. ^ “Global Music Report” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. 
  33. ^ Andy Gill (18 tháng 11 năm 2015). “Adele 25 review: New album arrives to save the music industry | Culture”. The Independent. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015. 
  34. ^ “Adele Gives Target a Boost, CEO Says”. Fortune. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2015. 
  35. ^ Adam Sherwin (20 tháng 11 năm 2015). “Adele 25: New album on course to sell a million copies on its first day”. The Independent. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015. 
  36. ^ Caulfield, Keith (5 tháng 1 năm 2016). “Adele's '25' Rules as Nielsen Music's Top Album of 2015 in U.S.”. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  37. ^ “Adele Is Pregnant!”. Us Weekly. Ngày 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2012. 
  38. ^ Adele (ngày 29 tháng 6 năm 2012). “I've got some news...”. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  39. ^ “Adele pregnant with first child”. Belfast Telegraph. Ngày 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  40. ^ Malec, Brett (ngày 26 tháng 6 năm 2013). “Adele's Baby Boy Angelo: See Photos of His Adorable Face!”. E!. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  41. ^ Galbraith, Alex (ngày 23 tháng 10 năm 2013). “Adele Considered Quitting Music After ’21’”. UPROXX. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  42. ^ “Most anticipated albums of 2015: Adele to Led Zeppelin, via Kanye West”. SMH. Ngày 6 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  43. ^ “30 Most Anticipated Albums of 2015”. Billboard. Ngày 30 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  44. ^ “30 Most Anticipated Albums of 2015”. Fuse. Ngày 13 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  45. ^ “Adele Teases '25' Album On Twitter?”. Billboard. Prometheus Global Media. Ngày 5 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2015. 
  46. ^ Frank, Alex (ngày 11 tháng 9 năm 2014). “Waiting for New Albums From Rihanna, Adele, Frank Ocean, and Robyn”. Vogue. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2014. 
  47. ^ Buttterly, Amelia (ngày 10 tháng 10 năm 2014). “No new Adele album in 2014, according to XL's accounts”. Newsbeat (BBC). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2014. 
  48. ^ Rayne, Naja (ngày 27 tháng 8 năm 2015). “Adele's New Album Due Out in November": Report”. People. Time Inc. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2015. 
  49. ^ Josephs, Brian (ngày 9 tháng 9 năm 2015). “The 25 Most Anticipated Albums of Fall 2015”. Consequence of Sound. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  50. ^ Corner, Lewis (ngày 29 tháng 12 năm 2014). “20 albums we're most excited for in 2015: Rihanna, Adele, Kanye - Music Feature”. Digital Spy. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  51. ^ “The Week In Pop: The 18 Most Anticipated Pop Albums Of The Fall”. Stereogum. Ngày 17 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  52. ^ ITV1's The X Factor and Downton Abbey dominate Sunday viewing
  53. ^ “Adele 'teases new material in TV advert'. BBC. Ngày 18 tháng 10 năm 2015. 
  54. ^ Duboff, Josh (ngày 2 tháng 1 năm 2014). “Adele’s Mysterious New Teaser Has Stymied a Planet”. Vanity Fair. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  55. ^ Mack, Emmy. “Everyone Is Getting Super Emotional About Adele’s New Album, Especially Adele - Music News, Reviews, Interviews and Culture”. Music Feeds. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  56. ^ Feeney, Nolan (ngày 22 tháng 10 năm 2015). “Adele Just Shared the Release Date for New Album 25”. Time. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  57. ^ “iTunes (U.S.) - Music - Adele - 25”. iTunes (U.S.). Ngày 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2015. 
  58. ^ a ă â b “Adele - 25 - Target Exclusive: Target”. Target. Ngày 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2015. 
  59. ^ “Adele New Album with 3 Japan Only Bonus Tracks”. cdjapan. 27 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2015. 
  60. ^ “iTunes Music – 25 by Adele”. iTunes Store (US). Apple Inc. 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  61. ^ "Adele – 25". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  62. ^ "Adele - 25" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập 2 tháng 12 năm 2015.
  63. ^ "Adele – 25" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  64. ^ "Adele – 25" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  65. ^ “Ranking – Portal Sucesso!: As músicas mais tocadas e os CDs e DVDs mais vendidos do Brasil” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Portalsucesso.com.br. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015. 
  66. ^ "Adele Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Adele. Prometheus Global Media. Truy cập 1 tháng 12 năm 2015.
  67. ^ “Top of the Shops – službena tjedna lista prodanih albuma u Hrvatskoj”. Hdu-toplista.com. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  68. ^ "Top 50 Prodejní". Czech Albums. ČNS IFPI. Note: On the chart page, select 201548 on the field besides the word "Zobrazit", and then click over the word to retrieve the correct chart data. Truy cập 1 tháng 12 năm 2015.
  69. ^ "Adele – 25". Danishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 29 tháng 11 năm 2015.
  70. ^ "Adele – 25". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  71. ^ "Adele: 25" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập 29 tháng 11 năm 2015.
  72. ^ "Adele – 25". Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập 29 tháng 11 năm 2015.
  73. ^ "Longplay-Chartverfolgung at Musicline". Musicline.de (bằng tiếng Đức). Media Control. Truy cập 29 tháng 11 năm 2015.
  74. ^ “Official IFPI Charts – Top-75 Albums Sales Chart – Week: 4/2016”. IFPI Greece. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  75. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập 24 tháng 12 năm 2015.
  76. ^ "GFK Chart-Track". Chart-Track.co.uk. GFK Chart-Track. IRMA. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  77. ^ "Adele – 25". Italiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  78. ^ "Oricon Top 50 Albums" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập 3 tháng 12 năm 2015.
  79. ^ “Top Album - Semanal (del 20 de Noviembre al 26 de Noviembre)” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Amprofon. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016. 
  80. ^ "Adele – 25". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập 27 tháng 11 năm 2015.
  81. ^ "Adele – 25". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  82. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Związek Producentów Audio Video. Truy cập 4 tháng 12 năm 2015.
  83. ^ "Adele – 25". Portuguesecharts.com. Hung Medien. Truy cập 4 tháng 12 năm 2015.
  84. ^ “Новый альбом Адель в пятый раз возглавил чарты российского iTunes” (bằng tiếng Nga). Lenta.ru. 2 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016. 
  85. ^ "2015-12-03 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 1 tháng 12 năm 2015.
  86. ^ “SA Top 20 – 5 Desember 2015” (bằng tiếng Afrikaans). RISA. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2015. 
  87. ^ “2015년 50주차 Album Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  88. ^ “2015년 50주차 Album Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015. 
  89. ^ "Adele – 25". Spanishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 6 tháng 12 năm 2015.
  90. ^ "Adele – 25". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 29 tháng 11 năm 2015.
  91. ^ "Adele – 25". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập 2 tháng 12 năm 2015.
  92. ^ "2015-12-03 Top 40 Official UK Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 28 tháng 11 năm 2015.
  93. ^ "Adele Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Adele. Prometheus Global Media. Truy cập 30 tháng 11 năm 2015.
  94. ^ “CAPIF Rankings Mensual” (Select "Noviembre 2015") (bằng tiếng Tây Ban Nha). CAPIF. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016. 
  95. ^ McCabe, Kathy. “ARIA chart for 2015 reveal the most popular music that Australia loves to turn up the volume on”. The Advertiser. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  96. ^ “Ö3 Charts”. Oe3.orf.at. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016. 
  97. ^ “ultratop.be – Jaaroverzichten 2015” (bằng tiếng Hà Lan). ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2015. 
  98. ^ “ultratop.be – Rapports Annuels 2015” (bằng tiếng Pháp). ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2015. 
  99. ^ “Números do Mercado - Ano 2015” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2016. 
  100. ^ “Top 50 strana 2015” (bằng tiếng Croatia). CMC.com.hr. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016. 
  101. ^ “ALBUM TOP-100 2015”. Hitlisten (bằng tiếng Đan Mạch). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  102. ^ Steffen Hung. “Dutch Charts”. dutchcharts.nl. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016. 
  103. ^ a ă “Les meilleures ventes d'albums de l'année 2015 en France” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts in France. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  104. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts”. GfK Entertainment (bằng tiếng Đức). offiziellecharts.de. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  105. ^ “Összesített album- és válogatáslemez-lista – eladási darabszám alapján – 2015”. Mahasz. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016. 
  106. ^ “IRMA Best of Albums 2015”. IRMA. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2016. 
  107. ^ “Classifiche Top of the Music 2015 FIMI-GfK: La musica italiana in vetta negli album e nei singoli digital” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. 8 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2016. 
  108. ^ “Los Más Vendidos 2015 – Mejor posición” (bằng tiếng Tây Ban Nha). AMPROFON. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  109. ^ “The Official NZ Music Charts - End of Year Charts 2015”. 
  110. ^ “Lista OLiS – podsumowanie 2015 roku” (bằng tiếng Ba Lan). bestsellery.zpav.pl. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016. 
  111. ^ “Пятьдесят оттенков дерзкого” (bằng tiếng Nga). Lenta.ru. 9 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016. 
  112. ^ “2015년 Album Chart” (bằng tiếng Triều Tiên). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2016. 
  113. ^ “2015년 Album Chart” (bằng tiếng Triều Tiên). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2016. 
  114. ^ “TOP 100 ALBUMES 2015”. promusicae.es. 27 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  115. ^ Steffen Hung (27 tháng 12 năm 2015). “Schweizer Jahreshitparade 2015”. hitparade.ch. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016. 
  116. ^ Copsey, Rob (5 tháng 1 năm 2016). “The Official Top 40 Biggest Artist Albums of 2015 revealed”. Official Charts Company. 
  117. ^ “ARIA Top 100 Albums 2016”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017. 
  118. ^ “Ö3 Austria Top 40 - Album-Charts 2016”. oe3.orf.at. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016. 
  119. ^ “Jaaroverzichten 2016 Albums”. Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016. 
  120. ^ “Rapports Annuels 2016 Albums”. Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016. 
  121. ^ “Top Canadian Albums - Year-End 2016”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  122. ^ “ALBUM TOP-100 2016”. Hitlisten (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  123. ^ “Jaaroverzichten - Album 2016”. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2016. 
  124. ^ “Classement des 200 meilleures ventes d’albums de 2016”. Syndicat National de l'Édition Phonographique (bằng tiếng Pháp). snepmusique.fr. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017. 
  125. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts”. GfK Entertainment (bằng tiếng Đức). offiziellecharts.de. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2017. 
  126. ^ “Los más vendidos 2016” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2017. 
  127. ^ “Top Selling Albums of 2016”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2016. 
  128. ^ “W 2016 roku najlepiej sprzedającym się albumem było "Życie po śmierci" O.S.T.R.” (bằng tiếng Ba Lan). bestsellery.zpav.pl. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017. 
  129. ^ “2016년 Album Chart” (bằng tiếng Triều Tiên). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017. 
  130. ^ “Schweizer Jahreshitparade Alben 2016 – hitparade.ch”. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  131. ^ “End of Year Album Chart Top 100 – 2016”. Official Charts Company. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  132. ^ “Top Billboard 200 Albums - Year-End 2016”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  133. ^ “Digital Albums Year End 2016”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  134. ^ “2016 Top Album Sales”. Billboard. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  135. ^ Copsey, Rob (4 tháng 7 năm 2016). “The UK's 60 official biggest selling albums of all time revealed”. Official Charts Company. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2016. 
  136. ^ “ARIA Australian Top 50 Albums”. Australian Recording Industry Association. 9 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  137. ^ “Austrian album certifications – Adele – 25” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016.  Nhập Adele vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập 25 vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  138. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2016”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2016. 
  139. ^ “Canada album certifications – Adele – 25”. Music Canada. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2015. 
  140. ^ Cross, Alan (3 tháng 5 năm 2016). “Adele's 25 Has Now Sold 1m Copies In Canada”. FYI Music. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016. 
  141. ^ “Denmark album certifications – Adele – 25”. IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2016. 
  142. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Adele; '25')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2015. 
  143. ^ “Adatbázis – Arany- és platinalemezek – 2016” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  144. ^ “Hello again – Adele back on top in Ireland”. Raidió Teilifís Éireann. 29 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016. 
  145. ^ “Italy album certifications – Adele – 25” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2016.  Chọn "2016" trong bảng chọn "Anno". Nhập "25" vào ô "Filtra". Chọn "Album e Compilation" dưới phần "Sezione".
  146. ^ “Certificaciones – Adele” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  147. ^ “New Zealand album certifications – Adele – 25”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017. 
  148. ^ “Poland album certifications – Adele – 25” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2015. 
  149. ^ “Spain album certifications – Adele – Hello” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2016.  Chọn lệnh album trong tab "All", chọn 2016 trong tab "Year". Chọn 22 trong tab "Semana". Nháy chuột vào nút "Search Charts".
  150. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Adele; '25')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  151. ^ “Britain album certifications – Adele – 25” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2016.  Chọn albums trong bảng chọn Format. Chọn Multi-Platinum trong nhóm lệnh Certification. Nhập 25 vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  152. ^ Jones, Alan (30 tháng 12 năm 2016). “Official Charts Analysis: Little Mix return to albums summit”. Music Week. Intent Media. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  153. ^ “American album certifications – Adele – 25” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  154. ^ Trust, Gary (12 tháng 1 năm 2017). “Hot 100 Chart Moves: James Arthur & Adele Hit the Top 40”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2017. 
  155. ^ McIntyre, Hugh (24 tháng 6 năm 2016). “Adele's '25' Is Now Available In Full On Streaming Platforms For The First Time”. Forbes. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2016. 
  156. ^ Some citations concerning the release of 25:
  157. ^ “25 [Japan Bonus Track] by Adele”. 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  158. ^ Adele – 25 at Hanteo
  159. ^ Adele – 25 at BeggarsChina-XL Recordings

Liên kết ngoàiSửa đổi