Bùi Thanh Vân (1927-1994) là một tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, nguyên Tư lệnh Quân khu 7.[1][2][3][4]

Thân thế và sự nghiệpSửa đổi

• Ông có bí danh là Út Liêm, xuất thân từ một gia đình nghèo ở xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

• Năm 1944 ông tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương, nhập ngũ năm 1945. Trưởng thành từ chiến sỹ đến đại đội phó bộ đội địa phương huyện Trảng Bàng (Tây Ninh).

• 1954-1961, ông theo lực lượng Vệ Quốc Đoàn tập kết ra bắc.

• Năm 1961 ông được phân công trở về chiến trường Nam Bộ để tổ chức và chỉ huy các lượng mới tại đây, vẫn giữ bí danh Út Liêm.

• 1961-1970, Những năm Chiến tranh Đặc Biệt, Chiến tranh Cục Bộ, Việt Nam hóa chiến tranh... lần lượt trải qua các chức vụ: Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn, Sư đoàn phó - Tham mưu trưởng sư đoàn 9.

• 1971-1975, Sư đoàn trưởng sư đoàn 5, tham gia các chiến dịch Đồng xoài, Dầu tiếng, Nguyễn Huệ. Phó tư lệnh cánh quân phía tây - Đoàn 232 trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

• Từ tháng 4 năm 1976, Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, rồi Chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh

• Tháng 3 năm 1979-1989, Phó Tư lệnh Quân khu 7.

• 1989-1994, Tư lệnh Quân khu 7.

  • Ông là Uỷ viên BCHTW ĐCSVN khoá VII.
    • Năm 1974, Thiếu tướng (Phó Tư lệnh Bộ chỉ huy cánh quân phía Tây - Đoàn 232).
    • Năm 1989, Trung tướng (Tư lệnh Quân khu 7)
  • Ông mất: Năm 1994.

Lịch sử thụ phong quân hàmSửa đổi

Năm thụ phong 1974 1989
Quân hàm    
Cấp bậc Thiếu tướng Trung tướng

Phần thưởng cao quýSửa đổi

  • Huân chương Độc lập hạng Hai
  • Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì
  • Huân chương Chiến thắng hạng Nhì
  • Huân chương Kháng chiến hạng Nhất
  • Huân chương Khánh chiến chống Mỹ hạng Nhất
  • Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba
  • Huân chương Chien sỹ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba

Chú thíchSửa đổi