Mở trình đơn chính

Anne xứ Brittany (tiếng Pháp: Anne de Bretagne; tiếng Breton: Anna Vreizh; 25 tháng 1, năm 14779 tháng 1, năm 1514), là một phụ nữ quý tộc người Breton, sau trở thành Vương hậu hai lần liên tục của Vương quốc Pháp, và là Nữ công tước xứ Brittany.

Anne xứ Brittany
Anne de Bretagne
BNF - Latin 9474 - Jean Bourdichon - Grandes Heures d'Anne de Bretagne - f. 3r - Anne de Bretagne entre trois saintes.jpg
Nữ công tước BrittanyBà Bá tước Montfort
Tại vị9 tháng 9, 1488 - 9 tháng 1, 1514
(&0000000000000025.00000025 năm, &0000000000000122.000000122 ngày)
Tiền nhiệmFrancis II
Kế nhiệmClaude
Vương hậu nước Pháp
Tại vị6 tháng 12, 1491 - 7 tháng 4, 1498
(&0000000000000006.0000006 năm, &0000000000000122.000000122 ngày)
Đăng quang8 tháng 2, năm 1492
Tiền nhiệmCharlotte xứ Savoy
Quân chủCharles VIII của Pháp
Kế nhiệmJoan của Pháp
Tái nhiệm8 tháng 1, 1499 - 9 tháng 1, 1514
(&0000000000000015.00000015 năm, &0000000000000001.0000001 ngày)
Đăng quang18 tháng 11, năm 1504
Tiền nhiệmJoan của Pháp
Quân chủLouis XII của Pháp
Kế nhiệmMary của Anh
Vương hậu của người La Mã
Tại vị19 tháng 12, 1490 - 6 tháng 12, 1491
(11 tháng, 17 ngày)
Tiền nhiệmCatherine xứ Saxony
Quân chủArchduke Maximilian của Áo
Kế nhiệmBlanche Marie Sforza
Thông tin chung
Phối ngẫuMaximilian I của đế quốc La Mã Thần thánh
Charles VIII của Pháp
Louis XII của Pháp
Hậu duệCharles Orlando, Trữ quân nước Pháp
Claude, Vương hậu của Pháp
Renée của Pháp
Và nhiều đứa con chết yểu khác...
Hoàng tộcNhà Montfort
Thân phụFrancis II, Công tước xứ Brittany
Thân mẫuMargaret của Foix
Sinh(1477-01-25)25 tháng 1 năm 1477
Nantes, Brittany
Mất9 tháng 1 năm 1514(1514-01-09) (36 tuổi)
Blois, Vương quốc Pháp
An tángVương cung thánh đường Thánh Denis
Tôn giáoCông giáo Rôma

Sau cái chết của cha mình, Anne kế thừa Công quốc Brittany, ngoài ra bà còn tiếp nhận các lãnh thổ Nantes, MontfortRichmond; và danh vị Tử tước của Limoges. Vào thời đó, bà là người phụ nữ châu Âu giàu có nhất. Dù lúc đó, bà mới 12 tuổi, nhưng đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cứng rắn và có chiến lược. Bà lên kế hoặc kết hôn bằng cách có người ủy nhiệm với Maximilian I của đế quốc La Mã Thần thánh, nhưng Charles VIII của Pháp nhận thấy rằng việc này sẽ tạo một liên minh giữa Brittany và Áo, nên đã mở một chiến dịch tấn công vào Brittany buộc bà phải hủy bỏ hôn ước.

Sau đó, Anne chấp nhận hôn ước với Charles VIII vào năm 1491, nhưng cuộc hôn nhân không kéo dài lâu khi bà không sinh được người con nào còn sống đến khi trưởng thành, và khi Charles VIII qua đời vào năm 1498 thì vương vị chuyển về cho người em họ, Louis XII của Pháp. Nữ công tước Anne, Vương hậu quả phụ của Charles XIII vì muốn bảo vệ Công quốc Brittany khỏi việc sáp nhập vào Pháp, đã đồng ý kết hôn một lần nữa với Louis XII, trở thành vị Vương hậu nước Pháp duy nhất đăng quang hai lần. Cuộc hôn nhân diễn ra êm đẹp, khi Louis XII cực kì chìm đắm vào tình yêu đối với bà, và bà cũng tìm cách bảo vệ được Brittany. Bà và Louis XII có hai người con gái, Claude và Renée, nhưng do Đạo luật Salic mà không thể thừa kế ngai vàng nước Pháp, người con gái lớn chỉ thừa kế Công quốc Brittany. Bà muốn sắp đặt để Claude kết hôn với Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh, nhưng bà qua đời ngay đúng lúc đó. Claude về sau kết hôn với Francis I của Pháp, và việc này khiến Brittany chính thức bị sáp nhập vào nước Pháp.

Anne rất được kính trọng đối với người dân Brittany, vị Nữ công tước quả cảm vì quyền lợi của đất nước mình mà có nhiều chiến lược hôn nhân chính trị với nước Pháp. Vào thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn lên ngôi, bà trở thành một biểu tượng về lòng yêu nước của người Breton và được đắp tượng đài cũng như thành hình tượng chủ chốt trong rất nhiều tác phẩm nghệ thuật.

Tiểu sửSửa đổi

 
Chân dung Anne của Brittany, được vẽ vào khoảng những năm 1520s.

Anne sinh ra ở Nantes, Brittany, trong lâu đài Château des ducs de Bretagne. Bà là con gái lớn nhất của Francis II, Công tước xứ BrittanyMargaret của Foix, dưới bà là một người em gái, Isabelle. Ông bà ngoại của bà là Gaston IV của FoixEleanor của Navarre. Vào năm 7 tuổi, Anne đã mồ côi cả cha và mẹ[1].

Từ nhỏ, Anne đã được giáo dục khá hoàn thiện, khi có thể đọc và viết tiếng Pháp và một chút tiếng Latinh[2]. Sau khi cha mẹ qua đời, bà được nuôi dạy bởi Françoise de Dinan, Phu nhân Chateaubriant[3]. Việc giáo dục của bà còn được phụ trách bởi Jean Meschinot, một nhà thơ, người đã dạy bà ca hát và khiêu vũ[4].

Vào thời kì này, đạo luật thừa kế vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Trước cuộc Chiến tranh kế vị Breton diễn ra do Đạo luật Salic ban hành, thì phụ nữ hoàn toàn có quyền thừa kế, với một điều kiện chỉ khi nào những người con trai đã không còn. Sau Hòa ước Guérande năm 1365, quy định rằng nếu dòng nam của nhà Montfort tận tuyệt, thì dòng dõi của Joan của Penthièvre sẽ có tư cách kế vị. Tại lúc đó, cha bà Francis II là người cuối cùng của nhà Montfort, còn người thừa kế dòng Blois-Penthièvre là Nicole của Blois đã bán đi quyền cai trị của mình vào năm 1480 cho Louis XI của Pháp với giá 50,000 écus.

Việc thiếu người kế vị là nam giới sẽ khiến Công quốc Brittany rơi vào tình trạng nội chiến, và điều đó khiến Francis II phải chính thức kiến lập quyền trị vì của Anne vào ngày 10 tháng 2 năm 1486[5]. Với vị thế của mình, Anne đã được cha mình sắp xếp vô số cuộc hôn nhân quan trọng để tăng tầm ảnh hưởng và bảo vệ Brittany, bao gồm:

Vương hậu nước PhápSửa đổi

Nữ Công tước và tái hônSửa đổi

Qua đờiSửa đổi

Di sảnSửa đổi

Hậu duệSửa đổi

Tổ tiênSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Robin, Larsen & Levin 2007, tr. 20.
  2. ^ Jean Kerhervé: Anne de Bretagne in: franceinter.fr [retrieved 21 December 2014].
  3. ^ Sophie Cassagnes-Brouquet: Un manuscrit d'Anne de Bretagne: Les vies des femmes célèbres d'Antoine Dufour, Ouest-France, septembre 2007 (251 pages), p. 19.
  4. ^ Henri Pigaillem: Anne de Bretagne. Épouse de Charles VIII et de Louis XII, Pygmalion, 2008, p. 18.
  5. ^ Anne of Brittany in: theanneboleynfiles.com [retrieved 22 December 2014].
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Anselme de Sainte-Marie, Père (1726). Histoire généalogique et chronologique de la maison royale de France [Genealogical and chronological history of the royal house of France] (bằng tiếng Pháp) 1 (ấn bản 3). Paris: La compagnie des libraires. 
  7. ^ a ă â b Courteault, Henri (1895). Gaston IV, comte de Foix, vicomte souverain de Béarn, prince de Navarre, 1423–1472 [Gaston IV, count of Foix, sovereign viscount of Béarn, prince of Navarre] (bằng tiếng Pháp). É. Privat. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2018. 
  8. ^ a ă â b Anthony, R. (1931). Identification et Étude des Ossements des Rois de Navarre inhumés dans la Cathédrale de Lescar [Identification and Study of the Bones of the Kings of Navarre buried in the Cathedral of Lescar] (PDF). Archives du Muséum, 6e series (bằng tiếng Pháp) VII. Masson et Cie. tr. 9, 34. 
  9. ^ a ă Galand, Gérard (2005). Les seigneurs de Châteauneuf-sur-Sarthe en Anjou (bằng tiếng Pháp). Cheminements. tr. 289. 
  10. ^ a ă   Chisholm, Hugh biên tập (1911). “John II of Aragon”. Encyclopædia Britannica 15 (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge. 

Liên kết ngoàiSửa đổi