Một suất bento điển hình.

Bento (弁当 ("Biện Đương") bentō?)[1] là một bữa ăn mang đi hoặc được chuẩn bị sẵn từ nhà phổ biến trong trong văn hoá ẩm thực Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc và các nền văn hóa châu Á khác, trong đó gạo là thực phẩm chính. Một suất bento truyền thống thường có cơm hoặc mì, cá hoặc thịt, với rau củ muối hoặc nấu, tât cả được đặt trong một hộp gỗ hoặc giấy. [2] Hộp đựng bento làm từ các vật liệu sản xuất hàng loạt cho tới hộp sơn mài thủ công.

Bento có sẵn tại nhiều nơi trên khắp Nhật Bản, bao gồm các cửa hàng tiện lợi, các quán bán bento shops (弁当屋 bentō-ya?), ga tàu điện, và các cửa hàng bách hóa. Tuy nhiên, những người nội trợ Nhật Bản thường dành thời gian và công sức chuẩn bị những hộp cơm trưa chu đáo cho chồng, con cái hoặc chính họ.

Những hộp bento còn được trình bày công phu theo phong cách gọi là "kyaraben" ("nhân vật bento"). Kyaraben thường được trang trí để trông giống như các nhân vật nổi tiếng từ hoạt hình Nhật Bản (anime), truyện tranh (manga) hoặc trò chơi video. Một phong cách bento phổ biến khác là "oekakiben" hoặc "bento hình ảnh". Bento sẽ được trang trí để trông giống như con người, động vật, các tòa nhà và tượng đài, hoặc các mặt hàng như hoa và thực vật. Các cuộc thi thường được tổ chức, nơi tổ chức các cuộc thi trang trí hộp bento cầu kỳ và đẹp mặt nhất.

Có một số hình thức tương tự của hộp cơm trưa ở các nước châu Á bao gồm có Philippines (baon), Hàn Quốc (dosirak), Đài Loan (biàndāng bằng tiếng Quan Thoại và “piān-tong” trong tiếng Đài Loan) và Ấn Độ (tiffin). Ngoài ra, văn hóa Hawaii đã du nhập phiên bản bento mang hương vị địa phương trên các hòn đảo sau hơn một thế kỷ chịu ảnh hưởng từ Nhật Bản.

Lịch sửSửa đổi

 
Một ekiben giá 1.000 yen được bày bán ở Ga Tokyo.

Các hộp bentō có nguồn gốc từ cuối thời Kamakura (1185 đến 1333) với sự xuất hiện của hoshi-ii ( hay 干し飯 - món cơm rang kiểu Nhật. Hoshi-ii có thể dùng để ăn liền hoặc đổ thêm nước, chúng được đựng trong các hộp nhỏ, tiền thân của các hộp bentō ngày nay. Đến thời Azuchi-Momoyama (1568 đến 1600), các hộp đựng cơm bằng gỗ sơn mài bắt đầu xuất hiện, người Nhật khi đó thường ăn bentō khi họ ngắm hoa anh đào trong các dịp hanami hoặc ăn trong các bữa tiệc trà. Văn hóa chuẩn bị bentō được phát triển và hoàn thiện vào thời Edo (1603 đến 1867), từ bentō người ta nghĩ ra nhiều biến thể khác như koshibentō (腰弁当) - hộp cơm nhỏ cho hành khách với chỉ một vài nắm cơm onigiri. Một biến thể khác của bentō là ekiben (駅弁当 hoặc 駅弁, bentō cho bến tàu) bắt đầu xuất hiện từ thời Meiji (1868 đến 1912) để phục vụ những hành khách đi tàu hỏa. Các sinh viên và học sinh Nhật cũng thường dùng bentō trong bữa trưa vì những trường học hiện đại thời kỳ đầu ở Nhật Bản không cung cấp bữa ăn này cho học sinh, việc này giảm dần sau Thế chiến thứ hai khi các nhà trường Nhật bắt đầu tổ chức các bữa ăn trưa tập thể. Từ thập niên 1980, bentō bắt đầu được bán dưới dạng ăn liền (chỉ cần hâm nóng trong lò vi sóng) tại các siêu thị và cửa hàng thực phẩm Nhật Bản, các hộp gỗ bentō đắt tiền vì thế được thay thế bằng các hộp giấy hoặc nhựa tiện dụng và giá rẻ.

Bento tại Việt Nam cũng dần được nhiều người biết đến, ví dụ qua 2 quyển sách về nghệ thuật Bento là "Hơn cả ăn ngon[3]" và "Con thích nhất Bento mẹ làm![4]" của Phan Sắc Cẩm Ly do Nhà xuất bản Trẻ và Thaihabooks phát hành.

Phân loạiSửa đổi

 
Một makunouchi bentō.
 
Một Sushizume.
  • Shōkadō bentō (松花堂弁当) là bentō với hộp chứa bằng gỗ sơn mài đen truyền thống. Hãng IBM đã lấy ý tưởng từ loại bentō này để thiết kế máy tính xách tay ThinkPad (hiện thuộc sở hữu của hãng Lenovo).[5]
  • Kamameshi bentō (釜飯弁当) là bentō được bán tại các nhà ga ở vùng Nagano với các hộp chứa bằng đất sét nung.
  • Makunouchi bentō (幕の内弁当) là bentō truyền thống với cơm, umeboshi (một loại dưa muối), một lát cá hồi hun khói, trứng cuộn và những món khác.
  • Noriben (海苔弁) là loại bentō với cơm và lá nori tẩm xì dầu.
  • Sake bentō (鮭弁当) là loại bentō đơn giản với món chính chỉ là một lát cá hồi hun khói.
  • Shidashi bentō (仕出し弁当) là loại bentō được nhà hàng bán cho bữa trưa với những món ăn Nhật truyền thống như tempura và dưa muối. Ngày nay shidashi bentō cũng có cả những món ăn nấu theo kiểu phương Tây.
  • Sushizume (鮨詰め) là loại bentō chỉ gồm sushi.

Hình ảnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Bento”. Dictionary.com. 
  2. ^ "Bento: Thay đổi văn hóa ăn trưa của New York," Chopsticks NY, số báo 27, tháng 7 năm 2009, trang 10-11.
  3. ^ “Ra mắt sách Hơn cả ăn ngon”. 
  4. ^ “Ra mắt sách Con thích nhất Bento mẹ làm!”. 
  5. ^ Golden, Peter (1 tháng 1 1999). “Big Blue's big adventure”. Electronic Business. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi