Boris Lvovich Vannikov

Boris Lvovich Vannikov (tiếng Nga: Бори́с Льво́вич Ва́нников; 26 tháng 8 năm 1897, tại Baku, Đế quốc Nga - ngày 22 tháng 2 năm 1962, tại Moskva, Liên Xô) là một chính khách và tướng lĩnh Liên Xô, hàm Thượng tướng.

Boris Lvovich Vannikov
Vannikov BL.jpg
Tiểu sử
Sinh26 tháng 8 năm 1897
Baku, Đế quốc Nga (nay thuộc Azerbaijan)
Mất22 tháng 2, 1962(1962-02-22) (64 tuổi)
Moskva, Liên Xô
Binh nghiệp
Phục vụLiên Xô Liên Xô
ThuộcRed Army flag.svg Hồng quân
Năm tại ngũ1918–1941
Cấp bậcCCCP army Rank general-polkovnik infobox.svg Thượng tướng kỹ thuật (1944)
Chỉ huyỦy viên nhân dân Trang bị
Thứ trưởng Bộ Máy móc hạng trung
Tham chiếnChiến tranh Vệ quốc vĩ đại
Chiến tranh Lạnh

Vannikov là Ủy viên nhân dân phụ trách Công nghiệp Quốc phòng từ tháng 12 năm 1937 đến tháng 1 năm 1939 và Ủy viên nhân dân về Vũ trang từ tháng 1 năm 1939 đến tháng 6 năm 1941. Ngày 7 tháng 6 năm 1941, Vannikov bị bắt vì "không thực hiện nhiệm vụ". Tuy nhiên, khi cuộc chiến với Đức bắt đầu vào ngày 22 tháng 6, Vannikov được trả tự do vào ngày 25 tháng 7 năm 1941, sau đó được bổ nhiệm làm Ủy viên nhân dân về Đạn dược từ tháng 2 năm 1942 đến tháng 6 năm 1946. Ông là một trong số hiếm hoi nạn nhân của Cuộc Thanh trừng Hồng quân 1941 may mắn được trả tự do không lâu sau khi bị bắt.

Từ năm 1945 đến năm 1953, Vannikov là Trưởng Ban 1 của Hội đồng Dân ủy Liên Xô. Ở vị trí này Vannikov làm việc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Lavrenty Beria, giám sát dự án bom nguyên tử của Liên Xô.[1]

Vannikov ba lần được phong là Anh hùng Lao động Xã hội Chủ nghĩa (1942, 1949 và 1954), và hai lần được trao Giải thưởng Stalin (1951 và 1953). Sau khi Beria bị bắt và qua đời vào năm 1953, Vannikov được chuyển sang làm Thứ trưởng thứ nhất của Bộ Chế tạo Máy trung bình (gồm các Ban 1, 2 và 3 được hợp nhất và là tên mã được chỉ định cho R&D và sản xuất hạt nhân ở Liên Xô). Ông nghỉ hưu năm 1958.

Giải thưởngSửa đổi

  • Ba lần Anh hùng Lao động xã hội chủ nghĩa (06/03/1942; 29/10/1949; 01/04/1954)
  • Sáu Huân chương Lenin (23/02/1939; 06/03/1942; 08/05/1944; 09/06/1947; 09/11/1956; 16/09/1957)
  • Huân chương Suvorov hạng I (09.16.1945)
  • Huân chương Kutuzov hạng I (18/11/1944)
  • Giải thưởng Stalin (2 lần, 06.12.1951 và 31.12.1953)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Rhodes, Richard (1995). Dark Sun: The Making Of The Hydrogen Bomb. Simon and Schuster. tr. 352.

Tham khảoSửa đổi