Big Hit Entertainment

Big Hit Entertainment (Hangul: 빅히트 엔터테인먼트; RR: Big Hiteu Enteoteinmeonteu), là một công ty giải trí có trụ sở chính tại Hàn Quốc được thành lập vào ngày 1 tháng 2 năm 2005 bởi Bang Si-hyuk. Các nghệ sĩ hiện tại bao gồm nghệ sĩ solo Lee Hyun, nhóm nhạc nam BTS, TXT, nhóm nhạc nữ GFriend trực thuộc Source Music, nhóm nhạc nam Enhypen trực thuộc Belif Lab và là cổ đông lớn nhất của Pledis Entertainment.[5]

Big Hit Entertainment
Tên bản ngữ
(주) 빅히트 엔터테인먼트
Tên phiên âm
Big hiteu enteoteinmeonteu
Loại hình
Công ty đại chúng
Mã niêm yếtKRX: 352820
Ngành nghềGiải trí
Thể loại
Thành lập1 tháng 2 năm 2005; 15 năm trước (2005-02-01)
Người sáng lậpBang Si-hyuk
Trụ sở chínhGangnam-gu, 5 30-gil, Hakdong-ro, Floor Yangjin Plaza 5F, Seoul, Hàn Quốc
Nhân viên chủ chốt
  • Bang Si-hyuk (đồng CEO, chủ tịch hội đồng quản trị)
  • Yoon Seok-jun (đồng CEO, điều hành bộ phận toàn cầu & kinh doanh)
  • Park Ji-won (đồng CEO, điều hành bộ phận trụ sở & quản lý)
Dịch vụ
  • Sản xuất âm nhạc, xuất bản, phát triển nghệ sĩ mới, quản lý nghệ sĩ
  • Kinh doanh 360°, IP (quyền sở hữu trí tuệ) & kinh doanh nền tảng
Doanh thu
  • Tăng 494,6 triệu USD (2019)
[1]
  • Tăng 82,4 triệu USD (2019)
[1]
Chủ sở hữu
  • Cờ Hàn Quốc Bang Si-hyuk (43,44%)[2]
  • Cờ Hàn Quốc Netmarble (24,87%)
  • Cờ Hàn Quốc STIC Investments (12,15%)
  • Cờ Hàn Quốc Mainstone Co., Ltd. (8,71%)
  • Cờ Hàn Quốc Eastern Equity Partners (2,7%)
  • Cờ Trung Quốc Legend Capital (6,24%)
  • Cờ Hàn Quốc BTS (1,68%)
Số nhân viên
Khoảng 800 (ước tính tháng 8 năm 2020)[3]
Công ty conSource Music (80%)[4]
Websitebighitcorp.com

Lịch sửSửa đổi

Big Hit Entertainment được thành lập vào ngày 1 tháng 2 năm 2005 bởi Bang Si-hyuk,[6] và đã ký kết hợp đồng với 8Eight vào năm 2007.[7] Năm 2010, Big Hit Entertainment và JYP Entertainment đã ký một hợp đồng quản lý chung cho nhóm nhạc nam 2AM.[8] Cùng năm đó, Bang Si-hyuk đã ký hợp đồng với RM, với tư cách là thành viên đầu tiên của BTS và phát động các buổi thử giọng trên toàn quốc để chiêu mộ các thành viên cho nhóm.[9] BTS đã ra mắt dưới trướng Big Hit Entertainment vào ngày 13 tháng 6 năm 2013.[10]

Vào năm 2012, công ty đã ký hợp đồng với Lim Jeong-hee,[11] và nhóm nhạc nữ Glam đã được thành lập với sự hợp tác của Source Music. Nhóm đã hoạt động cho đến năm 2014, khi họ tan rã do tranh cãi về một trong các thành viên, Kim Da-hee, người bị kết án tù sau những cáo buộc về vụ việc tống tiền nam diễn viên Lee Byung-hun.[12][13][14]

Sau khi hợp đồng chung giữa Big Hit Entertainment và JYP Entertainment kết thúc vào tháng 4 năm 2014, 3 thành viên của 2AM đã trở lại JYP Entertainment, trong khi Lee Chang-min ở lại Big Hit Entertainment để tiếp tục với sự nghiệp solo của anh và như một phần của bộ đôi Homme.[8] Năm đó cũng chứng kiến ​​sự tan rã của 8Eight sau khi hợp đồng của Baek Chan và Joo Hee với Big Hit Entertainment kết thúc.[7]

Vào tháng 5 năm 2015, Lim Jeong-hee đã rời công ty sau khi hết hạn hợp đồng 3 năm,[11]Signal Entertainment Group, một công ty niêm yết trên KOSDAQ chuyên về quản lý nghệ sĩ và sản xuất truyền hình, đã mua lại Big Hit Entertainment thông qua một trái phiếu chuyển đổi trị giá 6 tỷ KRW.[15] Vào đầu năm 2017, Big Hit Entertainment đã chấm dứt mối quan hệ cổ phần của họ với Signal Entertainment Group và thanh toán đầy đủ các trái phiếu.[16][17]

Vào tháng 2 năm 2018, Homme tan rã sau khi hợp đồng của thành viên Lee Chang-min kết thúc. Anh rời công ty để thành lập công ty riêng, trong khi Lee Hyun tiếp tục hoạt động như một nghệ sĩ solo.[18] Vào tháng 8, Big Hit Entertainment và CJ E&M đã công bố thông tin về kế hoạch thành lập một công ty liên doanh. Được hoạt động dưới tên Belift Lab, công ty sẽ được chia 52% cho CJ E&M và 48% cho Big Hit Entertainment.[19] Nhóm dự định ra mắt vào năm 2020.[20] Cuối tháng 10 năm đó, BTS đã tái ký và gia hạn hợp đồng của họ với Big Hit Entertainment thêm 7 năm nữa.[21] Big Hit Entertainment được bình chọn là công ty đầu tư tốt nhất năm 2018 tại Korea VC Awards.[22]

Vào tháng 3 năm 2019, nhóm nhạc nam TXT đã ra mắt dưới trướng Big Hit Entertainment.[23] Cựu CBO Lenzo Yoon cũng được bổ nhiệm làm đồng CEO với Bang Si-hyuk,[24] tập trung vào các bộ phận kinh doanh của công ty trong khi Bang Si-hyuk sẽ tập trung vào bộ phận sản xuất sáng tạo.[25] Vào ngày 29 tháng 7 năm 2019, Big Hit Entertainment đã mua lại Source Music, công ty hiện đang quản lý nhóm nhạc nữ GFriend,[26] và mua lại công ty trò chơi âm nhạc Superb vào tháng 8 năm 2019.[27] Nhờ hai ứng dụng được phát triển bởi công ty con benX, Weverse và Weverse Shop, Fast Company đã chọn Big Hit Entertainment là công ty sáng tạo thứ tư trong năm 2020 trên toàn thế giới.[28]

Vào tháng 5 năm 2020, Big Hit Entertainment đã trở thành cổ đông lớn nhất của Pledis Entertainment. Big Hit Entertainment tuyên bố rằng Pledis Entertainment vẫn sẽ hoạt động độc lập, nhưng các nghệ sĩ của Pledis Entertainment sẽ được quảng bá rộng rãi hơn bên ngoài Hàn Quốc.[29]

Giá trị công ty và đầu tưSửa đổi

Big Hit Entertainment hiện đang hoạt động như một công ty đại chúng. Bang Si-hyuk vẫn là cổ đông lớn nhất cho cổ phiếu của Big Hit Entertainment.[2] Vào tháng 3 năm 2017, công ty trò chơi di động Netmarble của Hàn Quốc đã trở thành cổ đông lớn thứ 2 khi mua lại 25,71% cổ phần của Big Hit Entertainment, trả một khoản thanh toán theo báo cáo là 201,4 tỷ KRW (111,8 triệu USD).[30] CEO của Netmarble, Bang Joon-hyuk và Bang Si-hyuk là anh em họ.[31] Vào tháng 10 năm 2018, công ty đầu tư tư nhân STIC Investments đã mua lại 12% cổ phần của Big Hit Entertainment, với khoản đầu tư xấp xỉ 104 tỷ KRW (~93 triệu USD).[32]

Năm 2007, Big Hit Entertainment có tổng cộng 4 nhân viên làm việc và gần như phá sản, nhưng nhờ sự thành công của Without a Heart bởi 8Eight vào năm 2009, Bang Si-hyuk đã có thể giữ cho công ty hoạt động.[33] Giá trị của công ty đã tăng trưởng trong nhiều năm nhờ vào sự nổi tiếng toàn cầu của BTS.[34] Vào tháng 3 năm 2018, Big Hit Entertainment lần đầu tiên công khai thu nhập của mình, báo cáo doanh thu ở mức 92,4 tỷ KRW (~82 triệu USD),[35] và lợi nhuận hoạt động ở mức 32,5 tỷ KRW (~29 triệu USD) vào năm 2017.[36] Doanh số bán hàng trong năm 2018 đã tăng 132% so với năm 2017, đạt khoảng 214,2 tỷ KRW (~189,38 triệu USD). Lợi nhuận hoạt động của công ty đã tăng 97% trong năm, tạo ra 64,1 tỷ KRW (~56,72 triệu USD) và tăng 105% trong lợi nhuận ròng, tạo ra 50,2 tỷ KRW (~44,41 triệu USD).[37]

Thành công của Big Hit Entertainment được cho là nhờ phong cách quản lý sáng tạo, giống như một công ty công nghệ hơn là một công ty giải trí, điều đã trở thành tiêu chuẩn mới trong ngành công nghiệp K-pop, nó bao gồm việc sử dụng rộng rãi các phương tiện truyền thông mạng xã hội để thu hút sự quan tâm của mọi người và chuyển đổi thành doanh số, cũng như việc tạo ra các nội dung đa phương tiện liên quan đến nghệ sĩ và tận dụng sức mạnh của cộng đồng người hâm mộ.[38][39]

Nếu tham gia IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng) vào tháng 3 năm 2018, giá trị của công ty có thể đạt đến 700 tỷ KRW (~624 triệu USD), khiến cho CEO Bang Si-hyuk trở thành người giàu nhất trong ngành giải trí Hàn Quốc nhờ vào vị trí nắm giữ cổ phần nhiều nhất và đem về cho ông giá trị sở hữu cá nhân xấp xỉ 350 tỷ KRW (~314 triệu USD).[40] Vào tháng 10 năm 2018, Big Hit Entertainment được đánh giá có giá trị cao hơn 1 nghìn tỷ KRW,[36] và dao động trong khoảng từ 1,28 đến 2,22 nghìn tỷ KRW vào năm 2019.[41] Tính đến tháng 3 năm 2020, tổng giá trị của Big Hit Entertainment đã đạt mức định giá lên đến 6 nghìn tỷ KRW (~5 tỷ USD).[42]

Big Hit Entertainment bắt đầu kế hoạch tham gia IPO vào ngày 21 tháng 5 năm 2020, sau khi đăng ký tư vấn trước IPO với Sàn giao dịch Hàn Quốc. Điều này là bắt buộc theo luật pháp Hàn Quốc trước khi một công ty có thể nộp các thủ tục giấy tờ để tham gia IPO.[43] Một tuần sau, công ty đệ trình bản đánh giá sơ bộ về kế hoạch IPO của họ.[44] Vào ngày 15 tháng 10 năm 2020, Big Hit Entertainment đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán KOSPI và bắt đầu giao dịch cổ phiếu.[45][46]

Cơ cấu công tySửa đổi

Big Hit Entertainment được chia thành hai bộ phận, Big Hit Labels (bộ phận nhãn hiệu) và Big Hit Business (bộ phận kinh doanh).

Big Hit LabelsSửa đổi

Big Hit BusinessSửa đổi

  • Big Hit Entertainment Japan Inc.
  • Big Hit Entertainment America Inc.
  • Big Hit Three Sixty Co., Ltd.
  • Big Hit IP Co., Ltd.
  • Big Hit Edu
  • Bnx Co., Ltd.
    • beNX Japan Inc.
    • beNX America Inc.
  • Superb Co., Ltd.

Hoạt động từ thiệnSửa đổi

Vào năm 2017, truyền thông Hàn Quốc đã tiết lộ rằng Big Hit Entertainment đã âm thầm quyên góp 30 triệu KRW (~572 triệu VNĐ) cho gia đình các nạn nhân sau vụ lật phà Sewol vào năm 2014.[48]

Vào năm 2020, Big Hit Entertainment, cùng với BTS, đã quyên góp 1 triệu USD (~23 tỷ VNĐ) cho phong trào Black Lives Matter, nhằm ủng hộ cuộc biểu tình George Floyd,[49] và 1 triệu USD cho chiến dịch Crew Nation của Live Nation, nhằm giúp đỡ đội ngũ nhân viên tổ chức buổi hòa nhạc bị ảnh hưởng lớn về tài chính do đại dịch COVID-19.[50]

Nghệ sĩ hiện tạiSửa đổi

Big Hit EntertainmentSửa đổi

Tên nghệ sĩ/nhóm Nghề nghiệp Thành viên Trưởng nhóm Tên fandom Năm hoạt động
Lee Hyun Ca sĩ Không có 2007–nay
BTS RM, Jin, Suga, J-Hope, Jimin, V, Jung-kook RM A.R.M.Y

(Adorable Representative Master in Youth)

2013–nay
TXT Soobin, Yeonjun, Beomgyu, Taehyun, Huening Kai Soobin MOA

(Moment Of Alwaysness)

2019–nay

Source MusicSửa đổi

Tên nghệ sĩ/nhóm Nghề nghiệp Thành viên Trưởng nhóm Tên fandom Năm hoạt động
GFriend Ca sĩ Sowon, Yerin, Eunha, Yuju, SinB, Umji Sowon BUDDY 2015–nay

Pledis EntertainmentSửa đổi

Tên nghệ sĩ/nhóm Nghề nghiệp Thành viên Trưởng nhóm Tên fandom Năm hoạt động
NU'EST Ca sĩ Aron, JR, Baekho, Minhyun, Ren JR L.O.Λ.E 2012–nay
Seventeen S.Coups, Jeonghan, Joshua, Jun, Hoshi, Wonwoo,

Woozi, DK, Mingyu, The8, Seungkwan, Vernon, Dino

S.Coups CARAT 2015–nay

Belif LabSửa đổi

Tên nghệ sĩ/nhóm Nghề nghiệp Thành viên Trưởng nhóm Tên fandom Năm hoạt động
Enhypen Ca sĩ Heeseung, Jay, Jake, Sunghoon, Sunoo, Jungwon, Niki Heeseung 2020–nay

Cựu nghệ sĩSửa đổi

Tên nghệ sĩ/nhóm Nghề nghiệp Thành viên Trưởng nhóm Năm hoạt động Ghi chú
8Eight Ca sĩ Lee Hyun, Joo Hee, Baek Chan Không có 2007–2014, 2020 Đồng quản lý bởi Source Music
K.Will Không có 2006–2007 Trực thuộc Starship Entertainment
Lim Jeong-hee Không có 2012–2015 Trực thuộc JYP Entertainment
2AM Jo Kwon, Lee Chang-min, Lim Seul-ong, Jeong Jin-woon Jo Kwon 2010–2014 Đồng quản lý bởi JYP Entertainment
Homme Lee Hyun, Lee Chang-min Không có 2010–2018 Chang-min trực thuộc JYP Entertainment

Lee Hyun ở lại Bighit Entertainment

David Oh Không có 2011–2016 Trực thuộc Gon Entertainment
Glam Zinni, Trinity, Jiyeon, Dahee, Miso Jiyeon 2012–2015 Đồng quản lý bởi Source Music

Tan rã vì bê bối tống tiền của Da-hee

Giám đốc và nhân viênSửa đổi

Tên Chức vụ Ghi chú
Bang Si-hyuk Đồng CEO, chủ tịch hội đồng quản trị Người sáng lập Big Hit Entertainment

Nhà sản xuất và dẫn dắt bộ phận sáng tạo của Big Hit Labels

Yoon Seok-jun Đồng CEO, điều hành bộ phận toàn cầu và kinh doanh Phát triển toàn cầu khu vực Bắc Mỹ và Nhật Bản

IP và bộ phận kinh doanh

Park Ji-won Đồng CEO, điều hành bộ phận trụ sở và quản lý Cấu tạo và phát triển nội bộ Big Hit Entertainment
Choi Yoo-jung Phó chủ tịch
Pdogg Nhà soạn nhạc, nhà sản xuất Nhà sản xuất chính của Big Hit Entertainment
Supreme Boi
Suga (BTS)
j-hope (BTS)
RM (BTS)
Wonderkid
Kimberly
Vikie
Slow Rabbit
NaRi
MD
JiJi
FAIZ
HONEYMOON
Jang Yi-jeong
ADORA
Docskim
EL CAPITXN
Hissnoise
Son Sung-deuk Giám đốc sân khấu (trưởng nhóm)
Kim Sung-hyun Giám đốc hình ảnh (trưởng nhóm)

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă Benjamin, Jeff (ngày 5 tháng 2 năm 2020). “BTS Label Big Hit Entertainment Nearly Doubles Revenue From Previous Year, Adds $15 Million In Operating Profit”. Forbes. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2020. 
  2. ^ a ă “Who We Are”. Big Hit Entertainment (bằng tiếng Hàn). Ngày 11 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2020. 
  3. ^ “Big Hit Entertainment (trong mục "Who We Are"). 
  4. ^ Kim, Gun-woo (ngày 31 tháng 3 năm 2020). “방시혁 지분 늘린 빅히트 작년 매출 5872억…북미서만 1700억 벌어” [Bang Si-hyuk's stake in Big Hit increased 57.8 billion won last year… North America alone earns 170 billion won]. Money Today. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020. 
  5. ^ Kim, Na-yul (25 tháng 5 năm 2020). 빅히트, 플레디스 최대주주 지위 확보..뉴이스트·세븐틴으로 최고 라인업[공식] [[Official] Big Hit secures the position of the largest shareholder in Pledis.. Top lineup with Nu'est and Seventeen]. The Korea Herald (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2020 – qua Naver. 
  6. ^ “‘방탄소년단’ 만든 이 남자의 헉소리 나는 히트곡들”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Ngày 6 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  7. ^ a ă Yoon, Sung-yeol (ngày 21 tháng 2 năm 2014). “[단독]에이트, 7년만에 잠정적 해체.."각자 음악 활동". entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  8. ^ a ă “2AM’s Jo Kwon, Im Seulong, and Jung Jin Woon Return to JYP Entertainment”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016. 
  9. ^ “[INTERVIEW] Bangtan Boys”. Cuvism Magazine (bằng tiếng Hàn). Ngày 22 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015. 
  10. ^ “[Video] BTS Asks about Your Dreams in ‘No More Dream’ MV”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016. 
  11. ^ a ă “Big Hit Reveals Lim Jeong Hee′s Contract Ended in May”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016. 
  12. ^ 글램, 결국 3년 만에 해체…'이병헌 협박女' 다희-이지연 실형 선고. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016. 
  13. ^ 글램 다희, 모델 친구와 음담패설 영상 유포 협박 "세계적 스타라 거액 요구" 이병헌 공식입장은?. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016. 
  14. ^ “Lee Byung-hun repeats apology upon returning home”. The Korea Herald. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  15. ^ 씨그널엔터테인먼트그룹 "빅히트엔터 CB 60억 인수" [Signal Entertainment Group acquires Big Hit Ent for 60 billion "through CB"]. eDaily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2016. 
  16. ^ 빅히트엔터, 영업이익 100억 돌파…VC '흐뭇'. The Bell (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2017. 
  17. ^ “Signal Entertainment Group to sell entire shares of entertainment firm for 6.2 bln won”. Reuters. Ngày 6 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  18. ^ [공식입장] 이창민, 빅히트와 전속계약 만료 "1인 기획사 설립" [Lee Changmin's contract with Bighit Entertainment expires, "will start his own agency"]. Xsports News (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  19. ^ Park, Bo-ram (ngày 31 tháng 7 năm 2018). “BTS' management agency teams up with CJ affiliate to launch entertainment firm”. Yonhap News Agency. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018. 
  20. ^ Kim, Bong-kee (ngày 12 tháng 3 năm 2019). “Entertainment Giants Team up to Manufacture 'Next BTS'. The Chosun Ilbo. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2019. 
  21. ^ Herman, Tamar (ngày 17 tháng 10 năm 2018). “BTS Extend Contracts With Big Hit Entertainment Until 2026”. Forbes. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2018. 
  22. ^ Lee, Sang-yeon (ngày 6 tháng 12 năm 2018). 한국벤처투자, ‘Korea VC Awards 2018’ 개최. Money Today (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  23. ^ Kelley, Caitlin. “BTS's Label Reveals TOMORROW X TOGETHER Will Debut March 4”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2019. 
  24. ^ Herman, Tamar (ngày 7 tháng 3 năm 2019). “Big Hit Entertainment Appoints New Co-CEO Following Rise Of BTS, Launch Of TXT”. Forbes. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  25. ^ Lee, Jung-ho (ngày 6 tháng 3 năm 2019). 빅히트 '방탄 성장 주역' 윤석준 공동 대표이사 선임 [Big Hit 'Ballistic Growth Leader' Yoon Seok-jun appointed as co-CEO]. Star News (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  26. ^ Kelley, Caitlin. “Big Hit Entertainment, BTS’s Label, Acquires Source Music”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2020. 
  27. ^ Kim, Eun-ae (ngày 19 tháng 8 năm 2018). “빅히트, 음악게임 회사 수퍼브 인수..방시혁 "긍정적 가치 가져다줄 것"[공식]”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  28. ^ Mehta, Stephanie (ngày 10 tháng 3 năm 2020). “Millions of BTS fans use these 2 apps to connect and shop. No tech startups needed”. Fast Company (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  29. ^ Herman, Tamar (ngày 25 tháng 5 năm 2020). “BTS’s Agency Big Hit Becomes Majority Shareholder Of K-Pop Company Pledis, Home To Seventeen & NU’EST”. Forbes. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2020. 
  30. ^ “Game maker becomes second largest shareholder of BTS' agency”. 
  31. ^ Ha, Sun-young (ngày 7 tháng 4 năm 2018). “Cousins unite as Netmarble buys stake in Bit Hit”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  32. ^ “스틱인베스트, BTS에 1040억 베팅”. www.paxnet.co.kr (bằng tiếng Hàn). Ngày 10 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  33. ^ Kim, Sohee (ngày 17 tháng 12 năm 2017). “Mogul Behind K-Pop Boy Band BTS Considers IPO”. www.bloomberg.com. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  34. ^ Kim, Yeon-joo; Kim, Hyo-jin (ngày 7 tháng 6 năm 2019). “BTS label Big Hit Entertainment joins the ranks of unicorns: HRI report”. pulsenews.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  35. ^ Lee, Ji-Yoo (ngày 26 tháng 3 năm 2018). “Expectations high for BTS-backed Big Hit Entertainment’s IPO”. The Investor. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019 – qua The Korea Herald. 
  36. ^ a ă “STIC Investments invests W104b in Big Hit” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018. 
  37. ^ Herman, Tamar (ngày 20 tháng 3 năm 2019). “BTS Helps Label Big Hit Entertainment to Record Result In 2018”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2019. 
  38. ^ “Big Hit Entertainment│① "New Generation" to introduce a new future of K-pop”. www.ize.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  39. ^ “Big Hit Entertainment│② The Decisions that Made Big Hit”. www.ize.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  40. ^ Choi, Man-soo (ngày 27 tháng 3 năm 2018). 양현석 넘은 박진영… BTS 대박에 방시혁 1위. Hankyung (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  41. ^ Kim, Yeon-joo (ngày 6 tháng 6 năm 2019). “BTS 소속사 `빅히트엔터` 유니콘 됐다”. Maeil Gyeongje (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  42. ^ “[과열로 치닫는 ‘빅히트’ 몸값] 3조원에서 6조원으로 2배 ‘껑충’”. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2020. 
  43. ^ Pulse (ngày 27 tháng 5 năm 2020). “BTS agency Big Hit may file for IPO as early as this week”. Pulse. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2020. 
  44. ^ Yonhap (ngày 29 tháng 5 năm 2020). “BTS agency Big Hit applies for preliminary review for listing”. The Korea Herald. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2020. 
  45. ^ Ji, Min-kyung (15 tháng 10 năm 2020). “빅히트, 시초가 27만원으로 코스피 입성.."세계적으로 사랑받는 기업되겠다" [종합]”. Osen (bằng tiếng Korean) (Naver). 
  46. ^ Cirisano, Tatiana (15 tháng 10 năm 2020). “BTS Label Big Hit Entertainment Doubles Shares in Smash Stock Market Debut”. Billboard. 
  47. ^ *“빅히트 측 "쏘스뮤직 인수 계약→자회사 편입, 독립성 유지"(공식)”. Newsen. Ngày 28 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2019. 
  48. ^ “[단독]방탄소년단, 세월호 참사 416가족협의회에 1억원 기부”. Naver (bằng tiếng Korean). Ngày 21 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2019. 
  49. ^ Benjamin, Jeff (6 tháng 6 năm 2020). “BTS and Big Hit Entertainment Donate $1 Million to Black Lives Matter (EXCLUSIVE)”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2020. 
  50. ^ Aswad, Jem (22 tháng 6 năm 2020). “BTS and Big Hit Entertainment Donate $1 Million to Crew Nation Charity”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2020. 

Liên kết ngoàiSửa đổi

Big Hit Entertainment

LOVE MYSELF (UNICEF Campaign)