Mở trình đơn chính

Ali Ahmed Mabkhout Mohsen Omaran Alhajeri (tiếng Ả Rập: علي أحمد مبخوت محسن عمران الهاجري‎; sinh ngày 5 tháng 10 năm 1990) được biết đến là Ali Mabkhout, là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất ở vị trí tiền đạo, thi đấu cho Câu lạc bộ Al JaziraĐội tuyển bóng đá quốc gia Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.

Ali Mabkhout
Ali Mabkhout, UAE&AUS 20190125 Asian Cup.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ali Ahmed Mabkhout Mohsen Omaran Alhajeri
Ngày sinh 5 tháng 10, 1990 (29 tuổi)
Nơi sinh Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Chiều cao 1,81 m
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Câu lạc bộ Al Jazira
Số áo 7
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2004–2008 Al Jazira
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008– Al Jazira 161 (122)
Đội tuyển quốc gia
2008–2009 U20 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 10 (0)
2012 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Olympic 16 (4)
2012– Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 82 (55)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 11 tháng 9 năm 2018
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 15 tháng 10 năm 2019

So với cựu cầu thủ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Adnan Al Talyani, Mabkhout được mô tả là có sức mạnh thể chất tuyệt vời và khả năng tăng tốc nhanh.

Sự nghiệp câu lạc bộSửa đổi

Al JaziraSửa đổi

Mabkhout đã ra mắt vào ngày 17 tháng 4 năm 2009 trong chiến thắng 4-1 trên sân nhà trước Câu lạc bộ Al Sharjah, nhưng anh đã không thể hiện gì đáng kể trong trận ra mắt. Trận đấu thứ hai của anh là trận đấu với Al Dhafra vào ngày 26 tháng 4, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên cho Al Jazira. Anh bắt đầu trận đấu tiếp theo với các đối thủ của Al Ain trong trận derby Dubai. Tài năng của Mabkhout tăng lên đáng kể và anh đã ghi bàn thắng thứ hai của mình ở phút thứ 90 và trận đấu kết thúc với tỷ số 2-0 trước đội Al Jazira.

Anh ấy đã ra mắt AFC Champions League khi đối đầu Al Ittihad vào ngày 22 tháng 4 năm 2009 sau khi được thay người vào những phút cuối.[1] Vào ngày 19 tháng 5 năm 2009, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên tại AFC Champions League vào phút thứ 49 trong trận đấu với Esteghlal trong trận hòa 2 đều.[2]

Mabkhout đã có được động lực sau mùa giải đầu tiên, nhận được nhiều danh tiếng khi tạo ra các cơ hội ghi bàn. Anh và Ricardo Oliveira - người đồng đội của Mabkhout từ năm 2009 đến 2014 đã kết thân bạn bè. Sự hợp tác này đã góp phần đáng kể vào việc phát triển tài năng của Mabkhout trong những năm đầu sự nghiệp của anh.[3]

Sự nghiệp quốc tếSửa đổi

Tuổi trẻSửa đổi

Thế vận hội Mùa hè 2012Sửa đổi

Anh là thành viên của Đội Olympic Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đủ tiêu chuẩn tham dự Thế vận hội Mùa hè 2012 tại London. Anh đã chơi 3 trận trong các trận đấu Olympic với Uruguay, Vương quốc AnhSenegal.

Cầu thủ chuyên nghiệpSửa đổi

Vào ngày 16 tháng 10 năm 2012 tại Sân vận động Za'abeelDubai với áo của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất trong trận giao hữu với Bahrain, Ali Mabkhout đã ghi cú hat-trick đầu tiên và đưa UAE giành chiến thắng khủng 6-2.

Cúp bóng đá vịnh Ả Rập lần thứ 21Sửa đổi

Ali Mabkhout đã chơi trận đấu quốc tế lớn đầu tiên của anh ấy tại Cúp bóng đá vịnh Ả Rập lần thứ 21 vào năm 2013. Anh đóng vai trò quan trọng trên con đường vinh quang của đội. Bàn thắng đầu tiên của anh vào lưới Qatar ở phút thứ 28 đã kết thúc với chiến thắng 3-1 cho UAE. Anh ấy cũng đã ghi một bàn thắng tuyệt vời vào lưới Bahrain trong trận đấu nhóm thứ hai sau khi vượt qua Abdulla Marzooq - Đội trưởng đội tuyển quốc gia Bahrain với kỹ năng rê bóng tuyệt vời khiến Marzooq rối và ghi một bàn vào bên phải của thủ môn ở phút 39.

Cúp bóng đá châu Á 2015Sửa đổi

Mabkhout nằm trong đội hình 23 người của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cho AFC Asian Cup được tổ chức tại Úc. Anh bắt đầu trận mở màn của giải đấu với Qatar và ghi hai bàn trong chiến thắng 4-1. Trong trận đấu tiếp theo với Bahrain, Mabkhout đã ghi bàn thắng nhanh nhất trong lịch sử AFC Asian Cup ở giây thứ 14. UAE thắng 2-1 và đủ điều kiện bước vào vòng đấu loại trực tiếp. Trong trận tứ kết, Mabkhout đã ghi bàn thắng mở và kết thúc 2 hiệp với tỉ số 1-1 với Nhật Bản tại Sân vận động Úc tại Sydney. Anh ấy tiếp tục giúp Dubai đánh bại đương kim vô địch 5-4 trong loạt sút luân lưu.[4] Anh ấy cũng đã ghi bàn thắng trong chiến thắng 3-2 của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất trước Iraq trong trận tranh hạng ba. Sau đó, anh đã giành Chiếc giày vàng với tư cách là cây săn bàn hàng đầu của giải đấu với 5 bàn thắng.

Thống kêSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp2 AFC Champions League1 Tổng
Số trận Bàn thắng Kiến tạo Số trận Bàn thắng Kiến tạo Số trận Bàn thắng Kiến tạo Số trận Bàn thắng Kiến tạo
Al Jazira 2009-10 16 3 0 6 2 0 1 1 0 23 6 0
2010-11 8 2 0 6 4 0 0 0 0 14 6 0
2011-12 12 3 0 3 0 0 3 1 0 18 4 0
2012-13 24 11 0 2 1 0 4 1 0 30 13 0
2013-14 19 7 1 0 0 0 8 3 0 27 10 1
2014-15 24 16 4 0 0 0 1 1 0 25 17 4
2015-16 23 23 1 1 0 0 5 2 0 29 25 1
2016-17 25 33 0 1 0 0 4 1 0 30 35 0
Tổng 151 98 6 19 7 0 26 10 0 196 116 6
Tổng danh hiệu sự nghiệp 151 98 6 19 7 0 26 10 0 196 116 6


1 Các cuộc thi lục địa bao gồm AFC Champions League
2 Các giải đấu khác bao gồm Cúp Tổng thống Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhấtEtisalat Emirates Cup

Bàn thắng quốc tếSửa đổi

Bàn thắng cầu thủ ghi và tỉ số cuối cùng của đội tuyển Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.[5]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Tỉ số Giải
1 16 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Zabeel, Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Bahrain 1–0 6–2 Giao hữu
2 2–2
3 4–2
4 5–2
5 14 tháng 11 năm 2012 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Estonia 2–1 2–1
6 5 tháng 1 năm 2013 Sân vận động Thành phố Thể thao Khalifa, Làng Isa, Bahrain   Qatar 2–1 3–1 Cúp bóng đá vùng Vịnh lần thứ 21
7 8 tháng 1 năm 2013 Sân vận động Quốc gia Bahrain, Riffa, Bahrain   Bahrain 1–0 2–1
8 22 tháng 3 năm 2013 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Uzbekistan 2–1 2–1 Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2015
9 5 tháng 9 năm 2013 Sân vận động quốc tế King Fahd, Riyadh, Ả Rập Xê Út   Trinidad và Tobago 2–0 3–3 Cúp OSN 2013
10 9 tháng 9 năm 2013 Sân vận động quốc tế King Fahd, Riyadh, Ả Rập Xê Út   New Zealand 2–0 2–0
5 tháng 10 năm 2013 Sân vận động Thâm Quyến, Thâm Quyến, Trung Quốc   Lào 2–0 2–0 Giao hữu không chính thức
9 tháng 10 năm 2013 Sân vận động Thâm Quyến, Thâm Quyến, Trung Quốc   Malaysia 3–0 3–1 Giao hữu không chính thức
11 15 tháng 10 năm 2013 Sân vận động Hồng Kông, So Kon Po, Hồng Kông   Hồng Kông 1–0 4–0 Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2015
12 2–0
13 3–0
14 9 tháng 11 năm 2013 Sân vận động Al Nahyan, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Philippines 4–0 4–0 Giao hữu
15 19 tháng 11 năm 2013 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Việt Nam 3–0 5–0 Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2015
16 17 tháng 11 năm 2014 Sân vận động Hoàng tử Faisal bin Fahd, Riyadh, Ả Rập Xê Út   Kuwait 1–0 2–2 Cúp bóng đá vùng Vịnh lần thứ 22
17 2–0
18 20 tháng 11 năm 2014 Sân vận động quốc tế King Fahd, Riyadh, Ả Rập Xê Út   Iraq 1–0 2–0
19 2–0
20 25 tháng 11 năm 2014 Sân vận động Hoàng tử Faisal bin Fahd, Riyadh, Ả Rập Xê Út   Oman 1–0 1–0
21 11 tháng 1 năm 2015 Sân vận động Canberra, Canberra, Úc   Qatar 3–1 4–1 Cúp bóng đá châu Á 2015
22 4–1
23 15 tháng 1 năm 2015 Sân vận động Canberra, Canberra, Úc   Bahrain 1–0 2–1
24 23 tháng 1 năm 2015 Sân vận động Australia, Sydney, Úc   Nhật Bản 1–0 1–1 Cúp bóng đá châu Á 2015
25 30 tháng 1 năm 2015 Sân vận động Newcastle, Newcastle, Úc   Iraq 3–2 3–2
26 3 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Malaysia
2–0
10–0
Vòng loại FIFA World Cup 2018
27 6–0
28 8–0
29 5 tháng 11 năm 2015 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Turkmenistan
3–1
5–1
Giao hữu
30 4–1
31 5–1
32 12 tháng 11 năm 2015 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Đông Timor
1–0
8–0
Vòng loại FIFA World Cup 2018
33 2–0
34 16 tháng 1 năm 2016 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Iceland
2–1
2–1
Giao hữu
35 6 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Mohammed bin Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Thái Lan
1–0
3–1
Vòng loại FIFA World Cup 2018
36
2–0
37 7 tháng 6 năm 2017 Sân vận động Shah Alam Selangor, Malaysia   Lào
1–0
4–0
Giao hữu
38
3–0
39 13 tháng 6 năm 2017 Sân vận động Rajamangala, Băng Cốc, Thái Lan   Thái Lan 1–1 1–1 Vòng loại FIFA World Cup 2018
40 29 tháng 8 năm 2017 Sân vận động Hazza bin Zayed, Al Ain, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Ả Rập Xê Út 1–1 2–1
41 14 tháng 11 năm 2017 Sân vận động Quốc tế Khalifa, Al Ain, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Uzbekistan 1–0 1–0 Giao hữu
42 22 tháng 12 năm 2017 Sân vận động Quốc tế Jaber Al-Ahmad, Thành phố Kuwait, Kuwait   Oman 1–0 1–0 Cúp bóng đá vùng Vịnh lần thứ 23
43 11 tháng 9 năm 2018 Estadi Palamós Costa Brava Palamós, Tây Ban Nha   Lào
1–0
3–0
Giao hữu
44
2–0
45 10 tháng 1 năm 2019 Sân vận động Thành phố Thể thao Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Ấn Độ 2–0 2–0 Cúp bóng đá châu Á 2019
46 14 tháng 1 năm 2019 Sân vận động Hazza bin Zayed, Al Ain, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Thái Lan 1–0 1–1
47 21 tháng 1 năm 2019 Sân vận động Thành phố Thể thao Zayed, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Kyrgyzstan 2–1 3–2 (h.p.) Cúp bóng đá châu Á 2019
48 25 tháng 1 năm 2019 Sân vận động Hazza bin Zayed, Al Ain, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Úc 1–0 1–0
49 21 tháng 1 năm 2019 Sân vận động Al Nahyan, Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Ả Rập Xê Út 2–1 2–1 Giao hữu
50 10 tháng 9 năm 2019 Sân vận động quốc gia Bukit Jalil, Kuala Lumpur, Malaysia   Malaysia
1–1
2–1
Vòng loại World Cup 2022
51
2–1
52 10 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Al Maktoum, Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất   Indonesia
2–0
5–0
53 3–0
54 4–0
55 15 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Thammasat, Pathum Thani, Thái Lan   Thái Lan 1–2 1–2

Vinh danhSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

Al Jazira

Quốc tếSửa đổi

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
2010
2010
2013
2015

Cá nhânSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Match Summary - Al Ittihad 1–1 Al Jazira” (PDF). The AFC. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  2. ^ “Match Summary - Al Jazira 2–2 Esteghlal” (PDF). The AFC. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2012. 
  3. ^ Paul Oberjuerge (22 tháng 1 năm 2014). “Oliveira has made a name for himself in Arabian Gulf League”. The National. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019. 
  4. ^ “Asian Cup 2015: UAE complete shock win over Japan to reach semi-final after penalty shootout dramatics”. Australian Broadcasting Corporation. 23 tháng 1 năm 2015. 
  5. ^ “Al-Hajeri, Ali Mabkhout”. National Football Teams. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017. 

Liên kết ngoàiSửa đổi