Mở trình đơn chính

Bom ba càng

vũ khí công phá cảm tử nổi tiếng ở giai đoạn đầu chiến tranh Đông Dương
Tượng quyết tử quân ôm bom ba càng tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Bom ba càng được biết đến ở Việt Nam khi quân Nhật tiến vào Đông Dương thuộc Pháp.

Sau khi Nhật đầu hàng và Việt Minh giành được chính quyền, có thu được một số bom ba càng của người Nhật. Khoảng gần 100 bom ba càng được phát cho Vệ quốc đoàn, trong đó hơn một nửa ở Liên khu một để dùng trong trận Hà Nội vì bộ đội Việt Minh khi đó cũng không có phương tiện chống tăng hiệu quả. Tuy nhiên theo chỉ thị từ Chính phủ, Việt Minh không khuyến khích lối đánh tự sát trừ trường hợp bất khả kháng, nên Việt Minh không sản xuất thêm bom ba càng. Đến năm 1947, viện sĩ Trần Đại Nghĩa chế tạo thành công súng không giật chống tăng, bom ba càng do đó không còn được sử dụng nữa.

Bom ba càng được thiết kế với kíp kích nổ bằng va chạm, về nguyên tắc nó là đầu đạn lõm. Nó không có gì phức tạp trong việc chế tạo nên phù hợp với thời điểm đó. Bom có dạng hình phễu, miệng phễu có đường kính 22 cm, nhồi bằng thuốc nổ hoặc thuốc bom (7–10 kg), có vành gang gắn ba càng sắt dài 12 cm/càng; đáy phễu là bộ phận gây nổ, gồm: hạt nổ, kim hỏa và chốt hãm an toàn. Khoảng lõm ở đáy hình côn khi nổ sẽ khiến cho sức nổ hướng vào lớp thép xe tăng. Bom được lắp vào một cây gậy gỗ dài 1,2m. Người ta phải lắp 3 điểm chạm (3 kíp) để đề phòng có cái kíp nào "xịt" vì không có nhiều cơ hội cho chiến sĩ cảm tử tiếp cận với xe tăng.

Tác phẩm điêu khắc lấy cảm hứng từ những chiến sĩ cảm tử quân tại Bảo tàng Mỹ thuật

Ðánh bom ba càng phải là những chiến sĩ mưu trí, quả cảm, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng với phương châm diệt được xe cơ giới địch, mà tổn thất thấp nhất về sinh mạng thì cần phải giữ được yếu tố bí mật bất ngờ. Khi xuất kích, tiếp cận mục tiêu chiến sĩ phải được sự yểm trợ tối đa của hỏa lực, khống chế, vô hiệu hóa hỏa lực trên xe cơ giới và áp đảo tiêu diệt lực lượng bộ binh đi cùng. Ðánh bom động tác phải dứt khoát, tay trái hoặc tay phải nắm (nâng) nơi tiếp giáp đuôi bom và gậy, tay còn lại nắm chắc 2/3 của gậy, mặt bom chếch 45 độ về phía trước, cách mục tiêu 2 - 3m hạ bom ngang tầm vai hai tay lao bom vào vị trí đã chọn, phải bảo đảm ba càng bom cùng lúc chạm trên mặt phẳng của mục tiêu (xe tăng, xe bọc thép bánh hơi chọn nơi thành bên hông xe, dưới tháp pháo, xe half-truck nơi thành xe phía giáp cửa lên xuống, sát buồng lái trên nơi gắn thùng nhiên liệu) để bộ phận gây nổ kích nổ chuẩn xác. Bom nổ gây áp lực cháy nổ rất lớn (nhiên liệu và đạn trên xe cùng bị kích nổ), sức ép một phần dội ngược lại phía sau hất người đánh bom bật ngửa xuống đường, tổ cứu hộ phải sẵn sàng ngay lập tức xông ra dìu chiến sĩ đánh bom vào nơi an toàn.

Thông thường người chiến sĩ sẽ hy sinh sau khi bom nổ vì bị sức ép và hơi nóng táp vào người, nhưng cũng có trường hợp cá biệt đánh được nhiều lần. Trong một số tổng kết có nói đến một số chiến sĩ đánh cháy vài xe tăng bằng bom ba càng mà vẫn còn sống, nhưng không thấy phổ biến kinh nghiệm. Thời đó bom ba càng đánh được xe tăng vì chủ yếu Pháp đưa sang Việt Nam xe tăng hạng nhẹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng vì Pháp coi thường Vệ Quốc Đoàn trang bị thô sơ chủ yếu là súng trường cổ lỗ sỹ, không có súng chống tăng nên không đưa xe tăng hạng nặng sang (sau này họ mới rút kinh nghiệm). Nếu gặp xe tăng hạng nặng thì bom ba càng khó mà phá được giáp trước mà phải tìm cách đánh và hông hoặc phía sau xe.

Trong trận Hà Nội 1946, chừng 10 tổ cảm tử quân được thành lập, với tổng cộng chừng 100 đội viên. Họ được gọi là quyết tử quân, khác với đa số chiến sĩ tham gia chỉ được gọi là Vệ quốc quân hoặc tự vệ Hà Nội. Họ thường mặc áo trấn thủ, đeo khăn đỏ, cầm bom ba càng, có khi được tổ chức truy điệu sống trước khi xung trận. Được chọn vào đội cảm tử quân là niềm vinh dự với họ khi đó, và họ cũng là sự động viên tinh thần lớn cho quân dân trước sức mạnh quân sự của Pháp. Quân ta đã chiến thắng.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi