Ben Foster (diễn viên)

Benjamin A. Foster (sinh ngày 29 tháng 10 năm 1980)[1] là một nam diễn viên người Mỹ. Anh đã góp mặt trong các bộ phim The Punisher (2004), X-Men: The Last Stand (2006), Alpha Dog (2006), The Messenger (2009), Pandorum (2009),[2] Sát thủ thợ máy (2011), Phi vụ ngầm (2012), Kill Your Darlings (2013), Sống sót (2013), The Program (2015), và Leave No Trace (2018). Anh đã được đề cử giải Sao Thổ cùng với giải Satellite nhờ diễn xuất trong tác phẩm Chuyến tàu đến Yuma (2007)[3] và chiến thắng giải Tinh thần độc lập cho vai diễn Tanner Howard trong Không lùi bước (2016).[4]

Ben Foster
Ben Foster by Gage Skidmore.jpg
Foster tại hội nghị San Diego Comic-Con năm 2015
SinhBenjamin A. Foster
29 tháng 10, 1980 (40 tuổi)
Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ
Quốc tịchHoa Kỳ
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1995–nay
Phối ngẫu
Laura Prepon (cưới 2018)
Con cái2
Người thânJon Foster (em trai)
Trang webbenfoster.com

Tiểu sửSửa đổi

Benjamin A. Foster sinh tại Boston, Massachusetts, vào ngày 29 tháng 10 năm 1980, là con trai của hai chủ nhà hàng Gillian Kirwan và Steven Foster.[5][6][7] Anh đã miêu tả cha mẹ mình là "những hippie phản đối cuộc chiến tại Việt Nam, có lối sống tự do phóng khoáng".[8] Anh có một người em trai, Jon, cũng là một diễn viên. Khi Foster lên bốn tuổi, gia đình anh phải chuyển đến Fairfield, Iowa, sau khi ngôi nhà của họ ở Boston bị bọn cướp đột nhập ngay khi họ đang có mặt ở đó.[7][8]

Foster lớn lên như một người Do Thái, và đã tổ chức nghi thức Bar Mitzvah truyền thống.[8][9] Ông bà nội của nam diễn viên là Celia (Segal) và Abraham Foster, một thẩm phán và chính trị gia nổi tiếng ở Boston, gia đình họ đã di cư khỏi Đế quốc Nga vào thời điểm trước đó.[10][11][12] Foster học ở một trường cao đẳng ở thị trấn địa phương, Đại học Tư thục Maharishi.[7] Khi còn trẻ, anh tham dự Trại hè nghệ thuật Interlochen, theo học ngành sân khấu.[13]</ref>

Sự nghiệpSửa đổi

Ben Foster bắt đầu làm diễn viên khi mới mười sáu tuổi.[7] Năm 1996-1997, anh đóng vai chính trong loạt phim truyền hình Flash Forward của Disney Channel.

Năm 2001, anh tham gia diễn xuất trong bộ phim Get Over It. Ngoài ra, Foster cũng có một vai định kỳ là Russell Corwin (22 tập) trong Series Original của HBO, Six Feet Under.[7] Sau khi xuất hiện trong các tác phẩm 11:14The Punisher, thì Foster góp mặt trong Hostage cùng Bruce Willis, Kevin PollakMichelle Horn. Năm 2006, Foster xuất hiện trong X-Men: The Last Stand với vai anh hùng truyện tranh Angel/Warren Worthington III.[7]. Trong phim giật gân tội phạm Alpha Dog, anh đóng vai nhân vật Jake Mazursky và nhỏ thuốc tăng nhãn áp vào mắt để hóa thân vào vai một người nghiện ma túy thật.[14] Năm 2007, tài tử sắm vai kẻ giết người máu lạnh Charlie Prince trong bộ phim miền Tây Chuyến tàu đến Yuma.[15]

Foster thủ vai Lance Armstrong trong tác phẩm tiểu sử The Program,[16][17] đồng thời góp mặt trong bộ phim phiêu lưu giả tưởng Warcraft: Đại chiến hai thế giới, phát hành vào tháng 6 năm 2016..[18]

Cũng trong năm đó, Foster xuất hiện trong Không lùi bước với vai Tanner Howard, đóng cặp với Chris PineJeff Bridges. Foster được đánh giá cao nhờ các vai diễn của mình và gặt hái được nhiều đề cử giải thưởng.

Foster đã liên tục nhận được những lời khen ngợi từ các nhà phê bình nhờ diễn xuất "dữ dội" và "điên loạn" trong nhiều bộ phim.[19][20][21] Nhà phê bình phim Matt Zoller Seitz đã mô tả Foster vào năm 2016 là "một trong những diễn viên làm một bộ phim dở trở nên đáng xem. Đôi lúc, anh ta sẽ gợi ý cho bạn một bộ phim mà bạn muốn xem".[22]

Đời sống cá nhânSửa đổi

Foster có mối quan hệ với nữ diễn viên người Đức Antje Traue, bạn diễn của anh trong Pandorum. Traue tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn rằng cô đã chuyển đến Los Angeles và sống với Foster cho đến khi mối quan hệ của họ tan vỡ vào khoảng năm 2010.[23] Foster bắt đầu mối quan hệ với nữ diễn viên Robin Wright vào đầu năm 2012.[24][25] Họ đính hôn vào đầu năm 2014,[26] nhưng đã hủy đính hôn vào ngày 12 tháng 11 năm 2014.[27] Foster và Wright hòa giải vào đầu năm 2015;[28] tuy nhiên, vào ngày 29 tháng 8 năm 2015, họ thông báo rằng đã hủy hôn lần thứ hai.[29]

Vào tháng 10 năm 2016, Foster cho biết anh đính hôn với nữ diễn viên Laura Prepon.[30] Prepon sinh cô con gái đầu lòng, Ella, vào tháng 8 năm 2017.[31] Foster và Prepon kết hôn vào tháng 6 năm 2018. Vào tháng 10 năm 2019, có thông tin cho rằng cặp đôi đang mong đợi đứa con thứ hai của họ.[32] Con trai của họ sinh vào tháng 2 năm 2020.[33]

Ngoài ra, Ben Foster cũng thực hành ngồi thiền theo kiểu Thiền Siêu Việt.[34]

Danh sách phim và hoạt động sân khấuSửa đổi

PhimSửa đổi

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
1996 Kounterfeit Travis
1999 Liberty Heights Ben Kurtzman
2001 Get Over It Berke Landers Đề cử—Teen Choice Award cho Cặp đôi được chọn(chia giải với Kirsten Dunst)
2002 The Laramie Project Aaron Kreifels
2002 Big Trouble Matt Arnold
2002 Phone Booth Big Q Không được ghi danh
2003 Northfork Cod
2003 11:14 Eddie
2004 The Punisher Spacker Dave
2004 The Heart Is Deceitful Above All Things Fleshy Boy
2005 Hostage Marshall "Mars" Krupcheck
2006 Alpha Dog Jake Mazursky Young Hollywood Award cho diễn xuất đột phá
2006 X-Men: The Last Stand Warren Worthington III / Angel
2007 Chuyến tàu đến Yuma Hoàng tử Charlie Giải của Hội phê bình phim Boston cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất (hạng 2)
Giải thưởng của Hiệp hội phê bình phim Trung tâm Ohio cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất (hạng 2)
Đề cử—Giải Sao Thổ cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử—Giải Satellite cho nam diễn viên phụ phim điện ảnh xuất sắc nhất
Đề cử—Giải SAG cho dàn diễn viên điện ảnh xuất sắc nhất
2007 30 Days of Night The Stranger
2008 Birds of America Jay
2009 The Messenger Trung sĩ nhất Will Montgomery Giải thưởng của Hội nữ phê bình gia cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử—Giải SDFCS cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử—Giải thưởng hội phê bình phim St. Louis Gateway cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử—Giải thưởng Độc lập Gotham cho nam diễn viên đột phá
2009 Blink AJ Phim ngắn
2009 Pandorum Bower
2011 Sát thủ thợ máy Steve McKenna
2011 Here Will Shepard
2011 360 Tyler
2011 Rampart Terry Cũng là nhà sản xuất
2012 Contraband Sebastian Abney
2013 North of South, West of East Cass
2013 Kill Your Darlings William Burroughs
2013 Ain't Them Bodies Saints Patrick Wheeler
2013 Sống sót Matthew "Axe" Axelson
2015 The Program Lance Armstrong Phát hành giới hạn
2016 The Finest Hours Thủy thủ Richard Livesey
2016 Không lùi bước Tanner Howard Giải Tinh thần độc lập cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
Giải Hiệp hội phê bình phim khu vực Washington D.C. cho cặp đôi xuất sắc nhất
Đề cử—Giải BFCA cho diễn xuất đôi sắc xuất sắc nhất
Đề cử—Giải BFCA cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử—Giải Hiệp hội phê bình phim Houston Film Critics Society cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử—Giải Hiệp hội phê bình phim khu vực Washington D.C. cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
2016 Warcraft: Đại chiến hai thế giới Medivh
2016 Inferno Bertrand Zobrist
2017 Rock'n Roll Chính anh
2017 Hostiles Trung sĩ Charles Wills
2018 Leave No Trace Will
2018 Galveston Roy Cady
Đã xác nhận Medieval Jan Žižka Hậu kỳ
Đã xác nhận Harry Haft Harry Haft Hậu kỳ
Đã xác nhận Violence of Action Hậu kỳ

Sân khấuSửa đổi

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
2013 Orphans Treat Xuất hiện lần đầu trên Broadway
2014 A Streetcar Named Desire Stanley Kowalski

Chương trình truyền hìnhSửa đổi

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
1996–1997 Flash Forward Tucker "Tuck" James Vai chính; 26 tập
Đề cử—Giải Gemini cho diễn xuất sắc nhất trong chương trình dành cho trẻ em hoặc thiếu niên (1997, 1998)
1998 You Wish Earl Tập: "Future Shock"
1998 I've Been Waiting for You Charlie Phim truyền hình
1998 Breakfast with Einstein Ryan Phim truyền hình
1999–2000 Freaks and Geeks Eli 2 tập
2000 Family Law Jason Nelson Tập: "A Mother's Son"
2001–2002 Boston Public Max Warner 2 tập
2002 Bang Bang You're Dead Trevor Adams Phim truyền hình
Giải Daytime Emmy cho diễn xuất nổi bật trong chương trình dành cho trẻ em
2003–2005 Six Feet Under Russell Corwin 22 tập (1 tập không được ghi danh)
Giải SAG cho Diễn xuất nổi bật của Dàn diễn viên trong Loạt phim Chính kịch (2004)
Đề cử—Giải SAG cho Diễn xuất nổi bật của Dàn diễn viên trong Loạt phim Chính kịch (2005)
2005 Dead Zone, TheThe Dead Zone Darren Foldes Tập: "The Last Goodbye"
2007 My Name Is Earl Glenn 2 tập
2012 Robot Chicken Orville Redenbacher / Du hành thời gian Lồng tiếng; tập: "Executed by the State"

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Ben Foster Biography (1980–)”. FilmReference.com. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ Ordona, Michael (ngày 1 tháng 11 năm 2009). “Ben Foster puts his heart into The Messenger. Los Angeles Times. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010. 
  3. ^ “Ben Foster”. Yahoo! Movies. 2010. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010. 
  4. ^ “2017 Film Independent Spirit Awards Winners Announced! – Film Independent”. Ngày 25 tháng 2 năm 2017. 
  5. ^ Fee, Gayle; Laura Raposa (ngày 3 tháng 9 năm 1995). “Inside Track: Pool barons foster son's fledgling career”. Boston Herald. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010.  (yêu cầu đăng ký)
  6. ^ Sherman, Paul (ngày 9 tháng 12 năm 1999). “New Heights; After landing the lead role in Barry Levinson's latest film, Boston native Ben Foster is flying”. Boston Herald. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010. (yêu cầu đăng ký)
  7. ^ a ă â b c d Abel, Judy (ngày 15 tháng 11 năm 2009). “Exploring life’s ‘darker corners’”. The Boston Globe. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010. 
  8. ^ a ă â Miller, Gerri (1999). “Foster Reaches for the "Heights". JVibe. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2006. 
  9. ^ Sragow, Michael (ngày 16 tháng 12 năm 1999). “It's a boy's, boy's, boy's world (and a girl's)”. Salon.com. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010. [liên kết hỏng]
  10. ^ Breed, Allan G. (ngày 4 tháng 2 năm 1999). “Ben Foster reaches for new Heights. Lawrence Journal-World. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2007. 
  11. ^ Lakshmanan, Indira A.R. (ngày 27 tháng 12 năm 1994). “A. Frank Foster, judge who once halted a man's beating; at 84”. Boston Globe. 
  12. ^ “CELIA (SEGAL) FOSTER « Brezniak Rodman Funeral Directors”. Brezniakrodman.com. Ngày 28 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014. 
  13. ^ “Halloween in Hollywood”. Interlochen Center for the Arts. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  14. ^ Robinson, Joanna (11 tháng 9 năm 2015). “Ben Foster Says He Actually Doped to Research Playing Lance Armstrong”. Vanity Fair. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 9 năm 2020. 
  15. ^ “Interview: Ben Foster, actor and producer”. The Scotsman. Ngày 17 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012. 
  16. ^ Windsor, Richard (ngày 13 tháng 11 năm 2014). “Bikes from Lance Armstrong movie to be sold off”. cyclingweekly.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014. 
  17. ^ Roxborough, Scott (ngày 23 tháng 10 năm 2013). “First Look: Ben Foster as Lance Armstrong in Stephen Frears' Biopic”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  18. ^ Collura, Scott (ngày 4 tháng 12 năm 2013). “Ben Foster and Dominic Cooper Head for Warcraft”. IGN. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  19. ^ Ebiri, Bilge (ngày 13 tháng 11 năm 2009). “Ben Foster on Shooting The Messenger’s Most Harrowing Scenes”. Vulture. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. Ben Foster has been attracting attention for some time thanks to his intense (sometimes even downright unhinged) portrayals in action flicks... 
  20. ^ Lumenick, Lou (ngày 7 tháng 9 năm 2007). “BEST WESTERN”. New York Post. NYP Holdings, Inc. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. The role [of Charlie Prince] is played with great flamboyance by Ben Foster, who manages to steal scenes left and right from CroweBale – no easy feat. 
  21. ^ Scott, A. O. (ngày 12 tháng 11 năm 2009). “Delivering Bad News and Truths About War”. The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. ... with this performance Mr. Foster, having shown intriguing promise in Alpha Dog and 3:10 to Yuma, places himself in the first rank of young American screen actors. 
  22. ^ Matt Zoller Seitz [@mattzollerseitz] (ngày 29 tháng 7 năm 2016). “Ben Foster's one of those actors who makes even a bad film worth seeing. Sometimes he suggests the film you'd rather be watching.” (Tweet). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017 – qua Twitter. 
  23. ^ Pauli, Harald (ngày 14 tháng 4 năm 2018). “Antje Traue, Der schoenste deutsche Hollywood-Import (in German)”. Focus Magazin (Nr. 16, 2018). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2018. 
  24. ^ “Robin Wright and Ben Foster Get Cozy”. People.com. Ngày 10 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  25. ^ Justin Ravitz (ngày 24 tháng 12 năm 2012). “Robin Wright, 46, and Ben Foster, 32, Affectionate During Shopping Trip”. US Magazine. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  26. ^ Alexis L. Loinaz (ngày 11 tháng 1 năm 2014). “Robin Wright and Ben Foster are engaged”. People.com. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  27. ^ Marquina, Sierra (ngày 12 tháng 11 năm 2014). “Robin Wright and Ben Foster Split, Call Off 10-Month Engagement – Find Out What Went Wrong”. Us Magazine. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014. 
  28. ^ “Introducing Robin Wright, Our April 2015 Cover Star”. Vanity Fair. 
  29. ^ Webber, Stephanie. “Robin Wright, Ben Foster Call Off Engagement For the Second Time”. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2015. 
  30. ^ “Laura Prepon and Ben Foster Are Engaged! See Her Gorgeous New Ring”. Ngày 5 tháng 10 năm 2016. 
  31. ^ “Laura Prepon and Ben Foster Are Married! 'Thank You for All the Love'. People. Ngày 3 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018. 
  32. ^ Juneau, Jen (ngày 24 tháng 10 năm 2019). 'Knocked Up!' Laura Prepon and Ben Foster Expecting Second Child: 'We Are So Excited'. People. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020. 
  33. ^ Weinberg, Lindsey (ngày 26 tháng 2 năm 2020). “Laura Prepon and Ben Foster Welcome Second Child”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020. 
  34. ^ DeYoung, Bill (ngày 27 tháng 10 năm 2009). “Extreme closeup: Ben Foster”. Connect Savannah. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010. 

Liên kết ngoàiSửa đổi