Antimon kali tartrat

Antimony potassium tartrate có công thức là K2Sb2(C4H2O6)2 hoặc C8H10K2O15Sb2. Nó là muối kaliantimon của axit tartaric. Hợp chất này từ lâu đã được biết đến như một chất xúc tác mạnh mẽ, tan trong glyxerol nhưng không tan trong cồn. Đồng thời nó cũng được sử dụng trong việc điều trị một số bệnh y khoa.

Antimon kali tartrat
Potassium antimonyl tartrate.png
Tên khácPotassium antimonyl tartrate
Emetic tartar
Tartar emetic
Nhận dạng
Số CAS28300-74-5
PubChem16682736
Số EINECS234-293-3
KEGGC11340
ChEBI2761
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tửK2Sb2(C4H2O6)2 · 3 H2O
Khối lượng mol667,87 g/mol
Bề ngoàiBột tinh thể trắng
Khối lượng riêng2,6 g/cm3
Điểm nóng chảy
Điểm sôi
Độ hòa tan trong nước8,3 g/100 mL (0 °C)
35.9 g/100 mL (100 °C)
Các nguy hiểm
Phân loại của EUCó hại Xn Nguy hiểm cho môi trường N
Chỉ dẫn RR20/22 R51/53
Chỉ dẫn SS2 S61
LD50110 mg/kg
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).

Ứng dụng y tếSửa đổi

Các ứng dụng điều trị đầu tiên chống lại bệnh đậu mùa nhờ vào antimony potassium tartrate được tiến hành vào năm 1906.

Việc điều trị leishmania với antimony potassium tartrate bắt đầu vào năm 1913. Sau khi dùng các hỗn hợp antimony (V) như natri stibogluconat và antimonium maglumine, việc sử dụng antimony potassium tartrate đã được loại bỏ[1]. Sau phát hiện của bác sĩ Anh John Brian Christopherson vào năm 1918 cho rằng antimony potassium tartrate có thể điều trị bệnh sán máng, thuốc animoial được sử dụng rộng rãi[2][3][4]. Tuy nhiên, tiêm vắc xin potassium tartrate có tác dụng phụ nghiêm trọng như hội chứng Adams-Stokes[5] và do đó các chất thay thế đã được tiếp tục nghiên cứu. Với việc giới thiệu và sử dụng praziquantel vào những năm 1970, việc sử dụng các phương pháp điều trị bằng antimony đã không còn được sử dụng nữa[6][7].

 
Tinh thể antimony kali tartrate 

Tia xạ trị đã được sử dụng vào cuối những năm 19 và đầu thế kỷ 20 trong y học và được xem là một phương thuốc chữa nghiện rượu, lần đầu tiên được dùng để chữa trị và cai rượu nhưng đã không hiệu quả tại Hoa Kỳ năm 1941. Tờ báo New England Journal of Medicine[8] đã báo cáo một nghiên cứu về một bệnh nhân mà vợ ông bí mật cho ông một liều thuốc mang tên "tartaro emetico" chứa antimony potassium tartrate và được bán ở Trung Mỹ để điều trị cho việc lạm dụng rượu. Bệnh nhân, người đã uống rượu vào đêm trước, bắt đầu nôn mửa ngay sau khi được vợ ông cho uống nước cam với thuốc. Khi nhập viện, ông bị đau ngực nghiêm trọng, bất thường về tim, suy thận và gan, và gần như sắp chết. Tạp chí Journal báo cáo rằng hai năm sau, bệnh nhân này đã hoàn toàn cai được chứng nghiện rượu.

Điều chếSửa đổi

Antimony potassium tartrate có thể được điều chế bằng cách cho dung dịch kali hydro tartrate và antimon trioxide hồi lưu trong vòng 15 phút. Hỗn hợp nóng sau đó được lọc và các tinh thể kali potassium tartrate kết tủa ra như một tinh thể không màu.[9][10]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Navarro, Maribel; Gabbiani, Chiara; Messori, Luigi; Gambino, Dinorah (2010). “Metal-based drugs for malaria, trypanosomiasis and leishmaniasis: Recent achievements and perspectives”. Drug Discovery Today 15 (23–24): 1070–8. PMID 20974285. doi:10.1016/j.drudis.2010.10.005. 
  2. ^ Christopherson, J.B. (1918). “The Successful Use of Antimony in Bilharziosis”. The Lancet 192 (4958): 325. doi:10.1016/S0140-6736(01)02807-0. 
  3. ^ Crichton-Harris, Ann (ngày 15 tháng 7 năm 2009). “Poison in small measure: Dr. Christopherson and the cure for bilharzia”. ISBN 978-90-04-17541-9. 
  4. ^ Sabah, A.A.; Fletcher, Cathy; Webbe, G.; Doenhoff, M.J. (1986). “Schistosoma mansoni: Chemotherapy of infections of different ages”. Experimental Parasitology 61 (3): 294–303. PMID 3086114. doi:10.1016/0014-4894(86)90184-0. 
  5. ^ t'Ao, S. C. (1957). “Cardiac manifestations of the toxic action of potassium antimony tartrate in schistosomiasis patients: Paroxysmal ventricular tachycardia and fibrillation”. Chinese medical journal 75 (5): 365–378. PMID 13447130. 
  6. ^ Hagan, Paul (2009). “Schistosomiasis – a rich vein of research”. Parasitology 136 (12): 1611–9. PMID 19691867. doi:10.1017/S003118200999093X. 
  7. ^ Publishers, Bentham Science (tháng 10 năm 1996). “The Antimonials”. Current Medicinal Chemistry. tr. 304–305. 
  8. ^ Macías Konstantopoulos, Wendy; Burns Ewald, Michele; Pratt, Daniel S. (2012). “Case 22-2012: A 34-Year-Old Man with Intractable Vomiting after Ingestion of an Unknown Substance”. New England Journal of Medicine 367 (3): 259. PMID 22808962. doi:10.1056/NEJMcpc1111580. 
  9. ^ Frederick, George Mann (1952). Practical organic chemistry. England: Longmans, Green & Co. tr. 115. ISBN 0582444071. 
  10. ^ Knapp, Fr. (1839). “Zur Bildungsgeschichte des Brechweinsteins”. Annalen der Pharmacie 32: 76. doi:10.1002/jlac.18390320107. 

Liên kết ngoàiSửa đổi