Họ Cá mòi đường

(đổi hướng từ Albuliformes)

Họ Cá mòi đường (Albulidae) là một họ thường được câu thể thaoFlorida, Bahamas và một số khu vực ở Nam Thái Bình Dương. Đây là một họ nhỏ, với 11 loài trong 3 chi.[2] Hiện họ Cá mòi đường nằm trong bộ riêng: Albuliformes. Hai họ HalosauridaeNotacanthidae trước đây từng được đặt trong bộ này,[5] nhưng nay, theo FishBase, đã chuyển sang bộ Notacanthiformes.[6] Con cá mòi đường lớn nhất từng bắt được ở Tây Bán Cầu nặng 7,34 kg ngoài khơi Islamorada, Florida, vào ngày 19 tháng 3 năm 2007.[7]

Họ Cá mòi đường
Thời điểm hóa thạch: Kimmeridgian–0
Cuối Jura đến nay[1]
Bonefish Albula vulpes.jpg
Albula vulpes
Pterothrissus gissu1.jpg
Pterothrissus gissu
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Liên bộ (superordo)Elopomorpha
Bộ (ordo)Albuliformes
Greenwood, 1977
Họ (familia)Albulidae
Bleeker, 1859
Chi
Danh pháp đồng nghĩa[3][4]
  • Albulae Bleeker 1849
  • Butirini Bleeker 1851
  • Lemniscati Poey 1867
  • Bathythrissidae Günther 1877
  • Pterothrissidae Gill 1893
  • Conorhynchidae Gill 1861

Mô tảSửa đổi

Họ hàng gần nhất còn sinh tồn của họ Cá mòi đường là cá cháo biển và cá cháo lớn trong bộ Elopiformes. Khác với cá cháo lớn, mỏ cá mòi đường nằm dưới mỏm. Cá mòi đường có thể thở không khí nhờ vào bong bóng chuyên biệt hoá và sống ở cả vùng nước lợ. Ấu trùng cá mòi đường là leptocephalus.

Cơ thể các loài Abula màu bạc với mặt lưng ánh xanh. Ở nửa trên cơ thể có sọc tối màu. Mỏm dài, hơi chúc xuống. Vây lưng và vây đuôi màu đen. Chiều dài ở cá trưởng thành là 40–100 cm, tuỳ vào loài. Cân nặng trung bình là 1–2 kg với mẫu vật kỷ lục nặng 7,34 kg.[7]

Các loài cá mòi đường trong chi Abula là cá nước lợ-nước mặn thường sống ở vùng cửa sông, bơi ra biển để sinh đẻ. Chúng kiếm ăn ở nơi nước nông đáy cát hay bùn, tiêu thụ sinh vật đáy chẳng hạn như giun, thân mềm, tôm, cua. Nó dùng cái mỏm hình nón kéo mồi khỏi đáy, đôi lúc người ta thấy đuôi chúng trồi lên trên mặt nước.

Hai chi NemoossisPterothrissus tương tự Albula, nhưng sống ở vùng nước sâu hơn.

Phân loạiSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Werner Schwarzhans (2018). “A review of Jurassic and Early Cretaceous otoliths and the development of early morphological diversity in otoliths”. Neues Jahrbuch für Geologie und Paläontologie - Abhandlungen. 287 (1): 75–121. doi:10.1127/njgpa/2018/0707.
  2. ^ a ă Hidaka, K., Tsukamoto, Y. & Iwatsuki, Y. (2016): Nemoossis, a new genus for the eastern Atlantic long-fin bonefish Pterothrissus belloci Cadenat 1937 and a redescription of P. gissu Hilgendorf 1877 from the northwestern Pacific. Ichthyological Research, 64 (1): 45–53.
  3. ^ Van Der Laan, Richard; Eschmeyer, William N.; Fricke, Ronald (ngày 11 tháng 11 năm 2014). “Family-group names of Recent fishes”. Zootaxa. 3882 (1): 1–230. doi:10.11646/zootaxa.3882.1.1. PMID 25543675.
  4. ^ Bản mẫu:Chú thích website
  5. ^ a ă Haaramo, Mikko (2007). Albuloidei. Mikko's Phylogeny Archive. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  6. ^ "Notacanthiformes". FishBase. Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Phiên bản October năm 2016. N.p.: FishBase, 2016.
  7. ^ a ă DiMaura, P. (2007). “Huge Bonefish Caught in Florida Keys Weighs in at 16 Pounds, 3 Ounces; World Record Pending”. The Florida Keys and Key West. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2016.
  8. ^ Nelson, Joseph S.; Grande, Terry C.; Wilson, Mark V. H. (2016). Fishes of the World (ấn bản 5). John Wiley & Sons. ISBN 9781118342336.
  9. ^ van der Laan, Richard (2016). Family-group names of fossil fishes. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)