Mở trình đơn chính

Buôn Ma Thuột

thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Đắk Lắk
(đổi hướng từ Ban Mê Thuột)

Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là một thành phố trực thuộc tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam.

Buôn Ma Thuột

Thành phố trực thuộc tỉnh
Buon Ma Thuot.jpg
Ngã sáu trung tâm TP. Buôn Ma Thuột

Biệt danhphố núi
Hành chính
VùngTây Nguyên
TỉnhĐắk Lắk
Thành phốBuôn Ma Thuột
Trụ sở UBND1 Lý Nam Đế, phường Thắng Lợi
Phân chia hành chính13 phường, 8
Thành lập1995
Loại đô thịLoại I
Năm công nhận2010
Chính quyền
Chủ tịch UBNDTrương Công Thái
Chủ tịch HĐNDNguyễn Khắc Long (quyền)
Bí thư Thành ủyTừ Thái Giang
Địa lý
Tọa độ: 12°41′05″B 108°03′03″Đ / 12,684696°B 108,050915°Đ / 12.684696; 108.050915Tọa độ: 12°41′05″B 108°03′03″Đ / 12,684696°B 108,050915°Đ / 12.684696; 108.050915
Diện tích377,18 km²
Độ cao536m
Dân số (2018)
Tổng cộng502.170 người
Thành thị415.610 người (81,3%)
Nông thôn86.560 người (18,7%)
Mật độ1.310 người/km²
Dân tộcKinh, Ê Đê, K'Ho...
Khác
Biển số xe47
WebsiteThành phố Buôn Ma Thuột

Thành phố Buôn Ma Thuột là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên và là đô thị miền núi có dân số lớn nhất Việt Nam.

Vị tríSửa đổi

Buôn Ma Thuột ở giữa vùng đông dân nhất Tây Nguyên, độ cao 536 m (1.608 ft). Buôn Ma Thuột cách Hà Nội khoảng 1300 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Là một thành phố có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng cấp quốc gia.

Khí hậuSửa đổi

Dữ liệu khí hậu của Buôn Ma Thuột
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 34.1 36.6 37.6 39.4 37.0 35.1 32.9 32.5 32.7 33.1 32.6 32.4 39,4
Trung bình cao °C (°F) 27.8 30.3 32.8 33.6 32.0 29.9 29.4 29.0 29.1 28.6 27.4 26.4 29,7
Trung bình ngày, °C (°F) 20.9 22.4 24.5 26.0 25.6 24.7 24.2 24.0 23.8 23.4 22.3 21.0 23,6
Trung bình thấp, °C (°F) 17.6 18.4 19.7 21.5 22.0 21.8 21.3 21.3 21.1 20.5 19.4 18.1 20,2
Thấp kỉ lục, °C (°F) 9.1 12.0 12.3 16.7 14.4 17.9 18.4 14.4 13.4 14.9 10.7 7.4 7,4
Giáng thủy mm (inch) 5
(0.2)
5
(0.2)
19
(0.75)
86
(3.39)
237
(9.33)
248
(9.76)
255
(10.04)
310
(12.2)
288
(11.34)
222
(8.74)
96
(3.78)
25
(0.98)
1.796
(70,71)
độ ẩm 77.5 73.8 71.1 72.4 80.3 84.9 86.6 87.7 88.5 87.0 84.6 82.0 81,4
Số ngày giáng thủy TB 1.1 1.0 3.2 8.3 19.5 22.4 24.6 25.3 24.2 17.7 11.0 5.6 163,7
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 250 247 273 252 225 183 181 162 155 167 173 194 2.460
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[1]

Nguồn gốc địa danhSửa đổi

Không có buôn nào có tên riêng là Buôn Ma Thuột trong cùng thời kỳ khi người Pháp xây dựng đô thị tại đây. Có nhiều luận chứng từ phía người Ê đê bản địa là ông ama Thuôt tên là Y- Druôt theo ghi chép của bà Linh Nga Niê Kdăm ghi lại từ già làng ở huyện C'mgar. Tư liệu Pháp được KTS. Nguyễn Thanh Hà tìm được, có ghi ((*): Un très gros village se trouve préciément à 54 kilomètres de là occupé par les Rhadés Kpa sous les orders de Methuot, c’est à 700 mètres plus au Sud-Est de ce dernier, au bord de l’Ea-Tam) rồi tiến đến nơi đây thành lập đô thị, chứng tỏ ông Mê Thuôt có tồn tại nhưng ở Buôn Mê Thuột hay ở ngoài vùng thì không có thông tin đầy đủ. Theo KTS. Phạm Ngọc Cảnh là người đọc và dịch nội dung cơ bản trên 3 tấm bản đồ về Buôn Ma Thuột đồng ý về sự tồn tại này khớp với các từ như sông Mé Kông, trại tù Mé Wall của Pháp ở C'mgar (trại Mê Van), và một cô gái Mé Sao là vợ của chánh sứ Sarbatier theo một bài báo, ông là người Pháp từng quản lí ở Buôn Ma Thuột trong thời kì Pháp Thuộc. Nhưng tên thật của ông Mé Thuột là gì thì chưa có tài liệu nào minh chứng cụ thể, và ông sống ở đâu. Người nổi tiếng trong tờ bản đồ về Buôn Ma Thuột 1918 là Khunjunop tên thật là Y Thu K’Nul. Các thông tin về Mê Thuột vẫn còn trong bế tắc. Để làm rõ nghĩa nên tìm kiếm và giải nghĩa tương đồng của 4 từ Mé Kong - Mé Thuôt - Mé wall - Mé Sao (1 danh từ chỉ người 1 danh từ chỉ dòng sông lớn, 1 danh từ chỉ địa danh trại tù, Mé Thuôt=?) có liên quan nhiều đến vùng hạ Lào, thuộc bản đồ Đàng Trong - Đàng Ngoài thời Trịnh Nguyễn. Tập tục của người Rhade thì phụ nữ là người giữ của cải, nhà cửa, rồi đón chồng về ở nhà phụ nữ. Phân biệt Nam và nữ là Y và H trong thời buổi sau cách mạng giải phóng, nhiều khả năng Mé Thuột là một phụ nữ như người vợ Mé Sao của công sứ Sarbatier.

Ama Thuột có tên khai sinh là Y Mun H'Dơk. Y Mun H'Dơk sinh ra và lớn lên ở buôn Ky, nhưng lại được sắp đặt trong cương vị là khoa pin ea (người đứng đầu buôn) của buôn Ako Siêr, bởi vì, Y Mun H'Dơk đã được con gái của tù trưởng Ama Blơi (Y Ngut H'Dơk) mà thanh thế vang khắp vùng khi chưa có người Pháp đặt chân đến, cưới về làm chồng. Dòng họ H'Dơk của chàng ở buôn Ky cũng là chủ bến nước ở đây, nhưng luật tục không cho người con trai quyền thừa kế, nên Y Mun H'Dơk phải tuân theo luật tục của buôn làng và thế là chỉ có những người chị, em gái của chàng được thừa kế quyền đó. Thế nhưng, Y Mun H'Dơk vẫn là người mang trong mình dòng máu của dòng họ H'Dơk, giống như bố vợ và cũng là cậu của mình, khi về làm khoa pin ea cho dòng họ Niê Buôn Kmriêk của buôn Ako Siêr, thanh thế của những người đàn ông dòng họ H'Dơk trở nên lẫy lừng. Hai vợ chồng Y Mun không có con, không có người nối dõi, vì thế, họ đã nhận cháu mình là Y Thuột và H'tế thuộc dòng họ Niê Buôn Kmriêk của buôn Ako Siêr làm con nuôi, và cái tên Ama Y Thuột bắt đầu được dân làng gọi từ đây.

Những năm đầu Buôn Ma Thuột được xây dựng tại khu vực Buôn Kram, cạnh buôn Alê-A, Alê-B, ngày nay là thoải triền đồi khu vực ngõ cua đường Đinh Tiên Hoàng về nhánh suối Ea Tam. Thời kỳ Pháp đô hộ được đặt tên đô thị là Ban Mé Thuot, từ '' Ban'' bao hàm một nghĩa rộng, ví như ''Ban'' là đô thị các buôn, các buôn như khu khu vực nhỏ, ngang phường. Bản đồ thời kỳ 1905-1918-1930, ''Ban'' và ''Buôn'' được phân biệt rõ rệt qua tư liệu bản đồ lịch sử của người Pháp, qua thời Việt Nam Cộng Hòa phiên âm thành Ban Mê Thuột, sau giải phóng gọi thành Buôn Ma Thuột, nên nhiều người suy diễn là có vị tù trưởng ama Thuột, dẫn đến sự nhầm lẫn nghiêm trọng.Ngoài ra còn các cách gọi sai khác như (Bản Mế Thuột - Bản Mế Thuật, Buôn Ma Thuộc - Buôn Ma Thuật, Ban Mê Thuộc - Ban Mê Thuật), đều là cách gọi sai lệch về thông tin của thành phố.

Lịch sửSửa đổi

 
Bản đồ Ban Mê Thuột
thời Pháp thuộc năm 1905
 
Bản đồ Ban Mê Thuột
thời Pháp thuộc năm 1918
 
Bản đồ Ban Mê Thuột
thời Pháp thuộc năm 1930
 
Bản đồ Ban Mê Thuột
thời VNCH năm 1960

Nguyên xưa, nơi đây là vùng đất cư trú của người Ê Đê, với nhiều nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam, xuôi theo dòng đổ ra sông (Sêrêpôk). Các buôn được điều hành bởi già làng cho mỗi buôn. Những buôn làng được ghi nhận đầu tiên trên địa bàn thành phố Buôn Mê Thuộc ngày nay gồm có Buôn Kram, Buôn Alê, Buôn Păn Lăn, Buôn Kosier, Buôn Enao, Buôn Akõ Dhông, Buôn Dung.

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, người Pháp tổ chức nhiều chuyến thám hiểm nhằm mục đích tiếp cận và tìm cách khai phá vùng cao nguyên phía Tây Việt Nam, quan trọng nhất với các chuyến thám hiểm của bác sĩ Alexandre Yersin và của Henri Maitre. Các chuyến thám hiểm đến vùng cao nguyên Darlac được tiếp cận theo hướng sông Mê Kông đi vào sông Sêrêpôk, tới Buôn Đôn. Nhờ các vị vua săn voi ở Buôn Đôn, người Pháp tìm được nhánh suối Eanao - EaTam, nơi các buôn làng người Ê Đê sinh sống với mật độ lớn và gần nhau.

Trước năm 1905, do các thương lái miền xuôi thường xuyên nhũng nhiễu, và bóc lột cạn kiệt vật phẩm của người Thượng dẫn đến người Thượng thường tràn xuống vùng Khánh Hòa ngày nay cướp lương thực. Do vậy người Pháp quyết định thành lập trung tâm hành chính Ban - Mé - Thuôt và tỉnh DarLac ở vùng Tây Nguyên. Dẫn đến việc hình thành một trung tâm hành chính mới với tên gọi Ban Mé Thuột, với lực lượng lao động chính là người Ê Đê bản địa, trong công cuộc khai thác thuộc địa thời kỳ đầu của người Pháp ở Darlac.

Năm 1905 bản đồ quy hoạch đầu tiên về Ban Mé Thuôt được ấn bản. Tư liệu này ngày nay vẫn còn để đối chiếu. Buôn đầu tiên được ghi nhận trong địa bàn thành phố ngày nay là buôn Kram. Cùng thời kỳ này các đồn điền được lập dựa theo sự phân bố dân cư tự nhiên của các dân tộc nơi đây ở trên toàn tỉnh Darlac. Các thầy giáo người Huế, người Bình Định, các công nhân người Phú Yên, Khánh Hòa, Nha Trang được thực dân Pháp đưa lên Tây Nguyên để hướng dẫn người Ê Đê các phương thức sản xuất cơ bản, như trồng lúa, trồng cây công - nông nghiệp, khai thác gỗ rừng...

Năm 1918 bản đồ thứ 2 được ấn bản. Xuất hiện ngôi làng An Nam (làng người Trung Kỳ) được bố trí bên cạnh buôn Kram tại Ban Mé Thuôt. Tư liệu hình ảnh ghi nhận đã có các ngôi trường dạy người Ê Đê các phương thức sản xuất mới. Thời kỳ này chữ quốc ngữ phiên âm theo tiếng Ê Đê được thực dân Pháp phổ biến dần trên Darlac, sử thi Đam San được ghi chép lại bởi công sứ Sabatier. Bản đồ 1918 ghi nhận thêm một buôn lớn về phía Tây Nam thành phố ngày nay là buôn Alê A và Alê B.

Năm 1930 ấn bản tờ bản đồ ghi nhận khu phố An Nam, khu phố của người Trung Kỳ riêng biệt, ngày nay là khu trung tâm của thành phố, nơi tọa lạc đình Lạc Giao, chùa Sắc Tứ Khải Đoan. Và khu phố Tây của người Pháp ở phía Đông thành phố nay là khu vực đường Nguyễn Công Trứ - Đinh Tiên Hoàng - Hùng Vương và khu bảo tàng, khu vực người Êđê cũng được tách riêng biệt không kết hợp vào khu người Trung Kỳ.

Cuối thời kỳ Pháp thuộc, Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam, thường xuyên cùng gia đình đến Tây Nguyên nghỉ mát. Tại Ban Mé Thuôt, các công trình được xây dựng gắn với tên tuổi ông như dinh Bảo Đại, Biệt thự hồ Lăk gắn với tên người vợ ông Nam Phương Hoàng Hậu, chùa Sắc Tứ Khải Đoan gắn với Đan Hy Hoàng Hậu. Trong thời kỳ Thế chiến thứ hai, quân Nhật tiến vào Đông Dương, nắm toàn quyền kiểm soát vùng đồng bằng Đông Dương dù vẫn duy trì bộ máy của thực dân Pháp. Tuy nhiên, do thiếu thốn nhân lực, người Nhật vẫn để vùng núi xa xôi ít dân, trong đó có cả đất Tây Nguyên, bao gồm cả vùng DarLac, cho người Pháp quản lý cho đến tận năm 1945, trước khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Đương.

Sau khi tái kiểm soát được phần lớn Đông Dương, người Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam, đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng. Riêng vùng đất Tây Nguyên, người Pháp đặt riêng thành Hoàng triều Cương thổ mà ở đó Bảo Đại vẫn giữ vị thế của một Hoàng đế trên danh nghĩa.

Với thất bại ở trận Điện Biên Phủ, người Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Genève, 1954, chấm dứt quá trình thuộc địa Đông Dương. Tân thủ tướng Quốc gia Việt Nam là Ngô Đình Diệm, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của người Mỹ, tuyên bố phế truất vị quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại, thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa trên phần lãnh thổ miền Nam Việt Nam, xóa bỏ Hoàng triều Cương thổ và sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Cơ cấu hành chính tỉnh Darlac bấy giờ được chia thành các quận, quận Lạc Thiện, quận Phước An, quận Buôn Hồ, quận Ban Mê Thuột, với thị xã là Lạc Giao. Thời kỳ này các thị trấn thị tứ bước đầu được đô thị hóa ở Đarlac, các phương tiện cơ giới ở Darlac tăng vọt, không chỉ cơ giới ở phương tiện giao thông, mà các máy móc phục vụ nông nghiệp cũng xuất hiện, các sân bay được xây dựng, riêng Ban Mê Thuột có đến 2 sân bay trong thời kỳ này, một sân bay cho trực thăng gọi là phi trường Lạc Giao, một sân bay cho các máy bay lớn là phi trường Phụng Dực (phi trường này được xây từ các gói viện trợ của Mỹ cho Pháp trong trước năm 1950,nay là sân bay Buôn Ma Thuột) Cũng trong thời kỳ này tổng thống Ngô Đình Diệm cũng xuất hiện nhiều ở Ban Mê Thuột, ông ăn tết ở Ban Mê Thuột năm 1957 và đồng thời tổ chức lễ hội kinh tế khi ông ăn tết ở đây.

Tết Mậu Thân năm 1968 đánh dấu các cuộc chiến tranh về cách mạng, quyền lợi, dân chủ trong sản xuất, cho người nông dân- công nhân, Ban Mê Thuột cũng chính thức nằm trong các vùng chiến sự. Cuộc chiến kéo dài đến ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân Giải Phóng Miền Nam chính thức kết thúc cuộc chiến tại Ban Mê Thuột, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng đất nước, đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sau năm 1975, thị xã đổi tên thành Buôn Ma Thuột có 7 phường: Tân Lập, Tân Thành, Tân Tiến, Thắng Lợi, Thành Công, Thống Nhất, Tự An và 21 xã: Cư ÊBur, Ea Bar, Ea Bông, Ea Kao, Ea Na, Ea Nuôl, Ea Po, Ea Tam, Ea Tiêu, Ea T'ling, Ea Tu, Hòa Đông, Hòa Khánh, Hòa Phú, Hòa Thắng, Hòa Thuận, Hòa Xuân, Nam Dong, Quảng Điền, Tâm Thắng, Trúc Sơn.

Ngày 23 tháng 10 năm 1978, thành lập xã Cuôr Knia tại vùng kinh tế mới Cuôr Knia.[2]

Ngày 19 tháng 9 năm 1981, tách 4 xã: Ea Bông, Ea Na, Quảng Điền, Ea Tiêu để thành lập huyện Krông Ana.[3]

Ngày 19 tháng 6 năm 1990, tách 5 xã: Ea T'ling, Tâm Thắng, Trúc Sơn, Ea Po, Nam Dong để thành lập huyện Cư Jút (nay huyện Cư Jút thuộc tỉnh Đắk Nông).[4]

Ngày 21 tháng 1 năm 1995, chuyển thị xã Buôn Ma Thuột thành thành phố Buôn Ma Thuột; chuyển xã Ea Tam thành phường Ea Tam; thành lập phường Khánh Xuân từ một phần các xã Hòa Khánh và Hòa Xuân; chuyển 3 xã: Cuôr Knia, Ea Nuôl, Ea Bar về huyện Ea Súp quản lý (nay 3 xã này thuộc huyện Buôn Đôn); chuyển 3 xã: Hòa Phú, Hòa Xuân, Hòa Khánh về huyện Cư Jút quản lý; chuyển xã Hòa Đông về huyện Krông Pắk quản lý.[5]

Ngày 18 tháng 11 năm 1996, chia phường Tân Lập thành 3 phường: Tân Lập, Tân Hòa và Tân An; chia phường Thắng Lợi thành 2 phường: Thắng Lợi và Tân Lợi; chia phường Thống Nhất thành 2 phường: Thống Nhất và Thành Nhất.[6]

Cuối năm 2002, thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường: Ea Tam, Khánh Xuân, Tân An, Tân Hòa, Tân Lập, Tân Lợi, Tân Thành, Tân Tiến, Thắng Lợi, Thành Công, Thành Nhất, Thống Nhất, Tự An và 5 xã: Cư Ê'Bua, Ea Kao, Ea Tu, Hòa Thắng, Hòa Thuận.

Ngày 2 tháng 1 năm 2004, chuyển 3 xã: Hòa Phú, Hòa Khánh, Hòa Xuân thuộc huyện Cư Jút (sau khi chuyển huyện Cư Jút về tỉnh Đắk Nông mới thành lập) về thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk mới quản lý.[7]

Ngày 28 tháng 2 năm 2005, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại 2.[8]

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.[9]

Diện tích, dân sốSửa đổi

Diện tích của thành phố khoảng 377 km², trong đó diện tích đã đô thị hóa là 100 km².

Dân số toàn thành phố là 502.170 người, với người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 15%. Hơn 80% dân số sống tại khu vực nội thành (tức khoảng 415.610 người).

Hiện nay thành phố đang triển khai đầu tư xây dựng khu đô thị Bắc Tân Lợi nằm trên địa bàn phường Tân Lợi.

Hành chínhSửa đổi

Thành phố Buôn Ma Thuột có 21 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 13 phường: Ea Tam, Khánh Xuân, Tân An, Tân Hoà, Tân Lập, Tân Lợi, Tân Thành, Tân Tiến, Thắng Lợi, Thành Công, Thành Nhất, Thống Nhất, Tự An và 8 xã: Cư Êbur, Ea Kao, Ea Tu, Hoà Khánh, Hoà Phú, Hoà Thắng, Hoà Thuận, Hoà Xuân.

Đặc biệt có 7 buôn (làng) nội thành với gần chục nghìn người Êđê, họ vẫn giữ kiến trúc nhà ở và lối sản xuất riêng ngay trong lòng thành phố.

Kết quả phân định 3 khu vực của thành phố Buôn Ma Thuột theo quyết định số 03/2009/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Đắk Lắk ngày 13/01/2009 như sau:

  • Khu trung tâm, gồm 8 phường: Tân Tiến, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thành Công, Tân Lợi, Tự An, Tân Lập, Tân Thành.
  • Khu cận trung tâm, gồm 4 phường:Tân Hòa, Thành Nhất, Ea Tam, Tân An;
  • Khu ven nội, gồm 9 phường, xã: Khánh Xuân, Cư Êbur, Hòa Thắng, Hòa Khánh, Hòa Thuận, Ea Tu, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Xuân.
1.Cư Êbur 2.Tân Lợi 3.Tân An 4.Ea Tu 5.Hòa Thuận 6.Thành Nhất 7.Thành Công 8.Thắng Lợi 9.Thống Nhất 10.Tân Tiến 11.Tân Thành 12.Tự An 13.Tân Lập 14.Tân Hòa 15.Khánh Xuân 16.Ea Tam 17.Hòa Thắng 18.Hòa Xuân 19.Hòa Phú 20.Hòa Khánh 21.Ea Kao

Kinh tế - xã hộiSửa đổi

 
Ban Mê Thuột năm 1969
 
Ban Mê Thuột năm 1969
 
Chợ Ban Mê Thuột năm 1969
 
Sân vận động
Ban Mê Thuột năm 1969
 
Chợ Buôn Ma Thuột năm 2016
 
Sân vận động
Buôn Ma Thuột năm 2016

Buôn Ma Thuột đạt chuẩn một thị xã từ năm 1960 và công bố trên tư liệu bản đồ của lính Mĩ, hơn ba chục con đường nhựa tại khu Ngã 6 trung tâm được ghi chụp lại không ảnh trong những năm 1969.

Chợ được xếp loại chợ trung ương trong thời Việt Nam Cộng hòa, công nghiệp chưa có, ngành nông nghiệp với các cây công nghiệp, như cao su, cà phê đã phát triển rực rỡ và xuất khẩu đi các thị trường quốc tế từ những năm 1932.

Nay Buôn Ma Thuột đã trở thành thành phố năng động và phát triển nhanh nhất Tây Nguyên, năm 2010 trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là cơ sở để lập đề án xin ngân sách nhà nước xây dựng, phát triển thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương vào năm 2020 theo tinh thần kết luận 60 của Bộ Chính trị. Buôn Ma Thuột được chính phủ công nhận là thành phố có quy hoạch tương đối tốt trong một thời gian ngắn.[10]

Cùng với thành phố Bắc Ninh, Đà Lạt, Hòa Bình, Huế, Thái Nguyên, Sơn La, Vinh, Việt Trì, Hà Nội, Buôn Ma Thuột đã được chọn là 10 đô thị sạch trên cả nước và được tuyên dương trong lễ kỷ niệm Ngày đô thị Việt Nam (8/11/2009).[11]

  • Tốc độ tăng trưởng hàng năm bình quân: 13.5% (2018)
  • Tổng thu ngân sách nhà nước: gần 2.500 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách theo phân cấp: 1.502 tỷ đồng
  • Tổng chi ngân sách nhà nước: gần 1.183 tỷ đồng
  • Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 9.086 tỷ đồng
  • Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN: 9.109 tỷ đồng
  • Thu nhập bình quân đầu người: 104 triệu /người/năm.
  • Tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ: 37.191 tỷ đồng
  • Tỷ trọng các ngành: 44.87% công nghiệp-xây dựng, 49.81% thương mại-dịch vụ, 5.32% nông-lâm nghiệp.
  • Giao thông: 98% đường nội thành được nhựa hóa, là đầu mối giao thông cấp vùng và quốc gia.
  • Tỷ lệ hộ nghèo: 0.85%
  • Tỷ lệ cây xanh đô thị: 8.88 m²/người
  • Cấp điện: 100% đường phố chính và 80% đường hẻm đã được chiếu sáng
  • Cấp-thoát nước: 80% dân số được dùng nước sạch với định mức 137 lít/người/ngày. Ngoài ra Buôn Ma Thuột có hệ thống xử lý nước thải do Đan Mạch tài trợ được đánh giá tiên tiến nhất Việt Nam hiện nay mà chưa có thành phố nào ở Việt Nam đạt được.
  • Văn hóa-giáo dục: đã có 21/21 xã, phường hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Bình quân cứ 2,5 người thì có một người đi học.Năm 2015 ngành giáo dục của thành phố tiếp tục được đầu tư một cách toàn diện cả về cơ sở vật chất và nguồn lực con người. 100% các trường học trên địa bàn được xây dựng kiên cố khang trang, gần 100 % số giáo viên có trình độ đạt chuẩn trong đó có 56% giáo viên có trình độ trên chuẩn. Chất lượng giáo dục toàn diện không ngừng được nâng lên.Tuy nhiên bạo lực học đường với nam và nữ sinh vẫn sảy ra, tỉ lệ bạo lực ở nữ sinh có xu hướng tăng mạnh. Toàn thành phố có 59 trường được công nhận chuẩn Quốc gia.
  • Y tế: 21/21 Xã, Phường đều đã có y, bác sĩ túc trực.
  • Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,3%.

Thương mạiSửa đổi