Mở trình đơn chính

A.S. Roma, tên đầy đủ là Associazione Sportiva Roma (Hiệp hội Thể thao Roma) là một đội bóng thủ đô của Ý, các biệt danh là Giallorossi (vàng-đỏ), La Magica, I Lupi, Capitolini. Hiện tại đang thi đấu tại Serie A. Trang phục truyền thống là màu mận chín với viền vàng, quần trắng và tất đen.

Roma
logo
Tên đầy đủAssociazione Sportiva Roma SpA
Biệt danhGiallorossi (vàng-đỏ),
La Magica (huyền diệu)
I Lupi (những con sói),
Capitolini
Thành lập22 tháng 7 năm 1927
Sân vận độngOlimpico,
Roma
Sức chứa70.634
Chủ tịchHoa Kỳ James Pallotta
Huấn luyện viênPaulo Fonseca
Giải đấuSerie A
2018-19Serie A, hạng 6
Sân nhà
Sân khách
Khác

Sân vận động chính hiện tại của đội bóng là Olimpico có sức chứa 72.700 người, là nơi thường xuyên diễn ra các trận đấu quan trọng của đội tuyển quốc gia Ý. Olympico cũng là sân nhà của câu lạc bộ cùng thành phố SS Lazio và trận đấu giữa hai đội thường là những trận derby căng thẳng.

Câu lạc bộ này thành lập vào năm 1927, muộn hơn kình địch SS Lazio 27 năm (SS Lazio thành lập năm 1900). Chức vô địch Scudetto lần đầu tiên họ giành được vào mùa giải 1941-1942.

Mục lục

Lịch sửSửa đổi

Associazione Sportiva Roma được thành lập vào mùa hè năm 1927 bởi Italo Foschi,[1] người đã khởi nguồn cho việc hợp nhất ba câu lạc bộ đã tồn tại ở Roma là: Roman, Alba-AudaceFortitudo.[1] Người mong muốn sự hợp nhất này là nhà độc tài Benito Mussolini, với mong muốn có một đội bóng mạnh ở thủ đô đủ để cạnh tranh với các câu lạc bộ miền Bắc Italia.[1] Chỉ một mình Lazio là câu lạc bộ lớn duy nhất ở Roma vẫn đứng độc lập vì đã có một vị thế nhất định tại thời điểm đó.[2]

Đội thi đấu những mùa bóng đầu tiên tại sân vận động Motovelodromo Appio,[3] trước khi chuyển về khu lao động Testaccio, thi đấu tại sân Campo Testaccio; với đặc điểm là khán đài hoàn toàn bằng gỗ được khánh thành vào tháng 11 năm 1929.[4] Lần đầu tiên Roma để lại dấu ấn của mình là tại mùa giải 1930–31, khi đội giành ngôi á quân và chỉ chịu đứng sau Juventus.[5] Đội trưởng Attilio Ferraris cùng Guido Masetti, Fulvio BernardiniRodolfo Volk là những trụ cột của Roma trong giai đoạn này.[6]

Chức vô địch đầu tiên rồi giai đoạn thoái tràoSửa đổi

A.S. Roma giành chức vô địch Serie A lần đầu tiên và một cách khá bất ngờ vào mùa giải 1941–42.[7] Đóng góp cho danh hiệu này phải kể đến 18 bàn thắng của tiền đạo Amedeo Amadei và sự chỉ đạo của huấn luyện viên Alfréd Schaffer. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Roma thi đấu tại sân vận động Stadio del Partito Nazionale Fascista.[8]

Trong những năm sau cuộc chiến, Roma đã không thể tìm lại vị thế của mình.[5] Đội xếp ở nửa dưới của bảng xếp hạng Serie A trong năm mùa giải liên tiếp, trước khi không tránh khỏi phải xuống chơi tại Serie B vào cuối mùa bóng 1950–51;[5][9] đây cũng là lần xuống hạng duy nhất của A.S. Roma. Dưới sự dẫn dắt của người sau này sẽ là huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Ý, Giuseppe Viani, đội ngay lập tức quay lại Serie A vào năm 1952.[10]

Các danh hiệu tiếp theo mà Roma danh được gồm 1960–61 Cúp các hội chợ liên thành phố (tiền thân của Cúp UEFA) vào năm 1960–61 sau khi đánh bại Birmingham City với tỉ số 4–2 ở chung kết.[11] Đội cũng giành Cúp quốc gia đầu tiên của mình vào năm 1963–64, sau khi vượt qua Torino với tỉ số 1–0 ở trận đấu cuối cùng.[12] Chiếc Cúp quốc gia thứ hai được mang về phòng truyển thống của đội vào năm 1968–69.[12]

Ba thập niên 1970-2000Sửa đổi

Trong suốt thập niên 1970, Roma hiếm khi xuất hiện ở nửa trên của bảng xếp hạng Serie A. Thành tích cao nhất mà đội đạt được là vị trí thứ ba tại giải năm 1974–75.[5] Các cầu thủ xuất sắc đầu quân cho đội tại giai đoạn này có hai tiền vệ Giancarlo De SistiFrancesco Rocca.

Roma đánh dấu sự trở lại đỉnh cao của mình bằng chức vô địch Coppa Italia năm 1979–80, họ đánh bại Torino ở trận chung kết năm đó sau loạt sút luân lưu.[12] Một năm sau đội giành ngôi á quân tại Seria đứng sau Juventus.[13] Dẫn dắt đội trong giai đoạn này là huấn luyện viên người Thụy Điển Nils Liedholm, người lúc đó sở hữu một đội hình gồm nhiều tài năng như Bruno Conti, Agostino Di Bartolomei, Roberto PruzzoFalcão.[14]

Chức vô địch scudetto thứ hai mà Roma đem về thủ đô là vào giải 1982–83, đúng 41 năm sau lần đầu tiên, toàn thành phố tổ chức ăn mừng lớn.[15] Mùa bóng tiếp theo, Roma kết thúc giải ở ngôi vị á quân[5] đồng thời đoạt Coppa Italia,[12] và lọt vào trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm đó.[16] Trong trận đấu đó, đội hòa Liverpool với tỉ số 1–1 trong giờ thi đấu chính thức, trước khi thất bại sau loạt sút luân lưu.[16] Đội tiếp tục giành ngôi á quân tại giải Seria A vào mùa bóng 1985–86[5] và một chiếc Coppa Italia khác nữa trong thập niên 1980 này trước Sampdoria.[12]

Trong thập niên 1990, thành tích của Roma có phần khiêm tốn hơn. Đội một lần nữa lọt vào chung kết một cúp châu Âu khi đối đầu với Inter Milan tại trận chung kết cúp UEFA năm 1991, Roma thất bại trong trận này với tỉ số 1-2 và đành ngậm ngùi giành ngôi á quân;[17] cùng năm đó đội giành được chiếc cúp Quốc gia thứ 7 của mình,[12] rồi dần thoái trào trong suốt thập kỷ với thành tích tốt nhất tại giải vô địch quốc gia chỉ là vị trí hạng tư tại mùa bóng 1997–98.[5]

Thiên niên kỷ mớiSửa đổi

Roma giành được chức vô địch Serie A thứ ba của mình vào mùa giải 2000–01; đội scudetto chỉ giành được danh hiệu này tại vòng đấu cuối cùng, khi đánh bại Parma với tỉ số 3–1 trên sân nhà, để hơn đội xếp thứ nhì là Juventus đúng hai điểm.[5] Đội trưởng của đội, Francesco Totti, là người góp công lớn cho danh hiệu lần này và có lẽ anh là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử của câu lạc bộ,[14]. Các cầu thủ quan trọng khác đóng góp cho thành công năm đó phải kể đến Aldair, Cafu, Gabriel BatistutaVincenzo Montella.[18]

Tại mùa giải năm sau, dù rất nỗ lực nhưng Roma đã không thể bảo vệ thành công danh hiệu của mình khi kém Juventus đúng một điểm vào cuối mùa bóng.[5] Đây là khởi đầu cho hàng loạt ngôi á quân mà câu lạc bộ giành được trong thập niên vừa qua.Từ khi huấn luyện viên Spalletti lên nắm đội năm 2005, ông đã biến AS Roma thành một trong những CLB có lối chơi tấn công quyến rũ vào bậc nhất châu Âu.Bất chấp việc không hề dư dả về tài chính như các đại gia của SeriA, AS Roma liên tiếp về nhì trong các mùa 05-06, 06-07, 07-08.Đội bóng đi vào lịch sử với 11 trận thắng liên tiếp ở SeriA mùa bóng 2005-06 trước khi bị Inter phá vỡ ở mùa bóng sau.CLB cũng vào đến tứ kết Champions League 2 năm liên tiếp 2006-07 và 2007-08, trước khi bị loại bởi Manchester United.

Mùa 2008-2009 được coi là thất bại với đội bóng bã trầu khi họ chỉ đứng thứ 6 và phải đá Europa League mùa 2009-2010.CLB vào đến vòng knock-out của Champions League và bị loại bởi Arsenal bằng loạt đá penalty.

Họ khởi đầu mùa bóng 2009-2010 một cách tồi tệ khi thua 2 trận đầu tiên và huấn luyện viên Spalletti đã từ chức.Thay ông là huấn luyện viên Ranieri.Sau khởi đầu chuệch choạc, đội bóng dần lấy lại sức mạnh và dần đạt mục tiêu trong top 3, khi mùa giải sắp kết thúc.

Mùa giải 2010-2011 cũng là một mùa bóng đáng thất vọng khác khi A.S. Roma chỉ về thứ 6 chung cuộc và xếp sau đại kình địch Lazio ở vị trí thứ 5. Ở Champions League, đội bóng bị loại bởi Shaktar Donetsk của Ukraina. Huấn luyện viên Claudio Ranieri bị sa thải và thay cho ông là Vicenzo Montella. Năm 2011, Roma có ông chủ mới người Mỹ là Di Benedetto.

Đội hình hiện tạiSửa đổi

Tính đến 02 tháng 6 năm 2019.[19]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1   TM Robin Olsen
2   HV Rick Karsdorp
3   HV Luca Pellegrini
4   TV Bryan Cristante
5   HV Juan Jesus
7   TV Lorenzo Pellegrini
8   Diego Perotti
9   Edin Džeko (đội phó)
11   HV Aleksandar Kolarov
13   HV Elio Capradossi
14   Patrik Schick
15   HV Iván Marcano
17   Cengiz Ünder
18   HV Davide Santon
19   TV Ante Ćorić
20   HV Federico Fazio
21   TV Maxime Gonalons
Số áo Vị trí Cầu thủ
22   TV Nicolò Zaniolo
23   Grégoire Defrel
24   HV Alessandro Florenzi (đội trưởng)
27   TV Javier Pastore
30   TV Gerson
34   Justin Kluivert
42   TV Steven Nzonzi
44   HV Kostas Manolas
48   Mirko Antonucci
63   TM Daniel Fuzato
83   TM Antonio Mirante
92   Stephan El Shaarawy
  HV Moustapha Seck
  Daniele Verde
  Edoardo Soleri
  Ezequiel Ponce
  Umar Sadiq

Số áo được vinh danhSửa đổi

6  Aldair, trung vệ, 1990–2003[14]

10 -   Francesco Totti 1992-2017

Các đời huấn luyện viên trưởngSửa đổi

 
Name Nationality Years
William Garbutt   1927–29
Guido Baccani   1929–30
Herbert Burgess   1930–32
Lászlo Barr   1932–33
Lajos Kovács   1933–34
Luigi Barbesino   1934–38
Guido Ara   1938–39
Alfréd Schaffer   1939–42
Géza Kertész   1942–43
Guido Masetti   1943–45
Giovanni Degni   1945–47
Imre Senkey   1947–48
Luigi Brunella   1948–49
Fulvio Bernardini   1949–50
Adolfo Baloncieri   1950
Pietro Serantoni   1950
Guido Masetti   1950–51
Giuseppe Viani   1951–53
Mario Varglien   1953–54
Jesse Carver   1954–56
György Sarosi   1956
Guido Masetti   1956–57
Alec Stock   1957–58
 
Name Nationality Years
Gunnar Nordahl   1958–59
György Sarosi   1959–60
Alfredo Foni   1960–61
Luis Carniglia   1961–63
Naim Kryeziu   1963
Alfredo Foni   1963–64
Luis Miró   1964–65
Juan Carlos Lorenzo   1965–66
Oronzo Pugliese   1966–68
Helenio Herrera   1968–70
Luciano Tessari   1970
Helenio Herrera   1971–72
Tonino Trebiciani   1972–73
Nils Liedholm   1974–77
Gustavo Giagnoni   1978–79
Ferruccio Valcareggi   1979–80
Nils Liedholm   1980–84
Sven-Göran Eriksson   1984–86
Angelo Sormani   1986–88
Nils Liedholm   1988
Luciano Spinosi   1988–89
Gigi Radice   1989–90
Ottavio Bianchi   1990–92
 
Name Nationality Years
Vujadin Boškov   1992–93
Carlo Mazzone   1993–96
Carlos Bianchi   1996
Nils Liedholm   1996
Ezio Sella   1996
Zdeněk Zeman   1997–99
Fabio Capello   1999–04
Cesare Prandelli   2004
Rudi Völler   2004
Luigi Delneri   2004–05
Bruno Conti   2005
Luciano Spalletti   2005–09
Claudio Ranieri   2009–11
Vincenzo Montella   2011
Luis Enrique   2011–12
Zdeněk Zeman   2012–13
Aurelio Andreazzoli   2013
Rudi Garcia   2013–16
Luciano Spalletti   2016–17
Eusebio Di Francesco   2017–19
Claudio Ranieri   2019
Paulo Fonseca   2019–Hiện tại

Chủ tịch Câu lạc bộSửa đổi

 
Các chủ tịch của AS Roma[20]

Màu áo, biểu trưng và biệt danhSửa đổi

Màu cờ truyền thống của A.S. Roma là sự kết hợp giữa hai màu đỏ hạt dẻmàu vàng kim loại, đây cũng là màu truyền thống của thành phố Vĩnh cửu Roma.[21] Màu vàng tượng trưng cho Đức chúa trong đạo Thiên chúa giáo La Mã,[22] còn màu hạt dẻ tượng trưng cho quyền lực của các Hoàng đế La Mã.[23] Đội thường mặc áo màu hạt dẻ với quần trắng và tất đen, nhưng trong các trận đấu quan trọng, đội thường chọn trang phục cùng một gam màu làm trang phục thi đấu chính.[24]

Màu áo truyền thống của A.S. Roma trùng với màu áo của Roman Football Club; một trong ba câu lạc bộ đã được sáp nhập vào năm 1927 để tạo thành đội bóng Roma ngày nay.[25] Vì màu áo của mình, đội bóng cũng thường được gọi là i giallorossi có nghĩa là vàng-đỏ.[26] Trang phục phụ của Roma thường là màu trắng, còn trang phục thứ ba thay đổi theo thời gian.

Một biệt danh khác có phần dân dã hơi của đội là i lupi (những con sói), con vật luôn có mặt trên biểu trưng của câu lạc bộ dù nó được thay đổi tương đối nhiều lần trong lịch sử. Hiện nay biểu trưng của câu lạc bộ tương đối giống biểu trưng mà đội sử dụng khi mới thành lập. Gồm hình ảnh một con sói cái cho hai đứa trẻ bú (Romulus và Remus), thể hiện truyền thuyết về sự thành lập thành Roma,[27].[28]

Theo truyền thuyết, hai anh em sinh đôi Romulus và Remus (con trai của thần MarsRhea Silvia) đã bị quảng xuống sông Tiber bởi người chú của họ, Amulius. Hai anh em đã được một con sói cứu sống và mang về chăm sóc.[27] Về sau, hai người trả thù được với Amulius, trước khi quay lại tranh chấp với nhau; Romulus giết chết Remus, và trở thành vua của thành phố được thành lập mang tên ông, Roma.[27]

Một số biểu trưng trong lịch sửSửa đổi

Thành tíchSửa đổi

Danh hiệu cấp Quốc giaSửa đổi

 
Hình vẽ Francesco Totti trên tường để mừng chức vô địch Serie A 2000-01

  Serie A:

  Coppa Italia:

  Siêu cúp bóng đá Ý:

Serie B:

  • Vô địch (1): 1951-52

Danh hiệu quốc tếSửa đổi

UEFA Champions League:

Công ty Associazione Sportiva RomaSửa đổi

Năm 1999, khi Franco Sensi điều hanh câu lạc bộ, Associazione Sportiva Roma được cải tổ thành một công ty cổ phần. Hiện nay, cổ phiếu A.S. Roma được phân bổ như sau; 67,1% do Compagnia Italpetroli SpA (holding của gia đình Sensi) nắm giữ, 2,7% thuộc về Banca Monte dei Paschi di Siena SpA, 2,5% thuộc về Danilo Coppola và 27,7% do các cổ đông nhỏ khác nắm giữ.[29]

Cùng với LazioJuventus, i Lupi là một trong ba câu lạc bộ bóng đá Ý có cổ phiếu được giao dịch tại Borsa Italiana (trung tâm giao dịch chứng khoán Italia). Theo báo cáo The Football Money League của hãng kiểm toán Deloitte, tại mùa giải 2005–06, Roma là câu lạc bộ có thu nhập đứng thứ 12 trên thế giới với tổng thu nhập ước tính vào khoảng 127 triệu €.[30]

Ngày 17 tháng 8 năm 2008, chủ tịch và là người sở hữu câu lạc bộ Franco Sensi từ trần sau một thời gian dài mang trọng bệnh; con gái của ông, Rosella, thay cha mình lên nắm quyền điều hành A.S. Roma.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â “La Storia”. ASRoma.it. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  2. ^ “La storia laziale: da Luigi Bigiarelli ad oggi”. SSLazio2000.net. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  3. ^ “A.S. Roma”. AlbionRoad.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ “Campo Testaccio”. Viva la Roma. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  5. ^ a ă â b c d đ e ê Modena, Panini Edizioni (2005). Almanacco Illustrato del Calcio - La Storia 1898-2004.
  6. ^ “Attilio Ferraris”. Viva la Roma. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  7. ^ “Campionato 1941-42 - Roma campione d'Italia”. ASRTalenti. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  8. ^ “I Campi da Gioco”. ASRomaUltras.it. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  9. ^ “Italy 1951-52 - Serie B”. RSSSF.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  10. ^ “Gli Allenatori dell'A.S. Roma dal 1927 al Oggi”. Viva la Roma. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  11. ^ “Inter-Cities Fairs Cup 1960-61”. RSSSF.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  12. ^ a ă â b c d “TIM Cup - Coppa Italia”. Vilacom Sport. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  13. ^ “Roma - Juventus: A Historical Look”. Goal.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  14. ^ a ă â “A.S. Roma Legends”. LaRoma-Online.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  15. ^ “Campionato Serie A - Albo D'oro”. Lega Calcio. Truy cập 2007. 
  16. ^ a ă “Season 1983-84”. European Cup History. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  17. ^ “Roma - Inter: A Historical Look”. Goal.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  18. ^ “A.S. Roma 2000-2001”. Italica RAI. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  19. ^ “Players and Staff”. A.S. Roma. 8 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2018. 
  20. ^ “I presidenti dell'A.S. Roma dall 1927 ad oggi”. Viva la Roma. Ngày 8 tháng 6 năm 2007. 
  21. ^ “Stemma Comune di Roma”. Comuni-Italiani. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  22. ^ “The Great Household of God”. New Foundations. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  23. ^ “A.S. Roma”. 123football.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  24. ^ “Roma - Lazio: February 2006”. ViewImages.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  25. ^ “Il Roman - La storia (tratta da "La Roma")”. ASRomaUltras.it. 2007-06024.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  26. ^ “A.S. Roma”. Football In Italy. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  27. ^ a ă â “The Legend of Romulus and Remus”. Museums.ncl.ac.uk. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  28. ^ “Roma”. BrandsoftheWorld.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2007. 
  29. ^ “A.S. Roma SpA Ownership”. Consob. Ngày 8 tháng 6 năm 2007. 
  30. ^ “Real Madrid stays at the top”. Deloitte UK. Ngày 8 tháng 6 năm 2007. 

Liên kết ngoàiSửa đổi