Bùi Văn Tùng (sinh năm 1930) nguyên là một sĩ quan cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm đại tá. Ngày 30/4/1975 ông đã thay mặt Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp nhận đầu hàng của đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chấm dứt cuộc Chiến tranh Việt Nam[1][2][3].

Thân thế và sự nghiệpSửa đổi

  • Ông sinh ngày 4 tháng 02 năm 1930 tại quận Quận Hải Châu, Đà Nẵng trong một gia đình công nhân.
  • Từ tháng 8/1945 đến tháng 5/1947: Hội viên Hội công nhân cứu quốc, Tự vệ Tp. Đà Nẵng.
  • Từ tháng 6/1947 đến tháng 3/1953: Nhập ngũ, Học viên, cán bộ Liên khu 5, Đại đội phó mặt trận bắc Tây Nguyên
  • Từ tháng 4/1953 đến tháng 9/1959: Thượng úy, Tiểu đoàn 11, Sư đoàn 305
  • Từ tháng 10/1959 đến tháng 12/1964: Thượng úy, Học viện đào tạo cán bộ Tăng Thiết giáp tại Trung Quốc.
  • Từ tháng 1/1965 đến tháng 9/1969: Đại úy, Chính trị viên Tiểu đoàn xe tăng 177 tăng cường cho Quân khu 4, Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Từ tháng 10/1969 đến tháng 2/1970: Đại úy, Chính trị viên tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Tăng 195 chiến trường Lào.
  • Từ tháng 3/1970 đến tháng 2/1971: Thiếu tá, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn xe tăng 203 thuộc Bộ Tư lệnh Tăng Thiết giáp (Bộ Quốc phòng).
  • Từ tháng 3/1971 đến tháng 1/1980: Trung tá, Thượng tá, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 thuộc Mặt trận B5 (Từ tháng 5/1974 thuộc Quân đoàn 2, Quân đội nhân dân Việt Nam).
  • Từ tháng 3/1980 đến tháng 3/1981: Đại tá, Giảng viên, cán bộ Học viện Quân sự cao cấp.
  • Từ tháng 4/1981 đến tháng 9/1983: Đại tá, phó hiệu trưởng về chính trị Trường Hạ sĩ quan xe tăng 1 (700) thuộc Bộ Tư lệnh Tăng Thiết giáp.
  • Từ tháng 10/1983: Nghỉ theo chế độ hưu trí.
  • Sau khi về hưu, đã tham gia công tác tại địa phương. Từng đảm nhiệm phó bí thư và bí thư Đảng ủy phường 6, Quận 3 Tp. Hồ Chí Minh.

Tham gia trong sự kiện 30/4/1975Sửa đổi

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Lữ đoàn xe tăng 203 có nhiệm vụ cử 1 tiểu đoàn đánh "bóc vỏ" tuyến phòng ngự vòng ngoài tại khu vực Long Thành (Đồng Nai), Bà Rịa - Vũng Tàu; còn đại bộ phận lữ đoàn đảm nhiệm nhiệm vụ làm lực lượng chủ yếu của "binh đoàn thọc sâu" của Quân đoàn 2, Quân đội nhân dân Việt Nam. Sáng 30/4/1975, Lữ đoàn thực hành thọc sâu từ cầu Đồng Nai vào nội đô Sài Gòn bằng chiến thuật tiến công trong hành tiến. 10 giờ 45 phút ngày 30.4, hai chiếc xe tăng 843 và 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận cắm cờ giải phóng trên nóc dinh. Chính trị viên Vũ Đăng Toàn và pháo thủ Ngô Sỹ Nguyên vào dinh tập trung nội các chính quyền Sài Gòn vào một vị trí và tổ chức canh gác. Có mặt sau đó ít phút, Trung tá Bùi Văn Tùng (lúc đó là chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203) đã quyết định đưa Tổng thống Dương Văn Minh sang Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Tại Đài phát thanh, ông đã trực tiếp soạn thảo Lời tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Dương Văn Minh, tổ chức cho Dương Văn Minh đọc Lời tuyên bố đầu hàng vào máy ghi âm (3 lần) rồi cho phát trên đài. Cũng chính ông là người đã thay mặt Quân giải phóng miền Nam chấp nhận đầu hàng của Tổng thống chính quyền Sài Gòn, tuyên bố Sài Gòn và miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, nhanh chóng làm tạn rã sự chống cự của tàn quân Sài Gòn, góp phần giữ được thành phố Sài Gòn nguyên vẹn và tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hòa hợp, hòa giải sau này.[4][5][6][7]



Lịch sử thụ phong quân hàmSửa đổi

Năm thụ phong 1953 1965 1970 1971 1975 1980
Quân hàm            
Cấp bậc Thượng úy Đại úy Thiếu tá Trung tá Thượng tá Đại tá

Ghi nhận của Nhà nước về thành tích và công laoSửa đổi

Bùi Văn Tùng đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng:

  • Huân chương Quân công hạng Nhì - 1984
  • Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất - 1976
  • Huân chương Chiến công hạng Ba - 1983
  • Huân chương Chiến thắng hạng Ba - QĐ 1591/T/053
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất - 1985
  • Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 1, 2, 3    
  • Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 1, 2, 3

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Người viết lời đầu hàng cho Dương Văn Minh”. 
  2. ^ “Ông Tùng đã thảo văn kiện đầu hàng”. 
  3. ^ “Người anh hùng, vị chính khách của thời điểm lịch sử”. 
  4. ^ “Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 của HTV9”. 
  5. ^ “Chuyện kể 30.4- Nhân chứng thứ ba của VTV1”. 
  6. ^ “Cuộc bàn giao lịch sử của VTV1”. 
  7. ^ “Chuyện kể về anh bộ đội cụ Hồ của VTC14”.