An toàn và sức khỏe nghề nghiệp

(Đổi hướng từ An toàn và vệ sinh lao động)

An toàn và sức khỏe nghề nghiệp (tiếng Anh: Occupational safety and health - viết tắt: OSH)[1] hoặc sức khỏe và an toàn lao động (tiếng Anh: Occupational health and safety - viết tắt: OHS)[2], còn được gọi đơn giản là sức khỏe nghề nghiệp hoặc an toàn lao động, là một lĩnh vực liên quan đến an toàn, sức khỏephúc lợi của người lao động trong quá trình làm việc. OSH bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục tiêu thúc đẩy một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.[3] Mục tiêu của chương trình an toàn và sức khỏe nghề nghiệp là tạo ra một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người lao động, cũng như của cộng đồng.[4][5][6]

Bức tranh mô tả một người phụ nữ đang kiểm tra công việc của mình trên máy tiện tại một nhà máy ở Anh trong Thế chiến II. Đôi mắt cô vẫn không được bảo vệ. Ngày nay, lao động như vậy sẽ không được phép ở các nước công nghiệp phát triển nhất mà phải cần tuân thủ các tiêu chuẩn về sức khỏe và an toàn lao động cho công nhân. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia khác các tiêu chuẩn như vậy vẫn còn chưa được thực hành tốt hoặc chưa có một tiêu chuẩn an toàn nào cả.

Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, mỗi năm có khoảng 2,78 triệu người chết do tai nạn hoặc bệnh tật liên quan đến nơi làm việc.[7] Điều này tương đương với một người chết sau mỗi 15 giây. Ngoài ra, mỗi năm có khoảng 374 triệu người bị thương liên quan đến công việc không dẫn đến tử vong.[8][9][10] Gánh nặng kinh tế của những tổn thất này là đáng kể, chiếm khoảng 4% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu. Các công ty phải chi trả chi phí chăm sóc sức khỏe, bồi thường cho người lao động bị thương và mất năng suất lao động. Xã hội cũng phải chịu gánh nặng chi phí điều trị bệnh tật nghề nghiệp và chi phí chăm sóc cho người lao động bị thương tật.[9]

Lịch sử sửa

Trước đây, người ta ít quan tâm đến an toàn và sức khỏe của người lao động. Chỉ khi các phong trào lao động xuất hiện, người lao động mới bắt đầu lên tiếng về những nguy cơ mà họ phải đối mặt trong quá trình làm việc. Nhờ đó, các nghiên cứu và quy định về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp mới bắt đầu được chú trọng.

Năm 1700, tác phẩm "De Morbis Artificum Diatriba"[11] đã chỉ ra những nguy cơ sức khỏe mà người lao động phải đối mặt trong quá trình làm việc, chẳng hạn như tiếp xúc với hóa chất, bụi, kim loại, chuyển động lặp đi lặp lại hoặc mạnh, tư thế làm việc lạ, v.v. Tại Vương quốc Anh, Luật Nhà máy được ban hành vào đầu thế kỷ 19 để bảo vệ sức khỏe của trẻ em làm việc trong các nhà máy bông. Luật năm 1833 thành lập Đội Thanh tra Nhà máy chuyên nghiệp để giám sát việc thực thi luật.[12] Ban đầu, Đội Thanh tra chỉ có nhiệm vụ kiểm tra xem các nhà máy có thực hiện đúng quy định giới hạn số giờ làm việc của trẻ emthanh niên trong ngành dệt may hay không. Quy định này nhằm ngăn ngừa việc trẻ em và thanh niên phải làm việc quá sức, dẫn đến mệt mỏi, suy nhược sức khỏe và dị tật, cũng như tăng nguy cơ tai nạn. Sau đó, Đội Thanh tra đã yêu cầu Luật năm 1844 mở rộng quy định này cho cả phụ nữ trong ngành dệt may. Ngoài ra, luật còn yêu cầu các nhà máy trong ngành dệt may phải bảo vệ máy móc, nhưng chỉ ở những khu vực mà phụ nữ hoặc trẻ em có thể tiếp cận.[12]

Năm 1840, một nhóm người được Uỷ ban Điều tra Hoàng gia cử đi điều tra về điều kiện làm việc của công nhân khai thác mỏ. Kết quả điều tra cho thấy công nhân khai thác mỏ thường xuyên phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, nhiều tai nạn xảy ra. Người dân rất phẫn nộ và dẫn đến việc ban hành Luật Mỏ năm 1842. Luật này thành lập một cơ quan thanh tra các mỏ than và hầm mỏ. Nhờ cơ quan thanh tra này, nhiều vụ tai nạn đã được phát hiện và truy tố, đồng thời tình trạng an toàn trong các mỏ than và hầm mỏ đã được cải thiện đáng kể. Đến năm 1850, các thanh tra viên có quyền tự do vào và kiểm tra các cơ sở mỏ bất cứ lúc nào họ muốn.[13]

Năm 1883, Thủ tướng Đức Otto von Bismarck đã ban hành luật bảo hiểm xã hội cho người lao động. Luật này giúp người lao động được bảo vệ khi gặp khó khăn trong cuộc sống, chẳng hạn như thất nghiệp, ốm đau, già yếu hoặc tử vong. Năm 1884, ông tiếp tục ban hành luật bồi thường công nhân, yêu cầu chủ lao động phải trả tiền cho người lao động bị thương trong quá trình làm việc. Những luật này đã được nhiều quốc gia khác trên thế giới áp dụng.[14]

Nguy cơ nghề nghiệp sửa

 
Những chiến dịch cảnh báo về sức khỏe và an toàn lao động đa dạng đã được thực hiện nhằm giảm thiểu rủi ro tại nơi làm việc, chẳng hạn như chiến dịch về an toàn sử dụng thang này.

Nơi làm việc không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm. Những mối nguy này có thể gây hại cho sức khỏe và an toàn của người lao động. Các mối nguy hiểm này có thể được phân loại thành các nhóm như hóa chất, tác nhân sinh học, yếu tố vật lý, điều kiện công thái học bất lợi, tác nhân gây dị ứng, các rủi ro về an toàn, và các yếu tố rủi ro tâm lý xã hội.[15] Thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE) có thể giúp bảo vệ người lao động khỏi nhiều mối nguy hiểm tại nơi làm việc.[16]

Một nghiên cứu quan trọng do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thực hiện cho thấy việc tiếp xúc với thời gian làm việc quá dài là yếu tố rủi ro nghề nghiệp có gánh nặng bệnh tật lớn nhất. Nghiên cứu ước tính rằng trong năm 2016, có khoảng 745.000 trường hợp tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ liên quan đến làm việc quá sức.[17][18]

Hoa Kỳ, mất thính lực do tiếp xúc với tiếng ồn quá lớn tại nơi làm việc là vấn đề phổ biến nhất. Theo ước tính, có 22 triệu công nhân tại Hoa Kỳ bị tiếp xúc với tiếng ồn quá mức tại nơi làm việc, và chi phí bồi thường công nhân cho tình trạng mất thính lực do nghề nghiệp hàng năm là 242 triệu đô la.[19] Ngã là một trong những nguyên nhân phổ biến gây thương tích và tử vong trong lao động. Những ngành nghề có nguy cơ ngã cao nhất là xây dựng, khai thác, vận tải, chăm sóc sức khỏe và vệ sinh, bảo trì tòa nhà.[20] Máy móc có thể làm tổn thương người lao động theo nhiều cách. Ví dụ, các bộ phận chuyển động có thể nghiền nát người, các cạnh sắc có thể cắt người, và bề mặt nóng có thể đốt cháy người.[21]

Nguy cơ sinh học là những tác nhân sinh học có thể gây hại cho con người, bao gồm vi khuẩn, virus, và các chất độc do chúng sản xuất ra. Những tác nhân này có thể gây bệnh cho người lao động trong nhiều ngành nghề. Ví dụ, cúm là một bệnh truyền nhiễm do virus cúm gây ra, có thể lây lan nhanh chóng và ảnh hưởng đến nhiều người lao động.[22] Người lao động ngoài trời như nông dân, người làm vườn và công nhân xây dựng có thể bị động vật cắn hoặc đốt[23][24][25], tiếp xúc với chất độc từ cây cối[26], hoặc mắc các bệnh do động vật truyền[27][28]. Nhân viên y tế có nguy cơ phơi nhiễm với các bệnh truyền qua máu và nhiều bệnh truyền nhiễm khác,[29][30] đặc biệt là những bệnh mới xuất hiện.[31]

Hóa chất nguy hiểm có thể gây hại cho sức khỏe người lao động tại nơi làm việc. Hóa chất nguy hiểm được phân loại thành nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như chất độc thần kinh, chất gây suy giảm miễn dịch, chất gây hại da, chất gây ung thư, chất gây độc sinh sản, chất độc toàn thân, chất gây hen suyễn, chất gây xơ phổi, và chất gây mẫn cảm.[32] Các cơ quan quản lý quy định mức độ tiếp xúc an toàn với hóa chất nguy hiểm để bảo vệ sức khỏe người lao động.[33][34]

Những yếu tố như cảm thấy bất an về công việc, làm việc quá giờ, và khó cân bằng giữa công việc và cuộc sống có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần và cảm xúc của người lao động.[35] Một nghiên cứu của Cochrane cho thấy rằng việc thêm các biện pháp can thiệp hướng đến công việc cho người lao động bị trầm cảm đang điều trị có thể giúp họ giảm số ngày nghỉ làm.[36] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng liệu pháp hành vi nhận thức, liên hệ qua điện thoại có cấu trúc và quản lý chăm sóc đều có thể giúp giảm số ngày nghỉ ốm.[36]

Hệ thống quản lý sửa

Quốc gia sửa

Các quốc gia trên thế giới đều có tiêu chuẩn hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp riêng. Ở ÚcNew Zealand, tiêu chuẩn là AS/NZS 4801-2001. Ở Canada, tiêu chuẩn là CAN/CSA-Z1000-14. Ở Hoa Kỳ, tiêu chuẩn là ANSI/ASSE Z10-2012.[37][38]Pháp, Hiệp hội Française de Normalization (AFNOR) đã xây dựng các tiêu chuẩn về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp.[39][40]Vương quốc Anh, Cơ quan quản lý An toàn và Sức khỏe (HSE) đã xuất bản một hướng dẫn trực tuyến về cách quản lý an toàn và sức khỏe.[41]Đức, bang Bavaria và Saxony đã áp dụng hệ thống quản lý OHRIS. Ở Hà Lan, hệ thống Chứng chỉ An toàn Nhà thầu kết hợp quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp và môi trường.

Quốc tế sửa

Tiêu chuẩn quốc tế về quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp ISO 45001 được ban hành vào ngày 12 tháng 3 năm 2018. Kể từ tháng 3 năm 2021, tiêu chuẩn ISO 45001 đã thay thế OHSAS 18001 và trở thành tiêu chuẩn mới nhất về an toàn sức khỏe nghề nghiệp.[42]

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã ban hành tài liệu ILO-OSH 2001 để giúp các tổ chức triển khai hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (ANTO). Tài liệu này khuyến khích cải thiện liên tục về sức khỏe và an toàn của người lao động. Quá trình cải thiện này bao gồm các bước: xây dựng chính sách, tổ chức, lập kế hoạch và thực hiện, đánh giá và hành động cải thiện. Tất cả các bước này đều được hỗ trợ bởi việc kiểm toán liên tục để đảm bảo hiệu quả.[43] Tiêu chuẩn OHSAS 18001 về hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp được áp dụng ở Anh và Ba Lan từ năm 1999 đến năm 2018. Tiêu chuẩn này được phát triển bởi một nhóm các cơ quan thương mại, tổ chức tiêu chuẩn và cơ quan chứng nhận để giải quyết khoảng trống chưa có tiêu chuẩn quốc tế có thể chứng nhận. Tiêu chuẩn này cũng được thiết kế để tích hợp với ISO 9001 và ISO 14001.[44]

Luật pháp quốc gia và các tổ chức công sửa

Cách thức thực hành an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (ANTO) ở mỗi quốc gia khác nhau, tùy thuộc vào luật, quy định, việc thực thi và các ưu đãi dành cho việc tuân thủ. Ví dụ, ở một số quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU), chính phủ cung cấp tiền hỗ trợ cho các doanh nghiệp áp dụng các biện pháp an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Một số quốc gia khác lại giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Một số quốc gia khác nữa lại giảm phí bảo hiểm tai nạn cho các doanh nghiệp có thành tích an toàn và sức khỏe nghề nghiệp tốt.[45][46]

Hoa Kỳ sửa

Hoa Kỳ, năm 1970, Tổng thống Richard Nixon đã ký một đạo luật về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Đạo luật này thành lập ba cơ quan quản lý về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp để giúp bảo vệ người lao động khỏi các mối nguy hiểm trong công việc.[47] Theo Đạo luật OSHA, các nhà tuyển dụng ở Hoa Kỳ có trách nhiệm cung cấp cho nhân viên của họ một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh. Điều này có nghĩa là các nhà tuyển dụng phải tuân thủ các quy định của OSHA và loại bỏ hoặc giảm thiểu các mối nguy hiểm tại nơi làm việc.

OSHA là một cơ quan liên bang của Hoa Kỳ, thành lập vào năm 1971, chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người lao động. OSHA có trụ sở chính tại Washington, DC, và có 10 văn phòng khu vực. Mỗi văn phòng khu vực có ba bộ phận: tuân thủ, đào tạo và hỗ trợ.[48]

Vương Quốc Anh sửa

Vương quốc Anh, luật an toàn sức khỏe tại nơi làm việc được soạn thảo và thực thi bởi Cơ quan An toàn Sức khỏe (HSE) và các cơ quan địa phương. Đạo luật An toàn Sức khỏe tại Nơi làm việc (HASAWA) năm 1974 yêu cầu người sử dụng lao động phải đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người lao động, trong phạm vi khả thi hợp lý.[49][50][51][52] Một khía cạnh quan trọng khác của luật pháp Vương quốc Anh là người lao động có quyền tham gia vào việc đảm bảo an toàn sức khỏe tại nơi làm việc. Họ có thể làm điều này thông qua đại diện an toàn sức khỏe hoặc các ủy ban an toàn sức khỏe. Đây là một cách tiếp cận được sử dụng ở nhiều quốc gia khác, bao gồm Scandinavia, Australia, Canada, New ZealandMalaysia.

Ngày thế giới về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc sửa

Ngày 28 tháng 4 hàng năm là Ngày Thế giới về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc[53][54][55]. Ngày này được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chọn để thúc đẩy việc ngăn ngừa tai nạn lao động và phòng chống bệnh nghề nghiệp trên toàn thế giới.[56]

Xem thêm sửa

Chú thích sửa

  1. ^ “An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp”. www.ilo.org. 23 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  2. ^ Stellman, Jeanne Mager (1998). Encyclopaedia of Occupational Health and Safety (bằng tiếng Anh). International Labour Organization. ISBN 978-92-2-109817-1.
  3. ^ Fanning, Fred (2003). Basic Safety Administration: A Handbook for the New Safety Specialist (bằng tiếng Anh). American Society of Safety Engineers. ISBN 978-1-885581-43-3.
  4. ^ “Oak Ridge National Laboratory”. Ornl.gov. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2015.
  5. ^ “safety at work”. 20 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  6. ^ Fanning, Fred E. (2003). Basic Safety Administration: A Handbook for the New Safety Specialist, Chicago: American Society of Safety Engineers
  7. ^ “Cải thiện An toàn và Sức khỏe cho Lao động trẻ - ILO” (PDF). International Labour Organization. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  8. ^ “WHO/ILO joint estimates of the work-related burden of disease and injury, 2000-2016: global monitoring report”. WHO and ILO. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2023.
  9. ^ a b “Safety and health at work”. International Labour Organization. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2021.
  10. ^ “Bộ Khoa học và Công nghệ - Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) - ISO 45001:2018 chính thức được ban hành trên toàn thế giới”. quacert.gov.vn. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  11. ^ Ramazzini, Bernardino (1743). De morbis artificum diatriba Mutinae olim edita; nunc accedit supplementum ejusdem argumenti, ac dissertatio de sacrarum virginum valetudine tuenda. Auctore Bernardino Ramazzini in Patavino Gymnasio practicae medicinae professore primario (bằng tiếng La-tinh). apud Josephum Corona, in Via Mercatoria sub Signo Praemii.
  12. ^ a b Hutchins BL, Harrison A (1911). A history of factory legislation by; Published 1911 (ấn bản 2). Westminster: P S King & So n. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  13. ^ Edmonds OP, Edmonds EL (tháng 7 năm 1963). “An Account of the Founding of H.M. Inspectorate of Mines and the Work of the First Inspector Hugh Seymour Tremenheere”. British Journal of Industrial Medicine. 20 (3): 210–217. doi:10.1136/oem.20.3.210. PMC 1039202. PMID 14046158.
  14. ^ Abrams HK (2001). “A short history of occupational health”. Journal of Public Health Policy. 22 (1): 34–80. doi:10.2307/3343553. JSTOR 3343553. PMID 11382089. S2CID 13398392.
  15. ^ Concha-Barrientos M, Imel ND, Driscoll T, Steenland NK, Punnett L, Fingerhut MA, và đồng nghiệp (2004). “Selected occupational risk factors.”. Trong Ezzati M, Lopez AD, Rodgers A, Murray CJ (biên tập). Comparative Quantification of Health Risks. Geneva: World Health Organization.
  16. ^ Ramos AK, Carlo G, Grant KM, Bendixsen C, Fuentes A, Gamboa R (2 tháng 9 năm 2018). “A Preliminary Analysis of Immigrant Cattle Feedyard Worker Perspectives on Job-Related Safety Training”. Safety (bằng tiếng Anh). 4 (3): 37. doi:10.3390/safety4030037.
  17. ^ Pega F, Náfrádi B, Momen NC, Ujita Y, Streicher KN, Prüss-Üstün AM, và đồng nghiệp (tháng 9 năm 2021). “Global, regional, and national burdens of ischemic heart disease and stroke attributable to exposure to long working hours for 194 countries, 2000-2016: A systematic analysis from the WHO/ILO Joint Estimates of the Work-related Burden of Disease and Injury”. Environment International. 154: 106595. doi:10.1016/j.envint.2021.106595. PMC 8204267. PMID 34011457.
  18. ^ “Long working hours increasing deaths from heart disease and stroke: WHO, ILO”. www.who.int (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2022.
  19. ^ “Noise and Hearing Loss Prevention”. Workplace Safety & Health Topics. National Institute for Occupational Safety and Health. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012.
  20. ^ “Fall Injuries Prevention in the Workplace”. NIOSH Workplace Safety and Health Topic. National Institute for Occupational Safety and Health. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012.
  21. ^ “Machine Safety”. NIOSH Workplace Safety and Health Topics. National Institute of Occupational Safety and Health. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2012.
  22. ^ “CDC – Seasonal Influenza (Flu) in the Workplace – Guidance - NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  23. ^ “CDC – Insects and Scorpions – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  24. ^ “CDC – Venomous Snakes – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  25. ^ “CDC - Venomous Spiders - NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  26. ^ “CDC – Poisonous Plants – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  27. ^ “CDC – Lyme Disease – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  28. ^ “CDC – West Nile Virus – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  29. ^ “CDC – Veterinary Health Care: Biological Safety – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  30. ^ “CDC – Bloodborne Infectious Diseases – HIV/AIDS, Hepatitis B Virus, and Hepatitis C Virus – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  31. ^ “CDC – Emerging Infectious Diseases – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  32. ^ “CDC – Chemical Safety – NIOSH Workplace Safety and Health Topic”. Cdc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  33. ^ “IOHA – International OEL Issues and Activities”. Ioha.net. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015.
  34. ^ Goodson WH, Lowe L, Carpenter DO, Gilbertson M, Manaf Ali A, Lopez de Cerain Salsamendi A, và đồng nghiệp (tháng 6 năm 2015). “Assessing the carcinogenic potential of low-dose exposures to chemical mixtures in the environment: the challenge ahead”. Carcinogenesis. 36 (Suppl 1): S254–S296. doi:10.1093/carcin/bgv039. PMC 4480130. PMID 26106142.
  35. ^ Brun E, Milczarek M (2007). “Expert forecast on emerging psychosocial risks related to occupational safety and health”. European Agency for Safety and Health at Work. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  36. ^ a b Nieuwenhuijsen K, Verbeek JH, Neumeyer-Gromen A, Verhoeven AC, Bültmann U, Faber B (tháng 10 năm 2020). “Interventions to improve return to work in depressed people”. The Cochrane Database of Systematic Reviews. 10 (10): CD006237. doi:10.1002/14651858.CD006237.pub4. hdl:11370/13a4bd2d-2a55-43c9-806e-608c11f72dcd. PMC 8094165. PMID 33052607.
  37. ^ “As/nzs 4801-2001”. Standards Australia. 2001.
  38. ^ Pozniak E (13 tháng 3 năm 2018). “ISO 45001 is now available — are you considering it?”. Canadian HR Reporter. Thomson Reuters Canada Limited. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018.
  39. ^ Pun K, Yam RC, Lewis WG (2003). “Safety management system registration in the shipping industry”. International Journal of Quality & Reliability Management. 20 (6): 704–721. doi:10.1108/02656710310482140.
  40. ^ Trần, Lành. “Dây đai an toàn”. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  41. ^ “HSG65 replaced by new HSE guidance”. 28 tháng 8 năm 2013.
  42. ^ “ISO 45001 An toàn Sức khỏe Nghề nghiệp - ISO 45001:2018 chính thức được ban hành trên toàn thế giới”. quacert.gov.vn. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  43. ^ Guidelines on Occupational Safety and Health Management Systems. Geneva: ILO-OSH. 2001.
  44. ^ “BS OHSAS 18001 Occupational Health and Safety”. BSI Group. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013.
  45. ^ "Effectiveness of economic incentives to improve occupational safety and health", Forum # 14, Bilbao, Spain. European Agency for Safety and Health at Work. 2004. ISBN 92-9191-119-4.
  46. ^ Elsler, D. (2007): "European Comparison of Economic Incentives in Occupational Safety and Health", in C. Berlin & L.-O. Bligård (Eds): Proceedings of the 39th Nordic Ergonomics Society Conference, October 1 – 3 2007 in Lysekil, Sweden, downloadable from: http://www.nes2007.se/papers/A67_Elsler.pdf.
  47. ^ Della-Giustina, Daniel E. (17 tháng 12 năm 2009). Developing a Safety and Health Program (bằng tiếng Anh). CRC Press. ISBN 978-1-4398-8356-3.
  48. ^ “About OSHA”. OSHA. US Department of Labor. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  49. ^ “Health and Safety at Work etc. Act 1974 (1974.c37)”. legislation.gov.uk. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  50. ^ A Guide to Safety and Health Regulation in Great Britain (PDF) (ấn bản 4). Health and Safety Executive. 2009. ISBN 978-0-7176-6319-4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  51. ^ see Second Reading debate - “HEALTH AND SAFETY AT WORK ETC. BILL”. Hansard House of Commons Debates. 871 cc1286-394. 3 tháng 4 năm 1974. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  52. ^ see -for example- the section on The Board of Trade's Administration Commissioner for Wrecks (1912). “Report on the Loss of the S. S. 'Titanic.'. Titanic Inquiry Project. London: Board of Trade. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.: regulations had been made on both provision of lifeboats and subdivision by watertight bulkheads and had not been updated to keep pace with increases in ship size - the BoT was in the process of consulting interested parties
  53. ^ “World Day for Safety and Health at Work (Occupational Safety and Health)”. Ilo.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.
  54. ^ “The World Day for Safety and Health at Work”. Citation Ltd. 23 tháng 4 năm 2013.
  55. ^ “World Day for Safety and Health at Work 2013”. Ilo.org (bằng tiếng Anh). 13 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.
  56. ^ “Ngày Thế giới về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc (28 4 2016):”. dangcongsan.vn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.

Đọc thêm sửa