Mở trình đơn chính

BV Borussia Dortmund là một câu lạc bộ thể thao đóng ở Dortmund, phía bắc sông Rhine và được biết đến như một trong những đội bóng nổi tiếng và thành công nhất nước Đức cùng với Bayern Munich, Hamburg SVBorussia Mönchengladbach. Với 8 chiếc cúp vô địch quốc gia Đức và 4 cúp DFB Pokal, Dortmund cũng vô địch UEFA Cup Winners' Cup vào năm 1966 (trở thành đội bóng Đức đầu tiên giành danh hiệu tầm châu lục) và giành chức vô địch UEFA Champions League vào năm 1997.

Borussia Dortmund
Borussia Dortmund logo.svg
Tên đầy đủBallspielverein Borussia 09 e.V. Dortmund
Biệt danhDie Borussen (Những người Phổ)
Die Schwarzgelben (Vàng-Đen)
Der BVB (Những BVB)
Tên ngắn gọnBVB
Thành lập19 tháng 12, 1909; 109 năm trước
Sân vận độngSignal Iduna Park
Sức chứa sân81.365[1]
Chủ sở hữuReinhard Rauball
Chủ tịch điều hànhHans-Joachim Watzke (CEO)
Huấn luyện viênLucien Favre
Giải đấuBundesliga
2018–19Thứ 4
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Sân khách
Khác

Biệt danh của câu lạc bộ: Schwarzgelben (Vàng-đen) hay Die Borussen (những người Phổ).

Borussia Dortmund là một trong những câu lạc bộ giàu thành tích và có bề dày truyền thống bậc nhất của nước Đức. Tuy vậy, phải đến thập kỉ 90 đội bóng này mới gây được tiếng vang lớn đối với người hâm mộ trên toàn thế giới dưới cái bóng quá lớn của Hamburg SVBorussia Mönchengladbach, đặc biệt là FC Bayern München.

Đối thủ truyền kiếp của Dortmund là FC Schalke 04, là Revierderby (Derby vùng Ruhr). Ngoài ra còn có Borussia Mönchengladbach được gọi là Borussen derby (Derby nước Phổ).

Dortmund hiện tại là câu lạc bộ lớn thứ 3 tại Đức (sau Bayern München và Schalke 04) với 145.000 thành viên chính thức và thứ 11 thế giới.

Mục lục

Lịch sửSửa đổi

Được thành lập vào năm 1909, Dortmund không đạt được danh hiệu nào đáng kể cho đến những năm 1950, khi họ giành chiến thắng hai lần liên tiếp tại Giải Bundesliga vào năm 1956 và 1957. Từ đó Dortmund đã dần trở thành một đội bóng có tên tuổi trong làng bóng đá Đức, Mùa bóng 1962/63 vô địch Bundesliga sau đó Dortmund đoạt chức Vô địch Cup Winners Cup, danh hiệu Châu Âu đầu tiên của CLB. Tuy nhiên phải sau những năm 1990,Schwarzgelben mới thực sự phát triển và trở thành một trong những CLB hùng mạnh cả trong nền bóng đá Đức và cả của Châu Âu, khi trước đó phải đứng dưới cái bóng quá lớn của Bayern Munich, Hamburg và đặc biệt là Borussia Mönchengladbach[2], đội bóng cùng khu vực Nordrhein-Westfalen.

Sau hai lần liên tiếp đoạt chức vô địch giải quốc gia Đức vào năm 1995 và 1996, Bằng chiến thắng trước Juventus 3-1 tại Olympic Stadium, Borussia Dortmund đã đoạt được vương miện cao quý nhất của bóng đá châu Âu với danh hiệu UEFA Champions League mùa bóng 96/97. Sau đó để bổ sung thêm vào bảng vàng thành tích của mình, BVB còn tiếp tục đoạt nốt danh hiệu Vô địch Cup Liên Lục địa tổ chức tại Tokyo. Người kiến tạo nên những thành công đó cho BVB trong thập niên 90 là huấn luyện viên huyền thoại của CLB Ottmar Hitzfeld.

Trong tất cả các quá trình phát triển của mình Dortmund được biết đến như là một câu lạc bộ có lối chơi mang đậm phong cách Đức, phần lớn các cầu thủ của Dortmund thường là những người thợ đá bóng hơn là những cầu thủ mang đậm tính chất kỹ thuật, tất nhiên cũng có một số ngoại lệ, Andreas Möller, một trong những kỹ thuật gia của Dortmund và cả đội tuyển Đức trong những năm 90, và libero Matthias Sammer có lẽ là cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của câu lạc bộ. Vào đùng thời kỳ đỉnh cao của mình, BVB cũng có những đóng góp to lớn cho chiến thắng của đội tuyển quốc gia tại Euro 1996 với sự góp mặt của những ngôi sao Andy Möller, Matthias Sammer,Stefan Reuter,...

Mùa bóng 1998-99, Dortmund có những kết quả tồi tệ dưới thời của huấn luyện viên Michael Skibbe, họ đã không lọt vào vòng đấu bảng UEFA Champions League, một số hợp đồng mới không đạt kết quả như ý. Chính vì vậy mà Skibbe bị sa thải, qua một vài sự thử nghiệm ngắn ngủi một số huấn luyện viên không đạt yêu cầu, và chỉ đến khi huyền thoại câu lạc bộ Matthias Sammer đứng lên nhận nhiệm vụ lãnh đạo câu lạc bộ trong thời điểm khó khăn. Và như có một phép mầu của chàng trai tóc hung này, người mà huấn luyện viên đội bóng có nhiều cầu thủ già hơn chính mình, đã đưa con thuyền "vàng đen" trở về đúng con đường mà các cổ động viên mong đợi, ngay mùa bóng đầu tiên lãnh đạo BVB đoạt chức vô địch Bundesliga vào chung kết UEFA Cup. Matthias Sammer cũng là huấn luyện viên rất thành công trong việc tạo điều kiện cho nhân tài Đức phát triển: Christoph Metzelder, Sebastian Kehl, Torsten Frings, Lars Ricken....

Trang phụcSửa đổi

Màu áo đầu tiên của Dortmund là Xanh - Trắng - Đỏ. Sau khi sáp nhập với các CLB láng giềng là Britannia, RhenaniaDeutsche Flagge CLB mới có màu áo truyền thống hiện nay là Vàng - Đen.

Những mùa giải gần đâySửa đổi

Năm Giải đấu Vị trí
1999-00 Bundesliga 11
2000-01 Bundesliga 3
2001-02 Bundesliga 1
2002-03 Bundesliga 3
2003-04 Bundesliga 6
2004-05 Bundesliga 7
2005-06 Bundesliga 7
2006-07 Bundesliga 9
2007-08 Bundesliga 13
2008-09 Bundesliga 6
2009-10 Bundesliga 5
2010-11 Bundesliga 1
2011-12 Bundesliga 1
2012-13 Bundesliga 2
2013-14 Bundesliga 2
2014-15 Bundesliga 7
2015-16 Bundesliga 2

Danh hiệuSửa đổi

Danh hiệu chính thứcSửa đổi

Quốc gia
Vô địch (8): 1955-56, 1956-57, 1962-63, 1994–95, 1995–96, 2001–02, 2010–11, 2011–12
Về nhì (6): 1947-49, 1960-61, 1965–66, 1991–92, 2012-13, 2013-14, 2015-16, 2018-19
Vô địch (4): 1964-65, 1988-89, 2011–12, 2016–17
Về nhì (5): 1962-63, 2007-08, 2013-14, 2014-15, 2015-16
Vô địch (5): 1989, 1995, 1996, 2013, 2014
Về nhì (4): 2011, 2012, 2016, 2017
Về nhì (1): 2003
Quốc tế
1966
  • Về nhì (1): 1997

Đội trẻSửa đổi

Cầu thủSửa đổi

Đội hình hiện tạiSửa đổi

Tính đến 1 tháng 7 năm 2019[3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1   TM Roman Bürki
2   HV Dan-Axel Zagadou
5   HV Achraf Hakimi
6   TV Thomas Delaney
7   TV Jadon Sancho
8   TV Mahmoud Dahoud
9   Paco Alcácer
10   TV Mario Götze
11   Marco Reus (Đội trưởng)
13   HV Raphaël Guerreiro
14   HV Nico Schulz
15   HV Mats Hummels
16   HV Manuel Akanji
17   TV Sergio Gomez Martin
Số áo Vị trí Cầu thủ
18   HV Leonardo Balerdi
19   TV Julian Brandt
20   Maximilian Philipp
22   HV Mateu Morey
23   Thorgan Hazard
25   TM Luca Unbehaun
26   HV Lukasz Piszczek
27   TV Marius Wolf
28   TV Axel Witsel
29   HV Marcel Schmelzer
33   TV Julian Weigl
34   TV Jacob Bruun Larsen
35   TM Marwin Hitz
36   HV Ömer Toprak
40   TM Eric Oelschlagel

Cho mượnSửa đổi

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
  Alexander Isak (cho Williem II mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
  Andre Schurrle (cho Fulham mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2020)
  TV Shinji Kagawa (cho Besiktas JK mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
  TV Sebastian Rode (cho Eintracht Frankfurt mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
  TV Dženis Burnić (cho Dynamo Dresden mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
  HV Jeremy Toljan (cho Celtic FC mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
  HV Felix Passlack (cho Norwich City mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)

Các huấn luyện viênSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Dortmunds Stadionkapazität erhöht sich” (bằng tiếng Đức). Spiegel Online. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  2. ^ https://en.wikipedia.org/wiki/Borussia_M%C3%B6nchengladbach_12%E2%80%930_Borussia_Dortmund
  3. ^ “First Team”. bvb.de. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015. 

Liên kết ngoàiSửa đổi