Alfred Hitchcock

đạo diễn và nhà sản xuất điện ảnh người Anh (1899-1980)

Sir Alfred Joseph Hitchcock KBE (13 tháng 8 năm 1899 – 29 tháng 4 năm 1980) là một đạo diễn, nhà biên kịch và nhà sản xuất phim người Anh. Ông là một trong những nhà làm phim có ảnh hưởng và được nghiên cứu nhiều nhất lịch sử điện ảnh.[1] Với biệt hiệu "Bậc thầy dòng phim hồi hộp", ông đã đạo diễn hơn 50 bộ phim điện ảnh[a] trong sự nghiệp trải dài sáu thập kỷ, trở nên nổi tiếng không kém bất cứ diễn viên nào nhờ tham gia nhiều buổi phỏng vấn, các vai khách mời trong hầu hết phim của mình, và chủ trì kiêm sản xuất chương trình truyền hình tuyển tập Alfred Hitchcock Presents (1955–65). Các bộ phim của ông đã thu về 46 đề cử giải Oscar cùng 6 chiến thắng, song ông chưa bao giờ giành giải Đạo diễn xuất sắc mặc cho có tới 5 đề cử. Năm 1955, Hitchcock trở thành công dân Hoa Kỳ.


Alfred Hitchcock

Hitchcock, Alfred 02.jpg
SinhAlfred Joseph Hitchcock
(1899-08-13)13 tháng 8 năm 1899
Leytonstone, Essex, Anh
Mất29 tháng 4 năm 1980(1980-04-29) (80 tuổi)
Bel Air, California, Hoa Kỳ
Tư cách công dânLiên hiệp Anh
Mỹ (từ 1955)
Học vịCao đẳng Salesian, Battersea
Trường lớpĐại học St Ignatius, Luân Đôn
Nghề nghiệp
  • Đạo diễn phim
  • Nhà dựng phim
  • Nhà sản xuất phim
  • Nhà biên kịch
  • Diễn viên
Năm hoạt động1919–1980
Phối ngẫu
Alma Reville (cưới 1926)
Con cáiPatricia Hitchcock
Giải thưởngDanh sách giải thưởng và đề cử của Alfred Hitchcock
Trang webalfredhitchcock.com Sửa đổi này tại Wikidata
Chữ ký
Alfred Hitchcock Signature.svg

Sinh ra ở Leytonstone, Luân Đôn, Hitchcock bước vào ngành công nghiệp điện ảnh vào năm 1919 dưới công việc thiết kế bảng nội đề sau khi được đào tạo làm thư ký kĩ thuật và người viết quảng cáo cho một công ty điện báo cáp. Ông có tác phẩm đạo diễn đầu tay với bộ phim câm The Pleasure Garden (1925) của Anh–Đức. Bộ phim thành công đầu tiên của ông, The Lodger: A Story of the London Fog (1927) đã giúp định hình thể loại giật gân, còn bộ phim công chiếu năm 1929 của ông, Blackmail là "phim nói" đầu tiên của Anh.[4] Hai trong số những tác phẩm giật gân của ông ở thập niên 1930, The 39 Steps (1935) và The Lady Vanishes (1938) nằm trong danh sách những phim Anh xuất sắc nhất của thế kỉ 20.

Đến năm 1939, Hitchcock đã là một nhà làm phim có tiếng nói quốc tế, để rồi nhà sản xuất điện ảnh David O. Selznick thuyết phục ông chuyển tới Hollywood. Từ đây hàng loạt bộ phim thành công của ông đã ra đời như Rebecca (1940), Foreign Correspondent (1940), Suspicion (1941), Shadow of a Doubt (1943) và Notorious (1946). Rebecca đã thắng giải Oscar cho phim hay nhất, song bản thân Hitchcock chỉ được đề cử Đạo diễn xuất sắc nhất;[5] ông còn được đề cử cho các phim Lifeboat (1944) và Spellbound (1945).

Phong cách làm phim của Hitchcock gồm có sử dụng chuyển động của máy quay để bắt chước ánh nhìn của một người, từ đó biến khán giả thành những thị dâm, và chỉnh khung hình để đạt cảnh giới lo lắng và sợ hãi tột độ. Nhà phê bình điện ảnh Robin Wood viết rằng ý nghĩa đằng sau một bộ phim của Hitchcock "là nằm ở phương pháp, phát triển từ góc máy này sang góc máy kia. Một phim của Hitchcock là một tổ chức, toàn bộ ngụ ý nằm trong từng chi tiết và mỗi chi tiết lại liên quan đến tổng thể."[6] Hitchcock làm nhiều bộ phim với một số ngôi sao điện ảnh lớn nhất Hollywood, trong đó có 4 phim với Cary Grant ở các thập niên 1940 và 50, ba phim với Ingrid Bergman ở nửa sau thập niên 1940, 4 phim với James Stewart trong hơn 10 năm bắt đầu từ năm 1948, và ba phim với Grace Kelly ở giữa thập niên 1950.

Sau một thời gian ngắn tạm lắng thành công thương mại ở cuối thập niên 1940, Hitchcock lấy lại phong độ với Strangers on a Train (1951) và Dial M For Murder (1954). Từ năm 1954 đến 1960, Hitchcock đã đạo diễn 4 bộ phim thường được xếp vào hàng ngũ hay nhất mọi thời đại: Rear Window (1954), Vertigo (1958), North by Northwest (1959) và Psycho (1960) - phim cuối cùng đem về cho ông đề cử Đạo diễn xuất sắc nhất.[7] Năm 2012, tác phẩm giật gân Vertigo của ông với sự góp mặt của Stewart, đã soán ngôi Công dân Kane (1941) của Orson Welles để trở thành phim điện ảnh hay nhất mọi thời đại của Viện phim Anh, dựa trên cuộc bầu chọn của hàng trăm nhà phê bình điện ảnh khắp thế giới.[8] Tính đến năm 2018, 8 phim của ông đã được lựa chọn bảo tồn tại Viện lưu trữ phim quốc gia Hoa Kỳ,[b] trong đó gồm The Birds (1963) và tác phẩm yêu thích của ông là Shadow of a Doubt (1943).[c] Ông nhận giải BAFTA Fellowship năm 1971, giải Thành tựu trọn đời của Viện phim Mỹ năm 1979 và được phong tước Hiệp sĩ vào tháng 12 cùng năm, ở thời điểm 4 tháng trước khi ông mất.[11]

Cuộc đờiSửa đổi

Những năm tháng đầu đời: 1899–1919Sửa đổi

Tuổi thơ và giáo dụcSửa đổi

 
William Hitchcock, có thể là với cậu con trai đầu lòng của mình, William, bên ngoài cửa hàng tạp hóa của gia đình ở London khoảng năm 1900; biển hiệu phía trên cửa hàng ghi "W. Hitchcock". Gia đình Hitchcock đã sử dụng ngựa để giao hàng.

Hitchcock sinh ngày 13 tháng 8 năm 1899 trong căn hộ cho thuê nằm phía trên cửa hàng tạp hóa của gia đình ông, số 517 High Road, Leytonstone, vùng ngoại ô Đông Luân Đôn (lúc ấy còn là một bộ phận của Essex); ông là con út trong ba người con: William Daniel (1890–1943), Ellen Kathleen ("Nellie") (1892–1979) và Alfred Joseph (1899-1980). Cha mẹ ông, bà Emma Jane Hitchcock (nhũ danh Whelan; 1863–1942) và ông William Edgar Hitchcock (1862–1914) đêu là tín đồ Công giáo La Mã, có một phần gốc gác từ Ireland;[12][13] William theo cha làm nghề bán trái cây.[14]

Ngoài ra ông còn có một đại gia đình lớn, trong đó người chú John Hitchcock sở hữu căn nhà Victoria 5 giường ngủ ở Đường Campion, Putney, cùng sự phục vụ của người giúp việc, đầu bếp, tài xế riêng và thợ làm vườn. Mỗi mùa hè John thuê cho gia đình một căn nhà bên bờ biển ở Cliftonville, Kent. Hitchcock cho biết ông lần đầu nhận thức về gia cấp tại đây, nhìn rõ những khác biệt giữa khách du lịch và người dân địa phương.[15]

Tự miêu tả mình là một cậu nhóc ngoan ngoãn (cha ông còn đặt biệt danh cho con mình là "chú cừu nhỏ không có lấy một vết nhơ"), Hitchcock nói rằng ông chẳng thể nhớ nổi có một người bạn chơi thuở bé.[16] Một trong những câu chuyện yêu thích của ông mỗi dịp phỏng vấn là về chuyện cha gửi ông tới đồn cảnh sát với một mẩu giấy khi ông 5 tuổi; cảnh sát đọc mẩu giấy và nhốt ông trong xà lim trong ít phút, họ nói với ông: "Đây là những gì bọn chú làm với những cậu nhóc hư." Trải nghiệm ấy đã để lại cho ông nỗi sợ thường trực với cảnh sát; năm 1973 ông nói với Tom Snyder rằng ông "sợ bất cứ điều gì ... dính dáng đến luật pháp" và thậm chí sẽ không lái xe trong trường hợp bị dính vé phạt.[17]

Năm lên 6 tuổi, gia đình ông chuyển đến quận Limehouse và thuê hai cửa hàng ở số 130 và 175 đường Salmon Lane, ở hai cửa hàng này họ lần lượt bán món cá và khoai tây và buôn cá; họ sống trong căn hộ đầu tiên.[18] Hitchcock tới trường học đầu tiên, Tu viện Howrah ở Poplar, nơi ông nhập học vào năm 1907, tức lúc 7 tuổi.[19] Theo cây viết tiểu sử Patrick McGilligan, ông ở Nhà Howrah trong hai năm. Ông còn theo học một trường tu viện nữa là Trường phố Wode "dành cho con gái của các quý ông và những cậu bé", do viện Cơ đốc giáo Faithful Companions of Jesus điều hành. TIếp đó ông theo học một trường tiểu học gần nhà và đi học nội trú ở Cao đẳng Salesian tại Battersea trong một thời gian ngắn.[20]

Henley'sSửa đổi

Hitchcock nói với cha mẹ rằng ông muốn làm kỹ sư,[21] rồi ngày 25 tháng 7 năm 1913,[22]ông rời St Ignatius và theo học các lớp học đêm của Trường kĩ thuật và hàng hải thuộc Hội đồng quận Luân Đôn ở Poplar. Trong một cuộc phỏng vấn dài qua sách vào năm 1962, ông nói với François Truffaut rằng ông theo học các ngành "cơ học, điện, âm học và hàng hải".[21] Ngày 12 tháng 12 năm 1914, cha ông vốn là người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và bệnh thận, đã từ trần ở tuổi 52.[23] Nhằm trang trải cho bản thân và mẹ (lúc bấy giờ anh chị của ông đã rời nhà), Hitchcock nhận công việc thư ký kĩ thuật với mức lương 15 shillings một tuần (£6.605 vào năm 2017),[24] tại Công ty cáp và điện báo Henley ở Phố Blomfield gần Bức tường Luân Đôn.[25] Ông tiếp tục theo đi các lớp học đêm, lần này là theo chuyên ngành lịch sử nghệ thuật, hội họa, kinh tế và khoa học chính trị.[26] Anh trai ông là người điều hành các cửa hàng của gia đình, còn ông và mẹ thì tiếp tục sống tại Salmon Lane.[27]

Hitchcock quá nhỏ để nhập ngũ khi Thế chiến thứ nhất bắt đầu vào tháng 7 năm 1914; cho đến lúc ông tròn 18 tuổi vào năm 1917, ông nhận được một tấm bằng phân loại C3 ("không mắc bệnh cơ quan nghiên trọng, có thể chấp hành các điều kiện dịch vụ đồn trú tại gia ... chỉ phù hợp với công việc ngồi một chỗ").[28] Ông gia nhập trung đoàn học viên của lớp huấn luyện quân sự Royal Engineers và tham gia các buổi hướng dẫn chiến thuật, tập trận và thực hành cuối tuần. John Russell Taylor viết rằng, trong một buổi thực hành ở Hyde Park, Hitchcock bị bắt phải đeo xà cạp. Ông không thể quần chúng thành thạo quanh chân mình, và chúng liên tục rớt xuống mắt cá chân của ông.[29]

Sau chiến tranh, Hitchcock hứng thú với nghề viết lách sáng tạo. Tháng 6 năm 1919 ông trở thành cây viết sáng lập và giám đốc kinh doanh chi nhánh ấn phẩm nội bộ của Henley là The Henley Telegraph (sáu xu cho một bản), ông đã nộp nhiều truyện ngắn cho ấn phẩm này.[30][d] Henley's đã thăng chức cho ông vào bộ phận quảng cáo, nơi ông viết đề tài và vẽ minh họa cho các quảng cáo điện cáp. Ông rất yêu công việc và nán lại muộn tại văn phòng để kiểm tra các bằng chứng; ông nói với Truffaut rằng đây là "bước tiến đầu tiên vào điện ảnh của mình".[21][38] Ông rất thích xem phim, đặc biệt là điện ảnh Mỹ, từ năm 16 tuổi ông đã đọc tạp chí thương mại; ông xem các tác phẩm của Charlie Chaplin, D. W. GriffithBuster Keaton, đặc biệt thích phim Der müde Tod (1921) của Fritz Lang.[21]

Sự nghiệp giữa hai cuộc Thế chiến: 1919–1939Sửa đổi

Famous Players-LaskySửa đổi

 
Hitchcock (phải) trong lúc làm phim Number 13 ở Luân Đôn

Từ lúc còn ở Henley's, ông đã đọc tạp chí trên một tạp chí thương mại rằng Famous Players-Lasky, chi nhánh sản xuất của Paramount Pictures đang mở một xưởng phim ở Luân Đôn.[39] Họ đang lên kế hoạch ghi hình phim The Sorrows of Satan của Marie Corelli, sthế nên ông đã vẽ một vài bức họa cho bảng nội đề và gửi chúng tới xưởng phim.[40] Họ đồng ý nhận thuê ông và vào năm 1919, ông bắt đầu làm việc cho Islington Studios ở Phố Poole, Hoxton dưới vai trò nhà thiết kế bảng nội đề.[39]

Donald Spoto viết rằng phần lớn đội ngũ là người Mỹ với những đặc tính công việc khắt khe, nhưng những nhân công người Anh lại được khuyến khích thử sức bất kì thứ gì, tức là Hitchcock đã tích lũy kinh nghiệm ở các vai trò đồng biên kịch, chỉ đạo nghệ thuật và quản lý sản xuất trong ít nhất 18 phim câm.[41] Tháng 2 năm 1922, The Times viết một bài về "bộ phận làm bảng nội đề nghệ thuật đặc biệt dưới quyền giám sát của Ngài A. J. Hitchcock" của xưởng phim.[42] Những tác phẩm của ông gồm có Number 13 (1922), còn có tựa là Mrs. Peabody; phim đã bị ngừng chiếu bởi các vấn đề tài chính—một ít cảnh đã quay xong lại bị mất[43]—và Always Tell Your Wife (1923) – phim mà ông và Seymour Hicks hoàn thành cùng nhau khi mà Hicks có ý định bỏ dở giữa chừng.[39] Sau này Hicks ghi chép về việc được giúp đỡ bởi "một cậu thanh niên mập đang phụ trách quản lý phòng tài sản ... [k]hông một ai ngoài Alfred Hitchcock".[44]

Gainsborough Pictures và làm việc ở ĐứcSửa đổi

 
Tượng điêu khắc Hitchcock đặt ở Gainsborough Pictures, Phố Poole, Hoxton[45]

Khi Paramount rút khỏi Luân Đôn vào năm 1922, Hitchcock được một công ty thuê làm trợ lý giám đốc tại chính địa bàn này bởi Michael Balcon, sau này còn có tên là Gainsborough Pictures.[39][46] Hitchcock làm việc trong phim Woman to Woman (1923) cùng đạo diễn Graham Cutts, ông thiết kế hiện trường, viết kịch bản và sản xuất. Ông cho biết: "Đây là phim đầu tiên mà tôi thật sự phải nhúng tay vào."[46] Người dựng phim kiêm "nữ biên kịch" của Woman to WomanAlma Reville, vợ tương lai của ông. Ông còn làm trợ lý cho Cutts trong các phim The White Shadow (1924), The Passionate Adventure (1924), The Blackguard (1925) và The Prude's Fall (1925).[47] The Blackguard được sản xuất tại Babelsberg Studios ở Potsdam, nơi Hitchcock theo dõi một bộ phận quá trình làm phim The Last Laugh (1924) của F. W. Murnau.[48] Ông rất ấn tượng với cách làm phim của Murnau và sau này sử dụng kĩ thuật Murnau trong khâu thiết kế hiện trường ở những tác phẩm của mình.[49]

Mùa hè 1925, Balcon đề nghị Hitchcock làm đạo diễn The Pleasure Garden (1925), với sự tham gia diễn xuất của Virginia Valli; đây là thành phẩm hợp tác giữa Gainsborough và công ty Emelka của Đức tại Geiselgasteig studio gần Munich. Hôn thê của Hitchcok lúc ấy, bà Reville là trợ lý đạo diễn kiêm nhà dựng phim.[50][43] Mặc dù phim thất bại về mặt thương mại,[51] Balcon lại thích tác phẩm của Hitchcock; một dòng tít trên tờ Daily Express ví ông là "Thanh niên trẻ sở hữu một trí óc bậc thầy".[52] Quá trình sản xuất phim The Pleasure Garden gặp nhiều trục trực, làm cho Hitchcock phải rút ra bài học về sau: trên đường đến Brenner Pass, ông không khai báo thước phim cho hải quan và nó bị tịch thu; một nữ diễn viên không thể xuống nước để diễn vì cô đang đến kì; kinh phí bội lên làm ông phải vay tiền từ các diễn viên.[53] Hitchcock còn cần một phiên dịch để hướng dẫn cho dàn diễn viên và đoàn làm phim.[53]

Tại Đức, Hitchcock quan sát những sắc thái trong lối làm phim và điện ảnh Đức – chúng có tác động lớn đến ông.[54] Khi rảnh không làm việc, ông ghé thăm các phòng trưng bày nghệ thuật, buổi hòa nhạc và bảo tàng của Berlin. Ông còn gặp gỡ các diễn viên, nhà văn và nhà sản xuất để xây dựng quan hệ.[55] Balcon mời ông đạo diễn phim thứ hai ở Munich là The Mountain Eagle (1926), dựa trên nguyên tác có nhan đề Fear o' God.[56] Bộ phim bị thất lạc và Hitchcock gọi tác phẩm là "một bộ phim cực kỳ tệ".[52][57] Một năm sau, Hitchcock viết kịch bản kiêm đạo diễn phim The Ring; mặc dù kịch bản ghi công mỗi tên ông, Elliot Stannard là người đã hỗ trợ ông trong lúc xây dựng kịch bản.[58] The Ring thu được những nhận xét tích cực; tạp chí phê bình Bioscope gọi đây là "phim Anh tráng lệ nhất từng được làm ra".[59]

Hôn nhânSửa đổi

Hình ảnh
  Nhà Hitchcock trong ngày tổ chức đám cưới, Brompton Oratory, 2 tháng 12 năm 1926.

Ngày 2 tháng 12 năm 1926, Hitchcock kết hôn với nhà biên kịch người Anh-Mỹ Alma Reville (1899–1982) tại Nhà thờ BromptonNam Kensington.[60] Cặp đôi đi hưởng tuần trăng mật ở Paris, Hồ Como và St. Moritz, trước khi trở về Luân Đôn sống chung trong hai tầng trên cùng của căn hộ cho thuê ở số 153 Đường Cromwell, Kensington.[61] Reville sinh ra chỉ ít giờ sau Hitchcock,[62] và đã cải đạo Tin Lành sang Công giáo, dường như là bởi sự nài nỉ của mẹ Hitchcock; bà được rửa tội vào ngày 31 tháng 5 năm 1927 và làm lễ tại Nhà thờ lớn Westminster bởi Hồng y Francis Bourne vào ngày 5 tháng 6.[63]

Năm 1928, khi biết tin Reville mang bầu, nhà Hitchcock đã một trang trại Tudor tên là "Winter's Grace" rộng 11 mẫu Anh trên Hẻm Stroud, Shamley Green, Surrey với giá 2.500 bảng Anh.[64] Đứa con gái và con độc của họ, Patricia Alma Hitchcock, chào đời vào ngày 7 tháng 7 năm đó.[65]

Reville trở thành người cộng sự thân thiết nhất của chồng mình; Charles Champlin từng viết vào năm 1982: "Xúc giác của Hitchcock có 4 cái thì hai cái là của Alma."[66] Khi Hitchcock nhận giải Thành tựu trọn đời của Viện phim Mỹ vào năm 1979, ông phát biểu rằng muốn nhắc đến "4 người đã dành cho tôi tình cảm, sự trân trọng và động viên nhất cùng sự hợp tác vững bền. Người đầu tiên trong 4 người là nhà dựng phim, người thứ hai là biên kịch, người thứ ba là mẹ của con gái tôi tên Pat, và người thứ tư là đầu bếp từng thể hiện những phép màu trong căn bếp của gia đình. Và tên của 4 người họ là Alma Reville."[67] Reville là người chắp bút hoặc đồng chắp bút kịch bản trong nhiều phim của Hitchcock, chẳng hạn như Shadow of a Doubt, SuspicionThe 39 Steps.

Những bộ phim nói đầu tiênSửa đổi

Hitchcock bắt đầu thực hiện dự án phim thứ 10 là Blackmail (1929), khi công ty sản xuất phim là British International Pictures (BIP) chuyển hoạt động từ xưởng phim Elstree sang làm phim có tiếng. Đây là bộ "phim nói" đầu tiên của Anh; từ đó làm phát triển mạnh việc ra đời các bộ phim nói ở Mỹ, từ sử dụng những đoạn âm thanh ngắn trong The Jazz Singer (1927) cho tới bộ phim dài đầu tiên nói từ đầu tới cuối The Lights of New York (1928).[4] Blackmail mở đầu cho thói quen sử dụng các địa danh nổi tiếng làm bối cảnh cho những phân cảnh hồi hộp của Hitchcock, với đoạn cao trào diễn ra trên mái vòm Bảo tàng Anh. Phim còn có một trong những lần xuất hiện khách mời lâu nhất của ông, cụ thể trong phim ông bị một cậu bé con làm phiền khi đang đọc sách trên tàu điện ngầm Luân Đôn.[68] Trong chương trình The Men Who Made The Movies của PBS, Hitchcock giải thích cách ông sử dụng bản thu tiếng đầu tiên làm chất liệu đặc biệt của phim, nhấn mạnh từ "con dao" trong cuộc đối thoại với người phụ nữ bị tình nghi là sát nhân.[69] Trong thời gian này, Hitchcock chỉ đạo các đoạn thuộc vở kịch thời sự Elstree Calling (1930) của BIP và đạo diễn phim ngắn An Elastic Affair (1930), có sự tham gia của hai quán quân học bổng Film Weekly.[70] An Elastic Affair là một trong những tác phẩm bị thất lạc.[71]

Năm 1933, Hitchcock ký hợp đồng làm nhiều phim với Gaumont-British và một lần nữa làm việc dưới trướng Michael Balcon.[72][73] Bộ phim đầu tiên của ông cho công ty mới là The Man Who Knew Too Much (1934) đã gặt hái thành công; phim thứ hai The 39 Steps (1935) được khen ngợi ở Anh và giúp ông được công nhận ở Mỹ. Phim còn cho ra đời "nàng tóc vàng của Hitchcock" (Madeleine Carroll) tinh hoa của người Anh – hình mẫu cho sự kế thừa những cô nàng vừa lạnh lùng vừa thanh lịch của ông. Nhà biên kịch Robert Towne nhận xét: "Không quá lời khi nói rằng tất cả sự giải trí thoát ly thực tế đương đại khởi đầu bằng The 39 Steps".[74] Phim này là một trong những tác phẩm đầu tiên giới thiệu chi tiết dẫn dắt cốt truyện "MacGuffin", thuật ngữ do nhà biên kịch người Anh Angus MacPhail nghĩ ra.[75] MacGuffin là một món đồ hoặc mục tiêu mà nhân vật chính theo đuổi, mặc khác nó không hề có giá trị dẫn truyện; trong The 39 Steps, MacGuffin là tập hợp các bản thiết kế bị đánh cắp.[76]

Những năm đầu ở Hollywood: 1939–1945Sửa đổi

Hợp đồng của SelznickSửa đổi

Selznick đã ký với Hitchcock bản hợp đồng có thời hạn 7 năm bắt đầu vào tháng 4 năm 1939,[77] rồi nhà Hitchcock chuyển đến Hollywood.[78] Nhà Hitchcock sống trong một căn hộ rộng lớn nằm trên Đại lộ Wilshire và dần dấn thích nghi với cuộc sống ở Los Angeles. Ông cùng vợ Alma đều kín tiếng và không hào hứng với việc tham dự các bữa tiệc hoặc trở thành người nổi tiếng.[79] Hitchcock đã khám phá sở thích những món ăn hảo hạng ở Tây Hollywood, nhưng vẫn duy trì lối sống của mình từ Anh.[80] Ông ấn tượng với văn hóa làm phim, kinh phí khổng lồ và năng suất của Hollywood,[80] đem so sánh chúng với những hạn chế mà ông thường phải đối mặt ở Anh.[81] Tháng 6 năm ấy, tạp chí Life ví ông là "bậc thầy kịch tâm lý xuất sắc nhất trong lịch sử màn ảnh".[82]

Mặc dù Hitchcock và Selznick dành sự tôn trọng lẫn nhau, nhưng các khâu sắp xếp công việc của họ đôi khi gặp trục trặc. Selznick liên tục dính phải những vấn đề tài chính, còn Hitchcock thường không vui khi Selznick kiểm soát và can thiệp sáng tạo trong những bộ phim của ông. Selznick cũng không hài lòng với phương pháp ghi hình chỉ những gì có trong kịch bản của Hitchcock mà không còn gì khác, tức là bộ phim không thể bị cắt và tái dựng theo cách khác về sau.[83] Giống như lời phàn nàn về cách "cắt ghép hình chết tiệt" của Hitchcock,[84] cá tính của hai người tỏ ra không hòa hợp: Hitchcock dè dặt còn Selznick thì lại khoa trương.[85] Sau cùng, Selznick hào phóng cho Hitchcock đi vay các xưởng phim lớn hơn.[86] Selznick chỉ làm một ít him mỗi năm, giống như nhà sản xuất phim độc lập đồng hương Samuel Goldwyn, vì thế không phải lúc nào ông cũng nắm trong tay các dự án để Hitchcock làm đạo diễn. Goldwyn cũng thỏa thuận với Hitchcock về một bản hợp đồng tiềm năng, chỉ để Selznick đưa ra cái giá hấp dẫn hơn để giữ Hitchcock. Trong một buổi phỏng vấn sau này, Hitchcock chia sẻ: "[Selznick] là một nhà sản xuất lớn. ... Nhà sản xuất là vua. Lời tâng bốc nhất mà Ngài Selznick từng nói về tôi—và nó cho bạn thấy ổng nắm quyền kiểm soát ra sao—ổng nói rằng tôi là 'đạo diễn duy nhất' mà ông ấy 'tin tưởng với một bộ phim'."[87]

Trailer của phim Rebecca (1940)

Hitchcock tiến cận với nền điện ảnh Mỹ một cách thận trọng; bộ phim Mỹ đầu tiên của ông lấy bối cảnh ở Anh, trong đó "chất Mỹ" của các nhân vật là ngẫu nhiên:[88] Rebecca (1940) lấy bối cảnh tại Cornwall – một phiên bản của Hollywood tại Anh và dựa trên một cuốn tiểu thuyết của tiểu thuyết gia người Anh Daphne du Maurier. Selznick nhất quyết muốn chuyển thể trung thành với tựa sách và không đồng ý với cách sử dụng yếu tố hài hước của Hitchcock.[89][90] Với sự tham gia diễn xuất của Laurence OlivierJoan Fontaine nói về một cô gái trẻ ngây thơ vô danh cưới một vị quý tộc góa vợ. Cô sống trong một căn biệt thự ở miền nông thôn nước Anh của chồng, và phải đấu tranh với danh tiếng còn sót lại của Rebecca – người vợ đầu thanh lịch và trần tục của ông, sau khi cô mất một cách bí ẩn. Tác phẩm đã giành Phim hay nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 13; tượng vàng được trao cho nhà sản xuất Selznick. Hitchcock thì nhận được đề cử Đạo diễn xuất sắc nhất đầu tiên, một trong số 5 đề cử của ông sau này.[5][91]

Những năm đầu thời chiếnSửa đổi

Tháng 9 năm 1940, nhà Hitchcock mua lại Trang trại Cornwall rộng 200 mẫu Anh (0,81 km2) gần Thung lũng Scotts, California, nằm trong dãy núi Santa Cruz.[92] Chỗ ở chính của họ là một căn nhà thiết kế theo kiểu Anh tại Bel Air, được mua vào năm 1942.[93] Những bộ phim của Hitchcock trong thời kỳ này rất đa dạng, từ tác phẩm hài lãng mạn Mr. & Mrs. Smith (1941) cho tới phim noir lạnh lẽo Shadow of a Doubt (1943).

 
Cary GrantJoan Fontaine trong một cảnh chụp hình trước công chúng trong phim Suspicion (1941)

Suspicion (1941) đánh dấu bộ phim đầu tiên của Hitchcock làm nhà sản xuất kiêm đạo diễn. Phim lấy bối cảnh ở Anh; Hitchcock đã chọn bờ biển phía bắc của Santa Cruz để ghi hình cảnh phim bờ biển của Anh. Đây là tác phẩm đầu tiên trong 4 phim mà Cary Grant được Hitchcock tuyển vai và là một trong những dịp hiếm hoi mà Grant hóa thân làm một nhân vật độc ác. Grant thủ vai Johnnie Aysgarth, một tên lừa bịp người Anh có những hành động làm người vợ bẽn lẽn của y, Lina McLaidlaw (Joan Fontaine) cảm thấy nghi ngờ và lo lắng.[94] Trong một cảnh phim, Hitchcock đặt ngọn đèn bên một ly sữa (có lẽ đã bị bỏ độc) mà Grant đem đến cho vợ mình; ánh đèn như đảm bảo sự chú ý của khán giả vào ly sữa. Nhân vật của Grant thực chất là một tên sát nhân như đã viết trong cuốn sách nguyên tác Before the Fact của Francis Iles, song hãng phim thấy hình ảnh của Grant có thể vì thế mà bị hoen ố. Do đó Hitchcock đã chỉnh đoạn cuối phim thành một cảnh kết mơ hồ, dù ông muốn kết thúc phim bằng vụ sát hại người vợ.[95][e] Fontaine đã thắng giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất nhờ màn thể hiện của cô trong phim.[96]

Saboteur (1942) là tác phẩm đầu tiên trong số hai phim mà Hitchcock làm cho hãng Universal Studios trong thập niên 40. Hitchcock bị Universal ép phải sử dụng hai diễn viên mà Universal đã ký hợp đồng là Robert CummingsPriscilla Lane (một người hành nghề tự do ký hợp đồng đóng một phim với Universal), cả hai được biết tới với những tác phẩm hài và chính kịch nhẹ.[97] Truyện phim miêu tả cuộc đối đầu giữa một nghi phạm phá hoại (Cummings) và kẻ phá hoại thực sự (Norman Lloyd) trên đỉnh Tượng Nữ thần Tự do. Hitchcock mất ba ngày đi quanh thành phố New York để tìm các địa điểm ghi hình cho Saboteur.[98] Ông còn đạo diễn Have You Heard? (1942), một tác phẩm kịch dưới dạng hình ảnh cho tạp chí Life nói về mối nguy của những tin đồn trong thời chiến.[99] Năm 1943, ông viết một câu chuyện ly kỳ cho tạp chí Look mang tên "Vụ ám sát Monty Woolley"[100] – một chuỗi các bức ảnh có chú thích mời độc giả tìm kiếm những manh mối đến danh tính của tên sát nhân; Hitchcock đã tuyển các diễn viên vào vai chính họ như Woolley, Doris Merrick và người hóa trang Guy Pearce.

Trở lại nước Anh, mẹ của Hitchcock là bà Emma bị ốm nặng; bà từ trần vào ngày 26 tháng 9 năm 1942, thọ 79 tuổi. Hitchcock chưa bao giờ phát ngôn công khai về mẹ mình, nhưng người trợ lý của ông cho biết ông rất ngưỡng mộ bà.[101] 4 tháng sau, tức vào ngày 4 tháng 1 năm 1943, người anh William của ông tử vong vì sốc thuốc ở tuổi 52.[102] Hitchcock không quá thân thiết với William,[103] nhưng cái chết của người anh làm Hitchcock ý thức về thói quen ăn uống của ông. Ông bị thừa cân và mắc chứng đau lưng. Ông hạ quyết tâm vào dịp Năm mới 1943 sẽ thực hiện nghiêm tức chế độ ăn với sự giúp đỡ của một bác sĩ.[104] Tháng 1 năm ấy, Shadow of a Doubt đã công chiếu, gợi lại cho Hitchcock những kỷ niệm đẹp khi làm phim.[105] Trong phim, Charlotte "Charlie" Newton (Teresa Wright) nghi ngờ người chú yêu quý Charlie Oakley (Joseph Cotten) của mình là một tên sát nhân hàng loạt. Hitchcock đã bấm máy ghi hình ở rất nhiều nơi, lần này là ở thành phố Santa Rosa phía Bắc California.[106]

Những phim phi hư cấu thời hậu chiếnSửa đổi

"Tôi thấy mình cần góp một phần nhỏ cho cuộc chiến, tôi vừa thừa cân vừa quá tuổi đi nghĩa vụ quân sự. Tôi biết là nếu mình chẳng làm gì, tôi sẽ hối tiếc suốt phần đời còn lại;..."

— Alfred Hitchcock (1967)[107]

Hitchcock trở lại Anh trong một chuyến thăm kéo dài từ cuối năm 1943 đến đầu năm 1944. Trong lúc ấy ông làm hai bộ phim ngắn tuyên truyềnBon Voyage (1944) và Aventure Malgache (1944) cho Bộ Thông tin. Vào tháng 6 và tháng 7 năm 1945, Hitchcock làm "cố vấn nghiên cứu" cho bộ phim tài liệu về Holocaust sử dụng những trích đoạn của Khối Đồng Minh về công cuộc giải phóng những trại tập trung của Đức Quốc xã. Bộ phim được thực hiện ở Luân Đôn và sản xuất bởi Sidney Bernstein của Bộ Thông tin (ông là bạn của Hitchcock và đã đưa vị đạo diễn lên tàu). Lúc đầu phim được dự kiến chiếu cho người Đức xem, nhưng chính phủ Anh lại thấy quá đau thương khi chiếu phim cho một người dân bị sốc hậu chiến. Thay vào đó, năm 1952 tác phẩm được chuyển từ kho lưu trữ phim của Văn phòng chiến tranh Anh sang Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc của Luân Đôn và vẫn chưa được phát hành cho đến năm 1985, khi một bản dựng phim được phát sóng thành một tập trong chương trình Frontline của Mỹ dưới nhan đề mà Bảo tàng chiến tranh Đế quốc đặt là: Memory of the Camps. Phiên bản dài đấy đủ của bộ phim là German Concentration Camps Factual Survey đã được phục chế bởi các học giả của Bảo tàng chiến tranh Đế quốc vào năm 2014.[108][109][110]

Những năm hậu chiến ở Hollywood: 1945–1953Sửa đổi

Những bộ phim cuối của SelznickSửa đổi

Hitchcock hợp tác cùng David Selznick một lần nữa trong tác phẩm Spellbound (1945) mà ông làm đạo diễn; phim khám phá đề tài phân tâm học và có một chuỗi cảnh giấc mơ do Salvador Dalí thiết kế.[111] Chuỗi cảnh giấc mơ xuất hiện trong ngắn hơn 10 phút so với hình dung ban đầu; Selznick đã biên tập chuỗi cảnh này để giúp nó "phát huy" hiệu quả hơn.[112] Gregory Peck thủ vai Tiến sĩ Anthony Edwardes bị mất trí nhớ phải tìm đến sự điều trị của Tiến sĩ phân tích Peterson (Ingrid Bergman), rồi cô phải lòng anh trong lúc cố tìm hiểu về quá khứ bị kìm nén của anh.[113] Hai cảnh quay theo góc nhìn thứ nhất được thực hiện bằng cách xây dựng một cánh tay gỗ lớn (vật này dường như thuộc về nhân vật mà góc máy đặt điểm nhìn) và cầm những đạo cụ ngoại cỡ: một ly sữa to bằng chiếc xô và một khẩu súng gỗ lớn. Nhằm tăng thêm tác động mới lạ, cảnh bắn súng cao trào được tô màu đỏ thủ công trên vài bản sao của bộ phim đen trắng. Phần nhạc nền do Miklós Rózsa sáng tác có sử dụng nhạc cụ theremin, một vài đoạn nhạc sau đó được tác giả chuyển thể thành bản nhạc Piano Concerto Op. 31 (1967) của Rozsa chơi trên piano và dàn nhạc.[114]

Bộ phim đề tài gián điệp Notorious là tác phẩm kế tiếp công chiếu vào năm 1946. Hitchcock bảo François Truffaut rằng Selznick đã bán ông, Ingrid Bergman, Cary Grant và kịch bản của Ben Hecht cho hãng RKO Radio Pictures dưới dạng "trọn gói" với giá 500.000 đô la Mỹ (tương đương $6.555 năm 2019) do kinh phí làm phim Duel in the Sun (1946) của Selznick bị đội lên. Notorious có sự tham gia diễn xuất của Bergman và Grant (cả hai người hợp tác lâu năm với Hitchcock) và có cốt truyện nói về Đức Quốc Xã, uranium và Nam Mỹ. Hành động sử dụng uranium làm chi tiết dẫn dắt cốt truyện đã làm ông bị đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của Cục Điều tra Liên bang trong thời gian ngắn.[115] Theo lời Patrick McGilligan, đâu đó vào khoảng tháng 3 năm 1945, Hitchcock và Hecht đã tham vấn Robert Millikan của Viện Công nghệ California về việc phát triển một quả bom uranium. Selznick phàn nàn rằng khái niệm làm phim là "khoa học viễn tưởng", chỉ để đối sánh với tin tức về vụ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki tại Nhật Bản vào tháng 8 năm 1945.[116]

Transatlantic PicturesSửa đổi

 
Một góc máy điển hình trích từ phim Rope (1948) với James Stewart quay lưng về phía góc máy đang ghi hình liên tục

Hitchcock đã lập nên công ty sản xuất phim độc lập mang tên Transatlantic Pictures cùng với người bạn Sidney Bernstein. Ông làm hai bộ phim với Transatlantic, một trong số đó là tác phẩm phim màu đầu tiên của ông. Với Rope (1948), Hitchcock đã được trải nghiệm dẫn dắt sự hồi hộp trong một môi trường hạn chế, giống như ông từng làm với Lifeboat trước kia. Phim có số lượng cảnh quay liên tục rất hạn chế, nhưng tác phẩm thực sự được ghi hình trong 10 cảnh (thời lượng từ 4-12 đến 10 phút mỗi cảnh); thời lượng 10 phút của phim là thời lượng dài nhất mà vỏ cuộn ghi hình phim có thể chứa lúc bấy giờ. Một vài đoạn chuyển cảnh giữa các cuộn phim bị ẩn mất do một vật thể tối che mất toàn bộ khung hình trong chốc lát. Hitchcock đã sử dụng những điểm ấy để giấu đi đoạn cắt và bắt đầu quay cảnh kế tiếp với máy quay đặt cùng vị trí. Phim có sự tham gia diễn xuất của James Stewart trong vai chính và là bộ đầu tiên trong 4 phim mà Stewart làm với Hitchcock. Phim được lấy cảm hứng từ vụ án Leopold và Loeb ở thập niên 1920.[117] Các đánh giá từ giới phê bình dành cho bộ phim lúc ấy là trái chiều.[118]

Under Capricorn (1949), lấy bối cảnh nước Úc thế kỉ 19, cũng sử dụng những cú máy ghi hình dài trong ngắn hạn, nhưng ở tần suất hạn chế hơn. Ông một lần nữa dùng màu trong tác phẩm này, rồi quay trở về với màu đen-trắng trong nhiều năm. Transatlantic Pictures ngừng hoạt động sau khi làm hai bộ phim cuối.[119][120] Hitchcock đã quay phim Stage Fright (1950) tại xưởng phim Elstree ở Anh, nơi ông từng làm việc theo hợp đồng cho British International Pictures nhiều năm trước.[121] Ông đã ghép đôi Jane Wyman (một trong những minh tinh nổi tiếng nhất của Warner Bros. lúc ấy) với nam diễn viên biệt xứ người Đức Marlene Dietrich và sử dụng nhiều diễn viên Anh tên tuổi như Michael Wilding, Richard ToddAlastair Sim.[122] Đây là tác phẩm đúng nghĩa đầu tien mà Hitchcock làm cho Warner Bros. – đơn vị từng nắm quyền phân phối RopeUnder Capricorn, bởi Transatlantic Pictures đang gặp khó khăn về tài chính.[123]

Tác phẩm giật gân Strangers on a Train (1951) của ông dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của Patricia Highsmith. Hitchcock đã kết hợp nhiều yếu tố từ những bộ phim trước của ông. Ông đã mời Dashiell Hammett viết thoại, nhưng Raymond Chandler nhận việc này rồi rời đi do bất đồng với vị đạo diễn. Trong phim, hai người đàn ông tình cờ gặp nhau, một người trong số họ đoán ra phương thức giết người hết sức rõ ràng; anh đề xuất rằng hai người (mỗi bên đều muốn kết liễu kẻ còn lại) nên thực hiện phương thực giết người của người kia. Farley Granger vào vai nạn nhân vô tội của âm mưu, còn Robert Walker (trước đây nổi tiếng với các vai "cậu bé hàng xóm") là người thủ vai phản diện.[124] Phim I Confess (1953) lấy bối cảnh tại Quebec với Montgomery Clift hóa thân làm một linh mục Cơ đốc giáo.[125]

Những năm hoàng kim: 1954–1964Sửa đổi

Dial M for MurderRear WindowSửa đổi

 
James StewartGrace Kelly trong phim Rear Window (1954)

Kế tiếp I Confess là ba tác phẩm phim màu có sự tham gia của Grace Kelly: Dial M for Murder (1954), Rear Window (1954) và To Catch a Thief (1955). Trong Dial M for Murder, Ray Milland thủ vai phản diện cố ám sát người vợ không chung thủy của mình (Kelly) nhằm chiếm đoạt tiền của cô. Cô giết tên thích khách thuê trong lúc tự vệ, vì thế Milland thao túng bằng chứng để làm vụ việc giống như giết người. Tình nhân của cô, Mark Halliday (Robert Cummings) và Thanh tra cảnh sát Hubbard (John Williams) là những người cứu cô khỏi bị hành quyết.[126] Hitchcock đã thử nghiệm kỹ thuật ghi hình 3D với Dial M for Murder.[127]

Hitchcock chuyển tới Paramount Pictures và bấm máy thu hình Rear Window (1954), một lần nữa có sự góp mặt của James Stewart và Grace Kelly, cũng như Thelma RitterRaymond Burr. Nhân vật của Stewart là một nhiếp ảnh gia tên Jeff (dựa trên Robert Capa) tạm thời phải dùng xe lăn. Vì buồn chán, anh bắt đầu quan sát hàng xóm của mình qua sân trong, rồi đinh ninh rằng một trong số họ (Raymond Burr) là người sát hại vợ anh. Sau cùng Jeff cố thuyết phục ông bạn thân cảnh sát (Wendell Corey) và cô bạn gái (Kelly). Giống như với LifeboatRope, các nhân vật chính được miêu tả trong những góc nhà hẹp hoặc chật chội, trong trường hợp này là căn hộ phòng thu của Stewart. Hitchcock sử dụng góc máy quay cận cảnh mặt của Stewart để thẻ hiện những phản ứng của nhân vật mà anh đóng, "từ thói nhìn trộm kỳ cục hướng vào hàng xóm của mình cho đến nỗi khiếp đảm bất lực khi nhìn Kelly và Burr trong căn hộ của phản diện".[128]

Alfred Hitchcock PresentsSửa đổi

 
Pat Hitchcock với cô con gái Terry và chồng Joseph O'Connell, Alma Reville, Mary Alma O'Connell, Alfred Hitchcock (phía trái dưới), vào khoảng 1955–1956

Từ năm 1955 đến 1965, Hitchcock là người dẫn chương trinh truyền hình Alfred Hitchcock Presents.[129] Với cách nói kỳ quặc, khiếu hài hước và hình ảnh biểu tượng của vị đạo diễn, chương trình đã biến Hitchcock thành nhân vật nổi tiếng. Chuỗi tiêu đề của chuơng trình là một bức hình biếm họa vẽ tối giản lược sử của ông (do chính tay ông vẽ; gồm chỉ 9 nét vẽ), rồi cái bóng thật của ông in đè lên.[130] Nhạc hiệu của chương trình là bài Funeral March of a Marionette của nhà soạn nhạc người Pháp Charles Gounod (1818–1893).[131]

Những phần giới thiệu của ông luôn mang nét hài hước gượng, chẳng hạn như miêu tả một vụ hành quyết nhiều người gần đây bị cản trở bởi chỉ có một chiếc ghế điện, trong khi hai chiếc ghế kia ghi ký hiệu "Hai ghế—không chờ đợi!" Ông đã đạo diễn 18 tập của sê-ri, được phát sóng từ 1955 đến 1965. Chương trình trở thành The Alfred Hitchcock Hour vào năm 1962, và NBC là đơn vị phát sóng tập cuối vào ngày 10 tháng 5 năm 1965. Ở thập niên 1980, một phiên bản mơi của Alfred Hitchcock Presents đã được sản xuất để chiếu trên màn ảnh nhỏ, sử dụng những phần giới thiệu gốc của Hitchcock dưới dạng có màu.[129]

Thành công của Hitchcock trên mảng truyền hình là nguyên nhân ra đời hàng loạt tuyển tập truyện ngắn mang tên ông; trong số này có Alfred Hitchcock's Anthology, Stories They Wouldn't Let Me Do on TVTales My Mother Never Told Me.[132] Năm 1956, HSD Publications còn cấp phép dùng tên vị đạo diễn để sáng tạo ra Alfred Hitchcock's Mystery Magazine, một cuốn tập san phát hành hàng tháng chuyên về hình sự và trinh thám hư cấu.[132] Chương trình truyền hình của Hitchcock rất ăn khách, còn các bản sách nước ngoài của ông mang về lợi nhuận lên tới 100.000 đô la Mỹ/năm (tương đương $864 năm 2019).[133]

Từ To Catch a Thief đến VertigoSửa đổi

Năm 1955, Hitchcock trở thành công dân Hoa Kỳ.[134] Cùng năm ấy, bộ phim thứ ba của ông với Grace Kelly, To Catch a Thief được công chiếu; phim lấy bối cảnh ở Côte d’Azur với sự tham gia diễn xuất của Kelly và Cary Grant. Grant thủ vai tên trộm đã giải nghệ John Robie; anh trở thành nghi phạm chính của hàng loại vụ cướp tại Côte d’Azur. Một cô gái sở hữu quyền thừa kế và ưa những tình huống ly kỳ (do Kelly thủ vai) phỏng đoán danh tiếng thật của anh và cố quyến rũ anh. "Mặc cho chênh lệch tuổi tác rõ ràng giữa Grant và Kelly cùng một cốt truyện nhẹ nhàng, kịch bản dí dỏm (chứa nhiều hàm ý kép) và diễn xuất ôn hậu đã giúp phim gặt hái thành công về mặt thương mại."[135] Đây là phim cuối của Hitchcock với Kelly; cô kết hôn với Công tuóc Rainier của Monaco vào năm 1956 và chấm dứt sự nghiệp điện ảnh của mình sau đó. Tiếp đó Hitchcock làm lại bộ phim của chính mình năm 1934 The Man Who Knew Too Much với bản phim năm 1956. Lần này tác phẩm có sự tham gia diễn xuất của James Stewart và Doris Day – người thể hiện bài hát chủ đề "Que Sera, Sera"; ca khúc đã thắng giải Oscar cho ca khúc trong phim hay nhất và trở thành một bài hit lớn. Họ hóa thân vai một cặp đôi có con trai bị bắt cóc nhằm ngăn họ can thiệp vào một vụ ám sát. Giống như bản phim năm 1934, đoạn cao trào diễn ra tại Royal Albert Hall.[136]

The Wrong Man (1956) – phim cuối của Hitchcock với Warner Bros. là một tác phẩm đen–trắng không quá sôi nổi dựa trên một trường hợp nhầm lẫn danh tính có thật từng được đưa tin trên tạp chí Life vào năm 1953. Đây là bộ phim duy nhất của Hitchcock có sự tham gia của Henry Fonda, anh thủ vai một nhạc sĩ của câu lạc bộ Stork Club bị nhận nhầm với một tên trộm rượu, rồi bị bắt và xét xử vì tội cướp, còn vợ anh (Vera Miles) suy sụp tinh thần vì quá căng thẳng. Hitchcock nói với Truffaut rằng nỗi sợ hãi cảnh sát cả đời ông đã thu hút ông với đề tài này và vị đạo diễn còn lồng ghép nỗi sợ ấy vào nhiều cảnh phim.[137]

 
Kim Novak đứng cạnh cây Cầu Cổng Vàng trong phim Vertigo (1958)[f]

Trong lúc chỉ đạo các tập phim của Alfred Hitchcock Presents ở mùa hè năm 1957, Hitchcock phải nhập viện vì bị thoát vịsỏi mật, nên buộc phải cắt bỏ túi mật. Sau ca phẫu thuật thành công, ông ngay lập tức trở lại làm việc để chuẩn bị cho dự án kế tiếp.[138][118] Vertigo (1958) một lần nữa có sự tham gia của James Stewart, bên cạnh Kim NovakBarbara Bel Geddes. Vị đạo diễn từng muốn Vera Miles nhận vai chính song cô lại đang mang bầu. Ông chia sẻ với Oriana Fallaci: "Tôi đã mời cô ấy một vai lớn, cơ hội trở thành một quý cô tóc vàng xinh đẹp thông minh, một nữ diễn viên thực thụ. Chúng tôi đã chi hàng đồng đô-la cho vai ấy, và thật tệ là cô ấy lại mang bầu. Tôi ghét phụ nữ bầu bí, bởi sau đó họ có con nhỏ."[139]

Trong phim Vertigo, Stewart thủ vai Scottie, một cựu thanh tra cảnh sát bị mắc chứng sợ độ cao, trở nên ám ảnh với một người phụ nữ mà anh được thuê để theo dõi (Novak). Nỗi ám ảnh của Scottie dẫn tới bi kịch, và lần này Hitchcock không lựa chọn cái kết có hậu. Một vài nhà phê bình, trong đó có Donald Spoto và Roger Ebert nhất trí rằng Vertigo là bộ phim riêng tư và mang tính khám phá nhất của vị đạo diễn, đối phó với những nỗi ám ảnh kiểu Pygmalion của một người đàn ông về việc biến một phụ nữ thành người mà anh ta thèm khát. Vertigo khám phá trần trụi hơn và sâu sắc hơn mối quan tâm của ông về liên hệ giữa tình dục và cái chết, hơn bất kì tác phẩm nào khác trong sự nghiệp của ông.[140]

Vertigo có sử dụng kĩ thuật ghi hình do Irmin Roberts phát triển (thường được gọi là dolly zoom), về sau được nhiều nhà làm phim sao chép. Bộ phim có buổi chiếu ra mắt tại Liên hoan phim quốc tế San Sebastián, và Hitchcock giật giải Silver Seashell.[141] Vertigo được xem là một tác phẩm điện ảnh kinh điển, song phim lại thu về những đánh giá trái chiều và doanh thu bán vé nghèo nàn lúc bấy giờ;[142] nhà phê bình từ tạp chí Variety nhận định rằng phim "quá chậm và quá dài".[143] Bosley Crowther của tờ New York Times thì thấy phim "rất chi là gượng gạo", nhưng dành lời khen cho khâu diễn xuất và phần chỉ đạo của Hitchcock.[144] Tác phẩm còn đánh dấu lần hợp tác cuối giữa Stewart và Hitchcock.[145] Trong cuộc bầu chọn của Sight & Sound năm 2002, phim chỉ xếp sau Công dân Kane (1941); 10 năm sau, cũng chính bởi ấn phẩm này, các nhà phê bình đã lựa chọn tác phẩm là bộ phim điện ảnh hay nhất từng được làm ra.[8]

North by NorthwestPsychoSửa đổi

Sau Vertigo, phần còn lại của năm 1958 là một năm khó nhằn với Hitchcock. Trong giai đoạn tiền sản xuất của North by Northwest (1959) — vốn diễn ra "chậm" và "gian nan", vợ ông Alma bị chẩn đoán mắc ung thư.[146] Trong khi bà ở trong bệnh viện, Hitchcock bận rộn với lịch làm việc trên truyền hình song vẫn ghé thăm bà hàng ngày. Alma trải qua ca phẫu thuật và bình phục hoàn toàn, song sự việc làm cho Hitchcock lần đầu tưởng tượng ra cuộc sống nếu thiếu bà.[146]

 
Tranh khảm hình phim Psycho đặt trong Phòng trưng bày Hitchcock tại ga tàu điện ngầm Leytonstone.

Kế đó Hitchcock làm ra ba bộ phim thành công nữa và đều được công nhận trong hàng ngũ những tác phẩm hay nhất của ông: North by Northwest, Psycho (1960) và The Birds (1963). Trong phim North by Northwest, Cary Grant thủ vai Roger Thornhill, một giám đốc quảng cáo ở Madison Avenue bị nhầm là một mật vụ của chính phủ. Anh bị các đặc vụ kẻ thù truy đuổi khắp nước Mỹ, trong đó có Eve Kendall (Eva Marie Saint). Thoạt đầu, Thornhill tin rằng Kendall đang giúp đỡ mình, nhưng rồi nhận ra cô là đặc vụ đối địch; sau đó anh biết được cô đang làm đặc vụ ngầm cho CIA. Trong hai tuần chiếu mở màn tại Radio City Music Hall, bộ phim thu về 404.056 đô la Mỹ (tương đương $3.543.793 năm 2019), thiết lập kỷ lục doanh thu cho một bộ phim không chiếu vào kì nghỉ tại rạp đó.[147] Tạp chí Time ví bộ phim là "thể hiện ổn và hết sức giải trí".[148]

Psycho (1960) có thể xem là bộ phim nổi tiếng nhất của Hitchcock.[149] Dựa trên cuốn tiểu thuyết Psycho ra mắt năm 1959 của Robert Bloch (lấy cảm hứng từ vụ án Ed Gein),[150] phim được sản xuất với kinh phí eo hẹp là 800.000 đô la Mỹ (tương đương $6.914 năm 2019) và ghi hình màu đen-trắng trên một phim trường sơ sài sử dụng tổ ê-kíp từ Alfred Hitchcock Presents.[151] Cảnh bạo lực trong nhà tắm chưa từng có,[g] cái chết sớm của nhân vật nữ chính, và những sinh mạng vô tội bị tước đoạt bởi một tên sát nhân lúng túng đã trở thành những tiêu chuẩn của một dòng phim kinh dị mới.[153] Tác phẩm rất được khán giả yêu thích, với hàng dài người xếp hàng ngoài rạp để chờ đọi buổi chiếu kế tiếp. Tác phẩm phá các kỷ lục phòng vé tại Liên hiệp Anh, Pháp, Nam Mỹ, Hoa Kỳ và Canada, đồng thời gặt hái thành công nhất định ở Úc trong một thời gian ngắn.[154]

Psycho là phim ăn khách nhất trong sự nghiệp của Hitchcock, và cá nhân ông đã bỏ túi tới 15 triệu đô la Mỹ (tương đương $12963 triệu năm 2019). Sau đó ông sử dụng bản quyền với Psycho và chương trình truyền hình tuyển tập của mình để đổi lấy 150.000 cổ phiếu của MCA, biến ông trở thành cổ đông lớn thứ ba và ông chủ của chính mình tại Universal (ít nhất về mặt lý thuyết), dù cho không ngăn được hãng phim can thiệp.[154][155] Sau phần phim đầu tiên, Psycho trở thành một loạt tác phẩm phim kinh dị của Mỹ: Psycho II, Psycho III, Bates Motel, Psycho IV: The Beginningbản làm lại bản gốc năm 1998 có màu.[156]

Phỏng vấn của TruffautSửa đổi

Ngày 13 tháng 8 năm 1962, nhân dịp Hitchcock mừng sinh nhật tuổi 63, đạo diễn người Pháp François Truffaut đã khởi động một buổi phỏng vấn dài 50 giờ với Hitchcock, thu hình trong hơn 8 ngày tại Universal Studios, trong đó Hitchcock đồng ý trả lời 500 câu hỏi. Phải mất tới 4 năm để ghi cuộc phỏng vấn thành các tệp băng và sắp xếp hình ảnh; cuộc phỏng vấn được xuất bản thành sách vào năm 1967, được Truffaut đặt biệt hiệu là "Hitchbook". Các băng audio được dùng làm chất liệu cho một bộ phim tài liệu công chiếu năm 2015.[157][158] Truffaut bán buổi phỏng vấn vì đối với ông, Hitchcock rõ ràng không đơn giản là một đối tượng giải trí sản xuất đại trà mà giới truyền thống Mỹ muốn biến ông trở thành. Truffaut ghi chép rằng hiển nhiên từ những bộ phim của Hitchcock, vị đạo diễn đã "chú tâm nhiều đến tiềm năng nghệ thuật của bản thân hơn bất cứ đồng nghiệp nào khác của ông". Ông ví buổi phỏng vấn là "Oedipus' thảo luận với nhà tiên tri".[159]

The BirdsSửa đổi

Trailer của phim The Birds (1963), trong đó Hitchcock bàn về cách đối xử của nhân loại với "những người bạn có lông vũ của chúng ta".

Nhà học giả điện ảnh Peter William Evans viết rằng The Birds (1963) và Marnie (1964) được xem là những "tuyệt tác không thể phủ nhận".[118] Hitchcock từng định ghi hình Marnie trước, và vào tháng 3 năm 1962 có tin đồn rằng Grace Kelly (Công nương Grace của Monaco từ năm 1956) sẽ đổi ý giải nghệ để quay lại đóng phim.[160] Khi Kelly yêu cầu Hitchcock hoãn Marnie đến năm 1963 hoặc 1964, ông đã tuyển Evan Hunter (tác giả cuốn The Blackboard Jungle năm 1954) để phát triển kịch bản dựa trên truyện ngắn "The Birds" (1952) của Daphne du Maurier, được Hitchcock tái xuất bản trong cuốn My Favorites in Suspense (1959) của mình. Ông thuê Tippi Hedren thủ vai chính.[161] Đây là vai diễn đầu tiên của cô; nữ diễn viên từng làm người mẫu ở New York thì Hitchcock nhìn thấy cô vào tháng 10 năm 1961 trong một đoạn quảng cáo Sego (một loại đồ uống ăn kiêng) trên kênh truyền hình NBC:[162] "Tôi ký kết với cô ấy bởi cổ là một mỹ nhân kiểu cổ điển. Phim ảnh không còn có hợ nữa. Grace Kelly là người cuối cùng." Không cần giải thích, ông khẳng định rằng họ của cô được viết trong dấu ngoặc kép duy nhất: 'Tippi'.[h]

Trong phim The Birds, một cô gái trẻ hoạt giao tên Melanie Daniels gặp gỡ luật sư Mitch Brenner (Rod Taylor) trong một cửa hàng bán chim cảnh; Jessica Tandy thủ vai người mẹ có tính chiếm hữu của anh. Hedren ghé thăm anh ở Bodega Bay (nơi ghi hình The Birds)[163] mang theo một cặp chim tình yêu làm quà. Đột nhiên đàn chim bắt đầu tập hợp, theo dõi và tấn công. Câu hỏi: "What do the birds want?" ("Những chú chim muốn gì) để nghỏ không lời giải.[165] Hitchcock đã làm phim với thiết bị từ Revue Studio (nơi làm chương trình Alfred Hitchcock Presents). Ông cho biết đây là bộ phim thử thách ông về mặt kĩ thuật cao nhất, sử dụng kết hợp các chú chim máy và được huấn luyện với bối cảnh một đàn chim hoang dã. Mọi góc máy được phác thảo từ trước.[163]

Một bộ phim điện ảnh truyền hình của HBO/BBC mang tên The Girl (2012) đã miêu tả những trải nghiệm của Hedren trên phim trường; nữ diễn viên chia sẻ Hitchcock trở nên ám ảnh với cô và quấy rối tình dục cô. Vị đạo diễn được cho là đã cô lập cô khỏi những thành viên còn lại của đoàn làm phim, theo dõi cô, thì thầm những lời tục tĩu với cô, phân tích chữ viết tay của cô và cho xây dựng một bờ dốc nối từ văn phòng riêng của ông vào thẳng trailer của cô.[166][167] Bạn diễn của Hedren trong phim MarnieDiane Baker kể lại: "Đối với tôi thì chẳng có gì kinh khủng hơn việc đến phim trường đó và thấy cô ấy từng bị đối xử ra sao."[168] Trong lúc ghi hình cảnh tấn công trên gác mái (mất tới một tuần ghi hình), cô bị đặt ở một căn phòng trong lồng, cùng lúc đó hai người đàn ông đeo găng tay bảo vệ dài đến khuỷu tay ném những chú chim sống vào cô. Cho đến cuối tuần, nhằm ngăn đàn chim bay khỏi cô quá sớm, chân của mỗi con bị buộc sợi nylon nối đến các sợi dây thun may bên trong quần áo cô. Nữ diễn viên suy sụp sau khi một chú chim cắt mất mí mắt dưới của cô, và công đoạn ghi hình bị tạm dừng theo chỉ định của các bác sĩ.[169]

MarnieSửa đổi

Trailer phim Marnie (1964)

Tháng 6 năm 1962, Grace Kelly thông báo cô đã quyết định từ chối xuất hiện trong phim Marnie (1964). Hedren đã ký một bản hợp đồng độc quyền dài 7 năm, kèm mức đãi ngộ 500 đô la/tuần với Hitchcock vào tháng 10 năm 1961,[170] và vị đạo diễn quyết định tuyển cô vào vai chính đóng cặp cùng Sean Connery. Năm 2016, không chỉ miêu tả diễn xuất của Hedren là "một trong những [màn thể hiện] xuất sắc nhất lịch sử điện ảnh", Richard Brody gọi bộ phim là một "câu chuyện về bạo hành tình dục" gây tổn thương cho nhân vật mà Hedren diễn: "Đơn giản thì bộ phim thạt bệnh hoạn, và sỡ dĩ là vì cũng Hitchcock bệnh hoạn. Ông ấy đã chịu khổ sở cả cuộc đời mình vì ham muốn tình dục mãnh liệt, chịu khổ vì thiếu thỏa mãn nó, chịu khổ vì không thể biến khả năng tưởng tượng thành hiện thực, rồi bắt đầu và hiện thực hóa nó bằng con đường nghệ thuật của mình."[171] Một bài đánh giá của tờ New York Times nhận xét tác phẩm là "phim đáng thất vọng nhất [của Hitchcock] trong nhiều năm", chỉ ra Hedren và Connery thiếu kinh nghiệm diễn xuất, một kịch bản nghiệp dư và "những tấm màn bối cảnh bằng bìa các-tông giả quá rõ".[172]

Trong phim, Marnie Edgar (Hedren) trộm mất 10.000 đô la Mỹ từ chủ của mình và bỏ trốn. Cô nộp đơn xin việc tại công ty của Mark Rutland (Connery) ở in Philadelphia và cũng trộm đồ từ nơi đó. Trong quá khứ, cô bị hoảng loạn trong một cuộc tấn công khi trời giông bão và mắc chứng sợ màu đỏ. Mark theo dõi cô và hăm dạo tống tiền để ép cô cưới anh. Cô giải thích rằng mình không muốn bị động chạm, song trong một "chuyến trăng mật", Mark nổi cơn thú tính cưỡng hiếp cô. Marnie và Mark phát hiện rằng mẹ của Marnie từng là điếm lúc Marnie còn bé; một ngày nọ trong lúc bà đang xô xát với một khách hàng giữa lúc trời giông bão—bà mẹ tin rằng vị khách đã cố gạ gẫm Marnie—và thế là Marnie sát hại vị khách đó để cứu mẹ mình. Cô chữa khỏi nỗi sợ hãi sau khi nhớ lại những chuyện đã xảy ra, rồi quyết định ở cùng Mark.[171][173]

Hitchcock đã nhắc nhà quay phim Robert Burks rằng máy ghi hình phải được đặt gần Hedren nhất có thể khi anh quay cận mặt nữ diễn viên.[174] Evan Hunter (nhà biên kịch của The Birds và cũng chắp bút viết kịch bản Marnie) giải thích với Hitchcock rằng nếu Mark yêu Marnie thì anh sẽ an ủi cô chứ không phải cưỡng hiếp. Song Hitchcock đáp lại: "Evan, khi anh quan hệ tình dục với cô ta, tôi muốn cái máy quay ấy dí vào mặt cổ!"[175] Khi Hunter nộp hai bản kịch bản (trong đó một cái không có cảnh cưỡng hiếp) Hitchcock liền thay thế anh bằng Jay Presson Allen.[176]

Những năm cuối đời: 1966–1980Sửa đổi

Những bộ phim cuốiSửa đổi

Sức khỏe suy yếu làm cho năng suất làm phim của Hitchcock tụt giảm trong hai thập kỷ cuối đời ông. Cây viết tiểu sử Stephen Rebello cho biết hãng Universal đã ép vị đạo diễn làm hai phim là Torn Curtain (1966) và Topaz (1969), trong đó Topaz dựa trên một cuốn tiểu thuyết của Leon Uris, lấy bối cảnh một phần ở Cuba.[177] Cả hai phim đều thuộc thể loại gián điệp giật gân với đề tài liên quan tới Chiến tranh Lạnh. Torn Curtain (với sự góp mặt của Paul NewmanJulie Andrews) đã sớm chấm dứt quan hệ 12 năm hợp tác giữa Hitchcock và Bernard Herrmann theo cách đầy chua xót.[178] Hitchcock không hài lòng với phần nhạc nền của Herrmann và thay thế ông bằng John Addison, Jay LivingstonRay Evans.[179] Upon release, Torn Curtain thất bại ở thị trường phòng vé,[180] còn Topaz bị giới phê bình lẫn hãng phim ghét bỏ.[181]

 
Hitchcock công tác tại Family Plot, San Francisco, hè năm 1975.

Hitchcock trở lại Liên hiệp Anh để làm bộ phim áp chót của sự nghiệp mang tên Frenzy (1972), dựa trên tiểu thuyết Goodbye Piccadilly, Farewell Leicester Square (1966). Sau hai phim hoạt động gián điệp, cốt truyện của phim đánh dấu màn trở lại với dòng phim sát nhân-giật gân. Richard Blaney (Jon Finch), một tay phục vụ quán rượu hoạt bát với tiến sử bộc phát nỗi giận dữ, trở thành nghi phạm chính trong vụ điều tra "Những sát nhân bằng ca vát", thực sự là do bạn của anh là Bob Rusk (Barry Foster). Lần này, Hitchcock làm cho nạn nhân và phản diện tương đồng nhau, thay vì đối địch như trong phim Strangers on a Train.[182]

Trong phim Frenzy, Hitchcock cho phép khỏa thân lần đầu tiên. Hai cảnh phim chiếu những người phụ nữ khỏa thân, một trong số họ bị cưỡng hiếp và bóp cổ;[118] Donald Spoto cho rằng bóp cổ là "một trong những ví dụ gây khó chịu nhất về vụ giết người chi tiết trong lịch sử điện ảnh". Cả hai diễn viên là Barbara Leigh-HuntAnna Massey từ chối đóng trong những cảnh đó, vì thế những người mẫu được sử dụng thay thế.[183] Những cây viết tiểu sử lưu ý rằng Hitchcock đã luôn thúc đấy những hạn chế về kiểm duyệt phim, thường cố đánh lừa Joseph Breen (giám đốc của Motion Picture Production Code). Hitchcock sẽ đưa những lời bóng gió bất lịch sự bị cấm kiểm duyệt cho đến giữa những năm 1960. Tuy nhiên Patrick McGilligan ghi chép rằng Breen và những người khác thường nhận ra cài cắm những chi tiết như vậy và thực sự thấy thích thú, cũng như bị phấn khích tột độ bởi "những kết luận không tránh khỏi được" của Hitchcock".[184]

Family Plot (1976) là phim cuối của Hitchcock. Tác phẩm xoay quanh những cuộc đào tẩu của nhà tâm linh lừa đảo "Madam" Blanche Tyler (đóng bởi Barbara Harris) và tình nhân kiêm tài xế taxi của cô Bruce Dern, họ kiếm sống bằng năng lực giả tạo của cô. Dù Family Plot dựa trên cuốn tiểu thuyết The Rainbird Pattern (1972) của Victor Canning, màu sắc của nguyên tác lại có phần nham hiểm hơn. Nhà biên kịch Ernest Lehman lúc đầu là người viết kịch bản phim dưới tiêu đề sản xuất là Deception, với một màu sắc đen tối song bị Hitchcock ép phải chuyển sang màu sắc vừa nhẹ nhàng, vừa hài hước hơn, rồi cuối cùng tựa phim được chọn là Family Plot.[185]

Phong tước hiệp sĩ và từ trầnSửa đổi

 
Ảnh chụp Hitchcock khoản năm 1972 bởi nhiếp ảnh gia Jack Mitchell.

Cho đến cuối đời, Hitchcock đang thực hiện kịch bản cho tác phẩm giật gân gián điệp mang tên The Short Night, hợp tác với James Costigan, Ernest Lehman và David Freeman. Mặc cho đã đi vào công đoạn sản xuất sơ bộ, song phim chưa bao giờ được ghi hình. Sức khỏe Hitchcock tụt giảm và ông lo lắng cho vợ mình vì thấy bà bị đột quỵ. Kịch bản phim sau cùng được xuất bản trong cuốn sách The Last Days of Alfred Hitchcock (1999) của Freeman.[186]

Dẫu từng từ chối tước CBE vào năm 1962,[187] Hitchcock đã được phong làm Hiệp sĩ Đế chế Anh (KBE) trong lễ Phong tước năm mới 1980.[11][188] Do quá yếu để đi tới Luân Đôn (ông đã đeo một chiếc máy điều hòa nhịp tim và được chích cortisone để chữa bệnh viêm khớp), nên vào ngày 3 tháng 1 năm 1980, tổng lãnh sự Liên hiệp Anh đã trao tặng ông văn bằng phong tước tại Universal Studios. Khi được một phỏng viên hỏi sau lễ nhận danh hiệu rằng vì sao lại làm Nữ hoàng mất nhiều thời gian như thế, Hitchcock hóm hỉnh trả lời, "Tôi đoán là do bất cẩn thôi." Cary Grant, Janet Leigh và nhiều người khác đã tham dự một bữa tiệc trưa ngay sau đó.[189][190]

Hitchcock xuất hiện lần cuối trước công chúng vào ngày 16 tháng 3 năm 1980, khi ông giới thiếu người chiến thắng giải Viện phim Mỹ vào năm kế tiếp.[189] Một tháng sau, ông mất vì suy thận vào ngày 29 tháng 4 tại nhà riêng ở Bel Air.[93][191] Donald Spoto (một trong những người viết tiểu sử về Hitchcock) ghi chép rằng Hitchcock từng từ chối gặp một vị linh mục,[192] nhưng theo linh mục Dòng Tên Mark Henninger, ông và một linh mục khác là Tom Sullivan đã cử hành lễ thánh tại nhà riêng của nhà làm phim, và Sullivan nghe thấy lời sám hối của Hitchcock.[193] Hitchcock để lại vợ mình và con gái. Đám tang của ông được tổ chức tại Nhà thờ Công giáo Good Shepherd ở Beverly Hills vào ngày 30 tháng 4 năm, sau khi thi hài ông được hỏa táng. Tro cốt của ông được đem rải khắp Thái Bình Dương vào ngày 10 tháng 5 năm 1980.[194]

Di sảnSửa đổi

Giải thưởng và tôn vinhSửa đổi

 
Một trong những ngôi sao của Hitchcock nằm trên Đại lộ Danh vọng Hollywood.

Hitchcock được ghi danh vào Đại lộ Danh vọng Hollywood vào ngày 8 tháng 2 năm 1960 với hai ngôi sao: một ngôi sao cho mảng truyền hình và một ngôi sao cho mảng điện ảnh.[195] Năm 1978, John Russell Taylor miêu tả cố đạo diễn là "nhân vật dễ nhận diện nhiều nhất thế giới" và "một quý ông người Anh thẳng thắn thuộc tầng lớp trung lưu tình cờ trở thành một thiên tài nghệ thuật".[190] Năm 2002, ấn phẩm MovieMaker vinh danh ông là đạo diễn giàu ảnh hưởng nhất mọi thời đại,[196] và vào năm 2007, một cuộc bầu chọn của giới phê bình do The Daily Telegraph tổ chức đã liệt ông là đạo diễn vĩ đại nhất nước Anh.[197] David Gritten (nhà phê bình điện ảnh của tờ báo) viết: "[Hitchcock] chắc chắn là nhà làm phim vĩ đại nhất xuất thân từ quần đảo này, Hitchcock đã định hình nền điện ảnh hiện đại hơn bất cứ đạo diễn nào, và [nền điện ảnh ấy] sẽ hoàn toàn khác nếu thiếu ông. Tài nghệ của ông nằm ở lối kể chuyện, giữ lại thông tin quan trọng một cách tàn nhẫn (khỏi các nhân vật của ông và khỏi chúng ta) và lôi cuốn cảm xúc của khán giả chẳng giống bất kì ai."[198] Năm 1992, cuộc bầu chọn phê bình của Sight & Sound liệt Hitchcock ở hạng 4 trong danh sách "Top 10 đạo diễn hay nhất" mọi thời đại.[199] Năm 2002, Hitchcock xếp ở vị trí số 2 trong cuộc bầu chọn top 10 của giới phê bình[200] và hạng 5 trong cuộc bầu chọn top 10 đạo diễn giỏi nhất[201] nằm trong danh sách Những đạo diễn xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí Sight & Sound biên tập. Hitchcock được bầu là "Đạo diễn vĩ đại nhất thế kỉ 20" trong một cuộc bình chọn do tạp chí Nhật Bản kinema Junpo tổ chức. Năm 1996, Entertainment Weekly xếp Hitchcock ở vị trí số 1 trong danh sách "50 đạo diễn vĩ đại nhất" của ấn phẩm.[202][203] Hitchcock có tên ở hạng 2 trong danh sách "Top 40 đạo diễn xuất sắc nhất mọi thời đại" của tạp chí Empire vào năm 2005.[202] Năm 2007, tạp chí Total Film ghi danh ông ở hạng 1 trong danh sách "100 đạo diễn phim điện ảnh vĩ đại nhất từ trước đến nay".[204]

 
Một tấm bia xanh của English Heritage ghi dấu nơi Hitchcock sống tại Số 153 Đường Cromwell, Kensington, Luân Đôn.

Hitchcock đã giành chiến thắng hai Quả cầu vàng, 8 giải Laurel và 5 giải thưởng thành tựu trọn đời, trong đó có giải BAFTA Academy Fellowship đầu tiên[205] và một giải Thành tựu trọn đời của Viện phim Mỹ vào năm 1979.[11] Ông sở hữu 5 đề cử giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất, nhưng chưa bao giờ đoạt giải.[206] Rebecca (đề cử 11 Oscar, giật giải Phim hay nhất năm 1940; một phim nữa của Hitchcock là Foreign Correspondent cũng nhận được đề cử năm ấy.[207] Đến năm 2018, 8 bộ phim của ông đã được Viện lưu trữ phim quốc gia Hoa Kỳ lựa chọn để bảo tồn: Rebecca (1940; đưa vào năm 2018), Shadow of a Doubt (1943; đưa vào năm 1991), Notorious (1946; đưa vào năm 2006), Rear Window (1954; đưa vào năm 1997), Vertigo (1958; đưa vào năm 1989), North by Northwest (1959; đưa vào năm 1995), Psycho (1960; đưa vào năm 1992), and The Birds (1963; đưa vào năm 2016).[9]

Năm 2012, nghệ sĩ Sir Peter Blake (tác giả bìa album Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band của The Beatles) đã lựa chọn Hitchcock vẽ trong một phiên bản mới của tấm bìa, bên cạnh những nhân vật văn hóa khác của Anh; cùng năm ấy ông có mặt trong loạt chương trình The New Elizabethans của đài BBC Radio 4, được cho là "người có những hành động ghi một dấu ấn đáng kể lên đời sống của quần đảo này trong thời gian Nữ hoàng Elizabeth II trị vì và đem đến tuổi thọ cho nhân vật".[208] Tháng 6 năm 2013, 9 bản phục chế những bộ phim câm đầu tiên của Hitchcock, trong đó có The Pleasure Garden (1925), đã được trình chiếu tại Nhà hát Harvey của Nhạc viện Brooklyn; những thước phim tri ân có tên là "The Hitchcock 9" được tổ chức bởi Viện phim Anh.[209]

Lưu trữSửa đổi

Bộ sưu tập Alfred Hitchcock nằm ở Viện lưu trữ điện ảnh tại Hollywood, California. Bộ sưu tập gồm các bộ phim gia đình, phim 16mm ghi hình trên phim trường Blackmail (1929) và Frenzy (1972), và thước phim màu ra đời sớm nhất của Hitchcock. Viện lưu trứ điện ảnh đã bảo tồn nhiều bộ phim gia đình của ông.[210] Báo in Alfred Hitchcock nằm tại Thư viện Margaret Herrick của Viện.[211] Các bộ sưu tập của David O. Selznick và Ernest Lehman nằm tại Trung tâm nhân văn Harry Ransom ở Austin, Texas, chứa tài liệu liên quan đến tác phẩm do Hitchcock sản xuất như The Paradine Case, Rebecca, Spellbound, North by NorthwestFamily Plot.[212]

Hóa thân đóng HitchcockSửa đổi

Danh sách phimSửa đổi

Điện ảnhSửa đổi

Phim câm

Phim nói

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Theo Gene Adair (2002), Hitchcock đã làm 53 phim điện ảnh.[2] Còn theo Roger Ebert vào năm 1980, con số phim Hitchcock làm là 54.[3]
  2. ^ Các bộ phim được lựa chọn bảo tồn ở Viện lưu trữ phim quốc giaRebecca (1940), Shadow of a Doubt (1943), Notorious (1946), Rear Window (1954), Vertigo (1958), North by Northwest (1959), Psycho (1960) và The Birds (1963).[9]
  3. ^ Alfred Hitchcock (Liên minh báo chí Bắc Mỹ, 16 tháng 7 năm 1972): "Phim yêu thích của cá nhân tôi là Shadow of a Doubt. Bạn chưa xem phim đấy ưa? À. Tác phẩm được viết kịch bản bởi Thornton Wilder. nó là một nghiên cứu về nhân vật, một bộ phim giật gân hồi hộp. Vẻ đẹp của phim nằm ở việc nó được ghi hình tại thị trấn có thật."[10]
  4. ^ Trong truyện đầu tiên, "Gas" (tháng 6 năm 1919), xuất bản trong số đầu tiên, một cô gái trẻ bị một đám đàn ông tấn công ở Paris, về sau phát hiện ra rằng cô đã bị ảo giác trên ghế của nha sĩ.[31] Kế đến là "The Woman's Part" (tháng 9 năm 1919), miêu tả một người chồng theo dõi vợ mình là diễn viên biểu diễn trên sân khấu.[32] "Sordid" (tháng 2 năm 1920) xoay quanh một vụ mua kiếm từ đại lý đồ cổ, có thêm một twist ở cuối.[33] "And There Was No Rainbow" (tháng 9 năm 1920) phát hiện Bob bị bắt quả tang dan díu với vợ bạn.[34] Trong "What's Who?" (tháng 12 năm 1920), sự hỗn loạn bao trùm khi một nhóm diễn viên mạo nhận chính mình.[35] "The History of Pea Eating" (tháng 12 năm 1920) là một tác phẩm châm biếm nỗi khó khăn khi ăn đậu Hà Lan.[36] Tác phẩm cuối của ông là "Fedora" (tháng 3 năm 1921) miêu tả một người phụ nữ vô danh: "nhỏ bé, giản dị, khiêm tốn và không ồn ào, song cô thu hút sự chú ý sâu sắc từ mọi phía".[37]
  5. ^ Hitchcock nói với Bryan Forbes vào năm 1967: "Họ đã xem qua bộ phim mà vắng mặt tôi và cắt đi mọi cảnh quay cho thấy khả năng Cary Grant là một tên sát nhân. Vì thế chẳng có bộ phim nào tồn tại hết. Thiệt nực cười. Dẫu sao thì cuối cùng tôi phải thỏa hiệp. Điều tôi muốn làm là cho người vợ biết mình sắp bị chồng cô sát hạn, vì thế cô gửi một bức thư tới mẹ mình nói rằng cô ấy cực kỳ yêu anh ta, cô ấy không thiết sống nữa, cô ấy sắp bị giết song xã hội nên được bảo vệ. Vì thế cô ấy nâng ly sữa béo lên uống, trước đó cô nói, "Anh sẽ gửi bức thư này cho mẹ chứ?" Rồi cô uống cốc sữa và chết. Thế là bạn chỉ có một cảnh kết là Cary Grant vui vẻ đến chỗ hộp thư và gửi bức thư. ... Song điều này chưa bao giờ được cho phép do lỗi cơ bản trong khâu tuyển vai."
  6. ^ Một cuộc bầu chọn của Viện phim Anh vào năm 2012 liệt Vertigobộ phim điện ảnh vĩ đại nhất từng được làm ra.[8]
  7. ^ Theo một bộ phim tài liệu về cảnh tắm trong Psycho mang tên 78/52 (phát hành năm 2017, do Alexandre O. Philippe làm đạo diễn), tựa đề phim dùng để chỉ 78 góc đặt máy ghi hình và 52 đoạn cắt.[152]
  8. ^ Thomas McDonald (The New York Times, 1 tháng 4 năm 1962): "Đóng trong phim là Rod Taylor, Suzanne Pleshette, Jessica Tandy và 'Tippi' Hedren. Hitchcock ký hợp đồng với Cô Hedren (một người mẫu ở New York) sau khi thấy cô trong một chương trình quảng cáo. Ông khẳng định rằng cô đặt họ của mình trong dấu ngoặc kép duy nhất mà chẳng giải thích tại sao."[163][164]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Các nguồn gồm:
    • “Alfred Hitchcock Collectors' Guide: The British Years in Print”. Brenton Film. 13 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc 21 tháng 8 năm 2019. Truy cập 22 tháng 10 năm 2019.
    • Ursell, Joe (10 tháng 8 năm 2016). “The Phenomenal Influence and Legacy of Alfred Hitchcock”. Into Film.
    • Deb, Sandipan (18 tháng 8 năm 2019). “The audience as a piano: the strange case of Alfred Hitchcock”. Mint.
    • 'Like Bach in music': Alfred Hitchcock's towering influence”. DW. 13 tháng 8 năm 2019.
    • “How Alfred Hitchcock changed cinema forever”. Far Out. 29 tháng 4 năm 2019.
    • Calvin, Thomas (27 tháng 12 năm 1992). “Hitchcock Legacy As Potent as Ever”. The New York Times.
    • Ebert, Roger (13 tháng 8 năm 1999). “Hitchcock is still on top of film world”. Roger Ebert.
  2. ^ Adair 2002, tr. 9.
  3. ^ Ebert, Roger (1 tháng 5 năm 1980). “The Master of Suspense is Dead”. Chicago Sun-Times. Lưu trữ bản gốc 26 tháng 12 năm 2017. Truy cập 26 tháng 12 năm 2017.
  4. ^ a b “Blackmail (1929)”. British Film Institute. Lưu trữ bản gốc 31 tháng 12 năm 2017. Truy cập 1 tháng 1 năm 2018.; also see White & Buscombe 2003, tr. 94; Allen & Ishii-Gonzalès 2004, tr. xv
  5. ^ a b “The 13th Academy Awards, 1941”. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Lưu trữ bản gốc 3 tháng 3 năm 2012. Truy cập 30 tháng 12 năm 2017.
  6. ^ Wood 2002, tr. 62.
  7. ^ “AFI's 100 Greatest American Films of All Time”. American Film Institute. Lưu trữ bản gốc 19 tháng 5 năm 2019. Truy cập 8 tháng 9 năm 2018.
  8. ^ a b c Christie, Ian (tháng 9 năm 2012). “The 50 Greatest Films of All Time”. Sight & Sound. Lưu trữ bản gốc 1 tháng 3 năm 2017. Truy cập 29 tháng 12 năm 2017.; xem thêm “Critics' top 100”. British Film Institute. 2012. Lưu trữ bản gốc 7 tháng 2 năm 2016. Truy cập 29 tháng 12 năm 2017.
  9. ^ a b “Complete National Film Registry Listing”. Library of Congress. Lưu trữ bản gốc 31 tháng 10 năm 2016. Truy cập 21 tháng 12 năm 2018.

    "Brief Descriptions and Expanded Essays of National Film Registry Titles" Lưu trữ 2018-01-01 tại Wayback Machine. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Truy cập 21 tháng 12 năm 2018.

  10. ^ Morehouse, Rebecca (16 tháng 7 năm 1972). “Alfred Hitchcock Not a Male Chauvinist”. Lima News. North American Newspaper Alliance.
  11. ^ a b c McCarthy, Todd (30 tháng 4 năm 1980). “Alfred Hitchcock Dies Of Natural Causes at Bel-Air Home”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2017. Truy cập 12 tháng 12 năm 2017.
  12. ^ Adair 2002, tr. 11–12.
  13. ^ “St. Patrick's Day 2005: The Master of Suspense”. Irish Echo. 17 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc 15 tháng 2 năm 2018. Truy cập 14 tháng 2 năm 2018.
  14. ^ Taylor 1996, tr. 21–22; Spoto 1999, tr. 14–15
  15. ^ McGilligan 2003, tr. 6
  16. ^ Truffaut 1983, tr. 25.
  17. ^ For the police story: Truffaut 1983, tr. 25; Taylor 1996, tr. 25; Cavett, Dick (8 tháng 6 năm 1972). "Interview with Alfred Hitchcock", The Dick Cavett Show, ABC, 00:06:52 Lưu trữ 2019-12-25 tại Wayback Machine.

    Về cuộc phỏng vấn của Snyder: Snyder, Tom (1973). "Alfred Hitchcock interview", Tomorrow, NBC, 00:01:55 Lưu trữ 2020-01-03 tại Wayback Machine.

  18. ^ McGilligan 2003, tr. 13
  19. ^ Spoto 1999, tr. 20, 23
  20. ^ Taylor 1996, tr. 29; McGilligan 2003, tr. 18
  21. ^ a b c d Truffaut 1983, tr. 26.
  22. ^ Spoto 1999, tr. 23
  23. ^ McGilligan 2003, tr. 25
  24. ^ UK Retail Price Index inflation figures are based on data from Clark, Gregory (2017). “The Annual RPI and Average Earnings for Britain, 1209 to Present (New Series)”. MeasuringWorth. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2019.
  25. ^ Adair 2002, tr. 15; Spoto 1999, tr. 37
  26. ^ Spoto 1999, tr. 37
  27. ^ Ackroyd 2015, tr. 11.
  28. ^ Taylor 1996, tr. 27–28; "Military service (medical grading") Lưu trữ 2019-02-24 tại Wayback Machine, Hansard, vol. 107, 20 tháng 6 năm 1918, 607–642.
  29. ^ Taylor 1996, tr. 28.
  30. ^ McGilligan 2003, tr. 30.
  31. ^ Duncan 2003, tr. 20; Hitchcock, Alfred (June 1919). "Gas" Lưu trữ 2017-12-22 tại Wayback Machine, Henley Telegraph.
  32. ^ Hitchcock 2014, tr. 19; Hitchcock, Alfred (tháng 9 năm 1919). "The Women's Part" Lưu trữ 2017-12-23 tại Wayback Machine, Henley Telegraph; McGilligan 2003, tr. 34
  33. ^ Hitchcock 2014, tr. 20; Hitchcock, Alfred (tháng 2 năm 1920). "Sordid" Lưu trữ 2017-12-23 tại Wayback Machine, Henley Telegraph.
  34. ^ Hitchcock 2014, tr. 22; Hitchcock, Alfred (tháng 9 năm 1920). "And There Was No Rainbow" Lưu trữ 23 tháng 12 2017 tại Wayback Machine, Henley Telegraph.
  35. ^ Hitchcock 2014, tr. 23; Hitchcock, Alfred (tháng 12 năm 1920). "What's Who?", Henley Telegraph.
  36. ^ Hitchcock 2014, tr. 24; Hitchcock, Alfred (tháng 12 năm 1920). "The History of Pea Eating" Lưu trữ 2017-10-03 tại Wayback Machine, Henley Telegraph.
  37. ^ Hitchcock 2014, tr. 26; McGilligan 2003, tr. 44–45; Hitchcock, Alfred (March 1921). "Fedora" Lưu trữ 2017-12-23 tại Wayback Machine, Henley Telegraph.
  38. ^ Taylor 1996, tr. 21.
  39. ^ a b c d Truffaut 1983, tr. 27.
  40. ^ Taylor 1996, tr. 24.
  41. ^ Spoto 2008, tr. 3.
  42. ^ Miller, Henry K. “Always Tell Your Wife (1923)”. British Film Institute Screenonline. Lưu trữ bản gốc 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập 25 tháng 8 năm 2016.
  43. ^ a b Spoto 1992, tr. 3.
  44. ^ Kerzoncuf & Barr 2015, tr. 45.
  45. ^ Rose, Steve (15 tháng 1 năm 2001). “Where the lady vanished”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2017. Truy cập 30 tháng 12 năm 2017.
  46. ^ a b Spoto 2008, tr. 3–4.
  47. ^ Truffaut 1983, tr. 30.
  48. ^ Gottlieb 2002, tr. 42; Gottlieb 2003, tr. 157–158; also see Garncarz 2002
  49. ^ Gottlieb 2002, tr. 42–43.
  50. ^ Truffaut 1983, tr. 31, 36.
  51. ^ McGilligan 2003, tr. 68–71.
  52. ^ a b Truffaut 1983, tr. 39.
  53. ^ a b McGilligan 2003, tr. 70.
  54. ^ McGilligan 2003, tr. 63.
  55. ^ McGilligan 2003, tr. 64.
  56. ^ “Alfred Hitchcock Collectors' Guide: The Mountain Eagle (1926)”. Brenton Film. 23 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập 30 tháng 8 năm 2019.
  57. ^ Spoto 1992, tr. 5.
  58. ^ McGilligan 2003, tr. 98.
  59. ^ Taylor 1996, tr. 76.
  60. ^ Spoto 1999, tr. 5.
  61. ^ McGilligan 2003, tr. 89–90.
  62. ^ Hitchcock & Bouzereau 2003, tr. 15.
  63. ^ Hitchcock & Bouzereau 2003, tr. 48; Spoto 1999, tr. 92–93
  64. ^ Spoto 1999, tr. 115; Hitchcock & Bouzereau 2003, tr. 55; Clark, Ross (13 tháng 4 năm 2008). “Alfred Hitchcock: A long way from the Bates Motel”. The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập 5 tháng 4 năm 2018.
  65. ^ Hitchcock & Bouzereau 2003, tr. 59–60.
  66. ^ Champlin, Charles (29 tháng 7 năm 1982). “Alma Reville Hitchcock, The Unsung Partner”. Los Angeles Times.
  67. ^ "Alfred Hitchcock Accepts the AFI Life Achievement Award in 1979" Lưu trữ 2020-06-15 tại Wayback Machine, Viện phim Mỹ, 16 tháng 4 năm 2009, 00:03:14.
  68. ^ Walker 2005, tr. 88.
  69. ^ McGilligan 2003, tr. 120–123; “Alfred Hitchcock and David O. Selznick Collaborations”. Public Broadcasting System. 10 tháng 1 năm 2001. Lưu trữ bản gốc 19 tháng 3 năm 2008.
  70. ^ McGilligan 2003, tr. 137.
  71. ^ Kerzoncuf, Alain (tháng 2 năm 2009). “Alfred Hitchcock and The Fighting Generation”. Senses of Cinema (49). Lưu trữ bản gốc 5 tháng 4 năm 2018. Truy cập 15 tháng 12 năm 2017.
  72. ^ Spoto 1999, tr. 37.
  73. ^ McGilligan 2003, tr. 153.
  74. ^ Scragow, Michael (9 tháng 7 năm 2012). “Rewatching Hitchcock's "The 39 Steps". The New Yorker. Lưu trữ bản gốc 26 tháng 10 năm 2017. Truy cập 25 tháng 10 năm 2017.
  75. ^ McArthur, Colin (2003). Whisky Galore! and the Maggie. London: I.B. Tauris. tr. 21.
  76. ^ Truffaut 1983, tr. 137–139
  77. ^ Truffaut 1983, tr. 121.
  78. ^ Leff 1999, tr. 35.
  79. ^ Taylor 1996, tr. 153.
  80. ^ a b Taylor 1996, tr. 154.
  81. ^ Leff 1999, tr. 30
  82. ^ “Alfred Hitchcock: England's Best Director starts work in Hollywood”. Life: 66. 19 tháng 6 năm 1939.
  83. ^ Taylor 1996, tr. 152.
  84. ^ McGilligan 2003, tr. 251–252
  85. ^ Billheimer, John (1 tháng 5 năm 2019). “Hitchcock and Selznick”. Hitchcock and the Censors. Đại học báo chí Kentucky. tr. 59–63. doi:10.5810/kentucky/9780813177427.003.0006. ISBN 978-0-8131-7742-7.
  86. ^ Truffaut 1983, tr. 145.
  87. ^ Gottlieb 2003, tr. 206
  88. ^ Wood 2002, tr. 240.
  89. ^ Taylor 1996, tr. 150.
  90. ^ Taylor 1996, tr. 155.
  91. ^ Duncan 2003, tr. 84
  92. ^ Pokriots, Marion. “Alfred Hitchcock Found Contentment in SV”. Scotts Valley Historical Society. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 1 năm 2019. Truy cập 31 tháng 12 năm 2018.
  93. ^ a b McCarthy, Todd (7 tháng 5 năm 1980). “Alfred Hitchcock Dies Of Natural Causes at Bel-Air Home”. Variety. Lưu trữ bản gốc 13 tháng 12 năm 2017. Truy cập 12 tháng 12 năm 2017.
  94. ^ Whitty 2016, tr. 434–435.
  95. ^ Truffaut 1983, tr. 142–143.
  96. ^ Luther, Claudia (15 tháng 12 năm 2013). “Joan Fontaine, actress who won Oscar for 'Suspicion,' dies at 96”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc 27 tháng 3 năm 2015. Truy cập 4 tháng 1 năm 2018.
  97. ^ Humphries 1994, tr. 71
  98. ^ McGilligan 2003, tr. 445.
  99. ^ "Have You Heard?": The Story of Wartime Rumors”. Life: 68. 13 tháng 7 năm 1942.
  100. ^ Brunsdale 2010, tr. 442.
  101. ^ McGilligan 2003, tr. 321.
  102. ^ McGilligan 2003, tr. 325.
  103. ^ Taylor 1996, tr. 193.
  104. ^ McGilligan 2003, tr. 326.
  105. ^ McGilligan 2003, tr. 327.
  106. ^ Leitch, Thomas. “Shadow of a Doubt” (PDF). Library of Congress. Lưu trữ (PDF) bản gốc 15 tháng 2 năm 2017. Truy cập 31 tháng 12 năm 2017.
  107. ^ Truffaut 1983, tr. 159.
  108. ^ McGilligan 2003, tr. 372–374
  109. ^ Jeffries, Stuart (9 tháng 1 năm 2015). “The Holocaust film that was too shocking to show”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc 10 tháng 1 năm 2017. Truy cập 24 tháng 8 năm 2017.
  110. ^ “Memory of the Camps: Frequently Asked Questions”. PBS. Lưu trữ bản gốc 22 tháng 2 năm 2015. Truy cập 6 tháng 3 năm 2015.
  111. ^ Boyd, David (2000). “The Parted Eye: Spellbound and Psychoanalysis”. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 12 năm 2010.
  112. ^ Leff 1987, tr. 164–165
  113. ^ Whitty 2016, tr. 408–412.
  114. ^ “The Miklos Rozsa Society Website”. 2017. Lưu trữ bản gốc 24 tháng 3 năm 2016. Truy cập 13 tháng 12 năm 2017.
  115. ^ Truffaut 1983, tr. 168.
  116. ^ McGilligan 2003, tr. 370–371.
  117. ^ McGilligan 2003, tr. 421.
  118. ^ a b c d Evans 2004.
  119. ^ Spoto 1999, tr. 138.
  120. ^ Taylor 1996, tr. 179.
  121. ^ Warren 2001, tr. 62, 72
  122. ^ Harris & Lasky 2002, tr. 150
  123. ^ McGilligan 2003, tr. 429, 774–775
  124. ^ Leitch 2002, tr. 320, 322
  125. ^ “Notes: I Confess (1953)”. TCM. Lưu trữ bản gốc 22 tháng 12 năm 2018. Truy cập 15 tháng 12 năm 2017.
  126. ^ Leitch 2002, tr. 78
  127. ^ French, Philip (28 tháng 7 năm 2013). “Dial M for Murder 3D – review”. The Observer. Lưu trữ bản gốc 22 tháng 7 năm 2016. Truy cập 30 tháng 12 năm 2017.
  128. ^ Leitch 2002, tr. 269
  129. ^ a b “Alfred Hitchcock Presents”. TV.COM. Lưu trữ bản gốc 25 tháng 1 năm 2008.
  130. ^ LoBrutto, Vincent (2018). TV in the USA: A History of Icons, Idols, and Ideas. Greenwood Publishing Group. tr. 6. ISBN 978-1-4408-2972-7.
  131. ^ “Alfred Hitchcock (suspense anthology)”. Media Management Group. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 2 năm 2008. Truy cập 7 tháng 1 năm 2008.
  132. ^ a b Taylor 1996, tr. 202.
  133. ^ Taylor 1996, tr. 203.
  134. ^ McGilligan 2003, tr. 512
  135. ^ Leitch 2002, tr. 366
  136. ^ Brown 1994, tr. 75
  137. ^ Leitch 2002, tr. 377
  138. ^ Taylor 1996, tr. 212.
  139. ^ Fallaci 1963.
  140. ^ Kehr 2011, tr. 259
  141. ^ “San Sebastian Film Festival”. San Sebastian Film Festival. Truy cập 19 tháng 11 năm 2020.
  142. ^ Ravetto-Biagioli, Kriss; Beugnet, Martine (27 tháng 9 năm 2019). “Vertiginous Hauntings: The Ghosts of Vertigo”. Film-Philosophy. 23 (3): 227–246. doi:10.3366/film.2019.0114.
  143. ^ “Vertigo”. Variety. 14 tháng 5 năm 1958. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  144. ^ Crowther, Bosley (29 tháng 5 năm 1958). “Vertigo,' Hitchcock's Latest; Melodrama Arrives at the Capitol (Published 1958)”. The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập 19 tháng 11 năm 2020.
  145. ^ Leitch 2002, tr. 376
  146. ^ a b Taylor 1996, tr. 217.
  147. ^ “Box Office: For the Books”. Time. 31 tháng 8 năm 1959. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 5 năm 2012.
  148. ^ “Cinema: The New Pictures”. Time. 17 tháng 8 năm 1959.Weiler, A.H. (7 tháng 8 năm 1959). “Hitchcock Takes Suspenseful Cook's Tour: North by Northwest Opens at Music Hall”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc 29 tháng 9 năm 2013. Truy cập 21 tháng 8 năm 2017.
  149. ^ Leitch 2002, tr. 260
  150. ^ Rebello 1990, tr. 7–14
  151. ^ Leitch 2002, tr. 261
  152. ^ Gleiberman, Owen (24 tháng 1 năm 2017). “Film Review: '78/52: Hitchcock's Shower Scene'. Variety. Lưu trữ bản gốc 13 tháng 12 năm 2017. Truy cập 12 tháng 12 năm 2017.Bradshaw, Peter (13 tháng 10 năm 2017). “78/52 review – Hitchcock's Psycho shower scene gets an expert autopsy”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập 27 tháng 12 năm 2017.
  153. ^ Leitch 2002, tr. 262
  154. ^ a b Leigh & Nickens 1995
  155. ^ Rebello 1990, tr. 182.
  156. ^ Verevis 2006, tr. 22.
  157. ^ Truffaut 1983, tr. 12.
  158. ^ Jeffries, Stuart (12 tháng 5 năm 2015). 'Actors are cattle': when Hitchcock met Truffaut”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2018. Truy cập 16 tháng 1 năm 2018.
  159. ^ Truffaut 1983, tr. 11–12.
  160. ^ Alden, Robert (20 tháng 3 năm 1962). “Princess Grace Will Star in Hitchcock Movie”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập 11 tháng 6 năm 2018.
  161. ^ McGilligan 2003, tr. 611–613; MacDonald 2012, tr. 36
  162. ^ Moral 2013, tr. 15.
  163. ^ a b c McDonald, Thomas (1 tháng 4 năm 1962). “Watching 'Birds': Happy Hitchcock Films Terror-Ridden Tale”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc 4 tháng 12 năm 2013. Truy cập 3 tháng 1 năm 2018.
  164. ^ Spoto 2008, tr. 245.
  165. ^ Rothman 2014, tr. 203.
  166. ^ Spoto 1999, tr. 451–452, 455–457, 467–468, 472–473; Spoto 2008, tr. 250–251, 264
  167. ^ Goldman, Andrew (5 tháng 10 năm 2012). “The Revenge of Alfred Hitchcock's Muse”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc 23 tháng 6 năm 2017. Truy cập 5 tháng 2 năm 2017.
  168. ^ Spoto 2008, tr. 265.
  169. ^ Spoto 1999, tr. 457–459.
  170. ^ Taylor 1996, tr. 270; Moral 2013, tr. 16
  171. ^ a b Brody, Richard (17 tháng 8 năm 2016). "Marnie" Is the Cure for Hitchcock Mania”. The New Yorker. Lưu trữ bản gốc 3 tháng 1 năm 2018. Truy cập 2 tháng 1 năm 2018.Brody, Richard (2012). “Tippi Hedren's Silence”. The New Yorker. Lưu trữ bản gốc 5 tháng 1 năm 2018. Truy cập 5 tháng 1 năm 2018.
  172. ^ Archer, Eugene (23 tháng 7 năm 1964). “Hitchcock's 'Marnie,' With Tippi Hedren and Sean Connery”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2017. Truy cập 3 tháng 1 năm 2018.
  173. ^ Cleaver, Emily (13 tháng 8 năm 2012). “My favourite Hitchcock: Marnie”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2017.
  174. ^ Spoto 1999, tr. 471.
  175. ^ Moral 2013, tr. 37, trích lời Evan Hunter (1997). Me and Hitch.
  176. ^ Moral 2013, tr. 38–39.
  177. ^ Rebello 1990, tr. 188.
  178. ^ Smith 2002, tr. 272–274; Stephens, Andrew (9 tháng 1 năm 2016). “The sound of Hitchcock: How Bernard Herrmann's music brought his films to life”. The Sydney Morning Herald. Lưu trữ bản gốc 19 tháng 3 năm 2017. Truy cập 20 tháng 12 năm 2016.
  179. ^ Smith 2002, tr. 273–274.
  180. ^ Truffaut 1983, tr. 328.
  181. ^ Truffaut 1983, tr. 333.
  182. ^ Leitch 2002, tr. 114–115
  183. ^ Spoto 1999, tr. 513–514.
  184. ^ McGilligan 2003, tr. 249
  185. ^ Hollenback, Sharon Sue Rountree (1980). Analysis Of Processes Involved In Screenwriting As Demonstrated In Screenplays By Ernest Lehman. Hoa Kỳ: Ann Arbor. tr. 64. ISBN 9798644965205.
  186. ^ McGilligan 2003, tr. 731–734; Freeman 1999
  187. ^ “Queen's honours: People who have turned them down named”. BBC News. 5 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc 26 tháng 11 năm 2016. Truy cập 21 tháng 7 năm 2018.
  188. ^ “No. 48041”. The London Gazette (Supplement): 6. 28 tháng 12 năm 1979.
  189. ^ a b Spoto 1999, tr. 553
  190. ^ a b Ebert, Roger (2 tháng 1 năm 1980). “Hitchcock: he always did give us knightmares”. Chicago Sun-Times. Lưu trữ bản gốc 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập 12 tháng 12 năm 2015.
  191. ^ McGilligan 2003, tr. 745
  192. ^ Grenier, Richard (6 tháng 3 năm 1983). “NY Times – 'And Suddenly Evil Erupts' biography review 1996”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập 16 tháng 7 năm 2019.
  193. ^ Henninger, Mark (6 tháng 12 năm 2012). “Alfred Hitchcock's Surprise Ending”. The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc 7 tháng 2 năm 2013.
  194. ^ Flint, Peter B. (30 tháng 4 năm 1980). “Alfred Hitchcock Dies; A Master of Suspense”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc 25 tháng 7 năm 2018. Truy cập 25 tháng 7 năm 2018.
  195. ^ “Alfred Hitchcock”. Hollywood Walk of Fame. Lưu trữ bản gốc 28 tháng 10 năm 2016. Truy cập 16 tháng 12 năm 2016.
  196. ^ Wood, Jennifer M. (6 tháng 7 năm 2002). “The 25 Most Influential Directors of All Time”. MovieMaker. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 4 năm 2017. Truy cập 22 tháng 8 năm 2017.
  197. ^ Wicks, Kevin. “Telegraph's Top 21 British Directors of All-Time”. BBC America. Truy cập 7 tháng 7 năm 2021.
  198. ^ Avedon, Richard (14 tháng 4 năm 2007). “The top 21 British directors of all time”. The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc 28 tháng 3 năm 2016. Truy cập 5 tháng 4 năm 2018.
  199. ^ “Sight and Sound Poll 1992: Critics”. California Institute of Technology. Bản gốc lưu trữ 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập 29 tháng 5 năm 2009.
  200. ^ “BFI | Sight & Sound | Top Ten Poll 2002 – The Critics' Top Ten Directors”. 3 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 3 năm 2016.
  201. ^ “BFI | Sight & Sound | Top Ten Poll 2002 – The Directors' Top Ten Directors”. 13 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 10 năm 2018.
  202. ^ a b “Greatest Film Directors and Their Best Films”. Filmsite.org. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 4 năm 2015. Truy cập 19 tháng 4 năm 2009.
  203. ^ “Greatest Film Directors”. filmsite.org.
  204. ^ “The Greatest Directors Ever by Total Film Magazine”. Filmsite.org. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 4 năm 2014. Truy cập 19 tháng 4 năm 2009.
  205. ^ “1971 Film Fellowship | BAFTA Awards”. awards.bafta.org. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2018. Truy cập 2 tháng 2 năm 2018.
  206. ^ Pope, Nick (22 tháng 4 năm 2021). “6 Legendary Filmmakers Who Haven't Won a 'Best Director' Oscar (and When They Should Have Won It)”. Esquire. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2021.
  207. ^ “The 13th Academy Awards (1941) Nominees and Winners”. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. 2012. Lưu trữ bản gốc 3 tháng 3 năm 2012. Truy cập 21 tháng 6 năm 2012.
  208. ^ Davies, Caroline (4 tháng 10 năm 2016). “New faces on Sgt Pepper album cover for artist Peter Blake's 80th birthday”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc 5 tháng 11 năm 2016. Truy cập 5 tháng 11 năm 2016.“The New Elizabethans – Alfred Hitchcock”. BBC. Lưu trữ bản gốc 25 tháng 11 năm 2012. Truy cập 24 tháng 8 năm 2017.
  209. ^ Kehr, Dave (23 tháng 6 năm 2013). “Hitchcock, Finding His Voice in Silents”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc 9 tháng 11 năm 2017. Truy cập 2 tháng 11 năm 2017.
  210. ^ “Preserved Projects”. Academy Film Archive. Truy cập 18 tháng 9 năm 2020.
  211. ^ “Alfred Hitchcock Collection”. Academy Film Archive. 5 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc 2 tháng 7 năm 2016. Truy cập 30 tháng 6 năm 2016.
  212. ^ “Film”. Harry Ransom Center, University of Texas at Austin. Lưu trữ bản gốc 10 tháng 8 năm 2017. Truy cập 17 tháng 8 năm 2017.

Tác phẩm trích dẫnSửa đổi

Tiểu sử (theo thời gian)

Tổng hợp

  • Allen, Richard; Ishii-Gonzalès, S. (2004). Hitchcock: Past and Future. Routledge. ISBN 978-0-415-27525-5.
  • Bellour, Raymond; Penley, Constance (2000). The Analysis of Film. Indiana University Press. ISBN 978-0-253-21364-8.
  • Brown, Royal S. (1994). Overtones and Undertones: Reading Film Music. University of California Press. ISBN 978-0-520-91477-3.
  • Brunsdale, Mitzi M. (2010). Icons of Mystery and Crime Detection: From Sleuths to Superheroes. ABC-CLIO.
  • DeRosa, Steven (2001). Writing with Hitchcock. New York: Faber and Faber. ISBN 978-0-571-19990-7.
  • Evans, Peter William (2004). “Hitchcock, Alfred Joseph”. Oxford Dictionary of National Biography . Oxford University Press. doi:10.1093/ref:odnb/31239.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)(yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)
  • Fallaci, Oriana (1963). “Mr. Chastity”. The Egotists: Sixteen Surprising Interviews. Chicago: Henry Regnery. tr. 239–256.
  • Faretta, Ángel (2019). Hitchcock en obra (bằng tiếng Tây Ban Nha). Buenos Aires: A Sala llena. ISBN 9789877616354. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019.
  • Garncarz, Joseph (2002). “German Hitchcock”. Trong Gottlieb, Sidney; Brookhouse, Christopher (biên tập). Framing Hitchcock: Selected Essays from the Hitchcock Annual. Detroit: Wayne State University Press. tr. 59–81.
  • Gottlieb, Sydney (2002). “Early Hitchcock: The German Influence”. Trong Gottlieb, Sidney; Brookhouse, Christopher (biên tập). Framing Hitchcock: Selected Essays from the Hitchcock Annual. Detroit: Wayne State University Press. tr. 35–58.
  • Gottlieb, Sidney (2003). Alfred Hitchcock: Interviews. University Press of Mississippi. ISBN 978-1-57806-562-2.
  • Harris, Robert A.; Lasky, Michael S. (2002) [1976]. The Complete Films of Alfred Hitchcock. Secaucus, N.J: Citadel Press.
  • Hitchcock, Alfred (2014). Gottlieb, Sidney (biên tập). Hitchcock on Hitchcock, Volume 2: Selected Writings and Interviews. Oakland: University of California Press. ISBN 978-0-520-96039-8.
  • Hitchcock, Patricia; Bouzereau, Laurent (2003). Alma Hitchcock: The Woman Behind the Man. New York: Berkley Books. ISBN 978-0-425-19005-0.
  • Humphries, Patrick (1994). The Films of Alfred Hitchcock . Crescent Books. ISBN 978-0-517-10292-3.
  • Kaganski, Serge (1997). Alfred Hitchcock. Paris: Hazan.
  • Kapsis, Robert E. (1992). Hitchcock: The Making of a Reputation . University of Chicago Press.
  • Kehr, Dave (2011). When Movies Mattered: Reviews from a Transformative Decade. University of Chicago Press. ISBN 978-0-226-42940-3. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2015.
  • Kerzoncuf, Alain; Barr, Charles (2015). Hitchcock Lost and Found: The Forgotten Films. Lexington: Đại học báo chí Kentucky.
  • Krohn, Bill (2000). Hitchcock at Work. Phaidon. ISBN 978-0-7148-3953-0.
  • Leff, Leonard J. (1987). Hitchcock and Selznick. University of California Press. ISBN 978-0-520-21781-2.
  • Leff, Leonard (1999). The Rich and Strange Collaboration of Alfred Hitchcock and David O. Selznick in Hollywood. Đại học báo chí California. ISBN 978-0-520-21781-2.
  • Leigh, Janet; Nickens, Christopher (1995). Psycho: Behind the Scenes of the Classic Thriller. Harmony Press. ISBN 978-0-517-70112-6.
  • Leitch, Thomas (2002). The Encyclopedia of Alfred Hitchcock. Checkmark Books. ISBN 978-0-8160-4387-3.
  • MacDonald, Erin E. (2012). Ed McBain/Evan Hunter: A Literary Companion. Jefferson: McFarland.
  • Moral, Tony Lee (2013). Hitchcock and the Making of Marnie. Lanham: Scarecrow Press.
  • Mulvey, Laura (1989) [1975]. “Visual Pleasure and Narrative Cinema”. Trong Mulvey, Laura (biên tập). Visual and Other Pleasures. Bloomington: Indiana University Press. tr. 14–24.
  • Rebello, Stephen (1990). Alfred Hitchcock and the Making of Psycho. Berkeley: Soft Skull Press. ISBN 978-0-7145-2915-8.
  • Rothman, William (2014). Must We Kill the Thing We Love?: Emersonian Perfectionism and the Films of Alfred Hitchcock. New York: Columbia University Press.
  • Sloan, Jane (1995). Alfred Hitchcock: A Filmography and Bibliography. Oakland: University of California Press. ISBN 978-0-520-08904-4.
  • Smith, Steven C. (2002). A Heart at Fire's Center: The Life and Music of Bernard Herrmann. Oakland: Đại học báo chí California.
  • Spoto, Donald (1992) [1976]. The Art of Alfred Hitchcock (ấn bản 2). New York: Anchor Books. ISBN 978-0-385-41813-3.
  • Verevis, Constantine (2006). “For Ever Hitchcock: Psycho and Its Remakes”. Trong Boyd, David; Palmer, R. Barton (biên tập). After Hitchcock: Influence, Imitation, and Intertextuality. Austin: Đại học báo chí Texas. tr. 15–30.
  • Walker, Michael (2005). Hitchcock's motifs. Amsterdam University Press. ISBN 978-90-5356-773-9.
  • Warren, Patricia (2001). British Film Studios: An Illustrated History. B. T. Batsford. ISBN 978-0-7134-7559-3.
  • White, Rob; Buscombe, Edward (2003). British Film Institute Film Classics, Volume 1. London: Taylor & Francis. ISBN 978-1-57958-328-6.
  • White, Susan (2011). “A Surface Collaboration: Hitchcock and Performance”. Trong Leitch, Thomas; Poague, Leland (biên tập). A Companion to Alfred Hitchcock. Chichester: John Wiley & Sons. tr. 181–198.
  • Whitty, Stephen (2016). The Alfred Hitchcock Encyclopedia. Lanham and London: Rowman & Littlefield.
  • Wood, Robin (2002). Hitchcock's Films Revisited (ấn bản 2). New York: Columbia University Press. ISBN 978-0-231-12695-3.

Liên kết ngoàiSửa đổi

Bản mẫu:Alfred Hitchcock