Mở trình đơn chính

Brighton & Hove Albion F.C.

mona lisa
(đổi hướng từ Brighton & Hove Albion)

Câu lạc bộ bóng đá Brighton & Hove Albion (tiếng Anh: Brighton & Hove Albion Football Club /ˈbrtən ən ˈhv/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại thành phố Brighton and Hove, East Sussex, Anh, thường được gọi đơn giản là Brighton. Mùa 2017–18, câu lạc bộ sẽ thi đấu tại Ngoại hạng Anh, giải đấu cao nhất trong hệ thống các giải bóng đá Anh, các trận đấu của họ diễn ra trên sân vận động 30,750 chỗ ngồi sân Falmer, còn được gọi theo tên nhà tài trợ là Sân vận động American Express Community, hay ngắn gọn là Amex. Họ sẽ có lần đầu ra mắt tại Ngoại hạng Anh vào mùa giải 2017–18 sau khi giành vé lên hạng trực tiếp từ EFL Championship.

Brighton & Hove Albion
Brighton & Hove Albion logo.svg
Tên đầy đủBrighton & Hove Albion Football Club
Biệt danhThe Seagulls, Albion
Thành lập24 tháng 6, 1901; 117 năm trước
Sân vận độngSân vận động Falmer
Sức chứa sân30,750
Chủ tịch điều hànhTony Bloom
Quản lýChris Hughton
Giải đấuPremier League
2018-19thứ 17
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Sân khách

Đội có biệt danh là "Seagulls" hay "Albion". Đội có truyền thống thi đấu với màu áo xanh với sọc trắng, trong những năm 1970 đổi sang toàn trắng và trở lại màu truyền thống trong giai đoạn thành công nhất lịch sử những năm 1980.[1] Crystal Palace được coi là đối thủ chính của đội, mặc dù sân bóng của hai đội cách nhau 40 dặm.[2][3]

Được thành lập năm 1901, Brighton thi đấu những mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên ở Southern League trước khi được chọn để thi đấu tại Football League năm 1920. Câu lạc bộ có giai đoạn thi đấu đầy hứa hẹn trong giai đoạn 1979 tới 1983 khi họ thi đấu tại First Division và vào tới Chung kết Cúp FA 1983, để thua Manchester United sau trận đá lại.[4] Họ sau đó xuống hạng vào cuối mùa.

Do sự quản lý kém Brighton suýt xuống hạng từ Football League xuống Conference trong năm 1997 và 1998. Ban giám đốc sau đó cứu Brighton khỏi nợ nần, sau khi lên hạng liên tiếp họ trở lại hạng Nhất năm 2002, và kể từ đó họ thi đấu ở hạng nhất và hạng nhì kể từ đó đến mùa 2016–17, nơi họ giành quyền lên Premier League lần đầu tiên trong lịch sử ngày 17 tháng 4 năm 2017. Kết thúc 34 năm vắng bóng tại giải đấu cao nhất của Brighton.

Mục lục

Cầu thủSửa đổi

Đội hình hiện tạiSửa đổi

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1   TM Niki Mäenpää
2   HV Bruno (Đội trưởng)
3   HV Gaëtan Bong
4   HV Uwe Hünemeier
5   HV Lewis Dunk (Đội phó)
6   TV Dale Stephens
7   TV Beram Kayal
8   TV Jiří Skalák
9   Sam Baldock
10   Tomer Hemed
11   TV Anthony Knockaert
12   HV Sébastien Pocognoli (mượn từ West Brom)
13   TM David Stockdale
Số áo Vị trí Cầu thủ
14   TV Steve Sidwell
15   TV Jamie Murphy
16   TM Casper Ankergren
17   Glenn Murray
18   HV Connor Goldson
20   TV Solly March
21   TV Oliver Norwood
22   HV Shane Duffy
23   HV Liam Rosenior
25   HV Vegard Forren
27   HV Fikayo Tomori (mượn từ Chelsea)
28   Chuba Akpom (mượn từ Arsenal)
29   TV Richie Towell

Đội dự bị và học việnSửa đổi

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
26   TM Christian Walton
31   TM Robert Sanchez
32   TV Jayson Molumby
35   TV Connor Tighe
36   TV Dessie Hutchinson
37   HV Ben Barclay
40   HV George Cox
43   HV Ben White
44   HV Sam Adekugbe (mượn từ Vancouver Whitecaps)
45   HV Tom Cadman
46   James Tilley
48   HV Ben Hall
49   HV Tyler Hornby-Forbes
Số áo Vị trí Cầu thủ
51   TV Will Collar
52   HV Dylan Barnett
53   TM Tom McGill
54   TV Archie Davies
55   TV Daniel Mandroiu
  TV Thomas Byrne
  Harry Cardwell (mượn từ Reading)
  HV Tom Dallison
  HV Jordan Davies
  Jason Davis
  Vahid Hambo
  Aaron Connolly

Cho mượnSửa đổi

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
19   Elvis Manu (cho mượn tại Go Ahead Eagles tới 30 tháng 6 năm 2017)
24   TV Rohan Ince (cho mượn tại Swindon Town tới 30 tháng 6 năm 2017)
30   TV Kazenga LuaLua (cho mượn tại Queens Park Rangers tới 30 tháng 6 năm 2017)
34   Jonah Ayunga (cho mượn tại Sligo Rovers tới 1 tháng 1 năm 2018)[5]
38   TV Joe Ward (cho mượn tại Lincoln City tới 14 tháng 4 năm 2017)
41   TM Bailey Vose (cho mượn tại Concord Rangers tới 30 tháng 6 năm 2017)
Số áo Vị trí Cầu thủ
42   HV Rob Hunt (cho mượn tại Oldham Athletic tới 30 tháng 6 năm 2017)
50   TV Henrik Bjørdal (cho mượn tại IFK Göteborg tới 16 tháng 7 năm 2017)
  TM Billy Collings (cho mượn tại Dartford tới 21 tháng 4 năm 2017)
  Jordan Maguire-Drew (cho mượn tại Dagenham & Redbridge tới 30 tháng 6 năm 2017)
  Chris O'Grady (cho mượn tại Burton Albion tới 30 tháng 6 năm 2017)

Huấn luyện viênSửa đổi

Ban huấn luyện hiện tạiSửa đổi

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Chris Hughton
Trợ lý HLV Paul Trollope
HLV đội 1 Paul Nevin
HLV thủ môn Ben Roberts
HLV thủ môn đội trẻ Casper Ankergren
HLV đội học viện John Morling
HLV đội dự bị Simon Rusk
HLV đội trẻ Ian Buckman
HLV đội trẻ Vic Bragg
Trưởng bộ phận y tế Adam Brett
Bác sĩ CLB Dr. Stephen Lewis
Nhà khoa học thể thao Martin Springham
Trợ lý vật lý trị liệu Paul Watson
Trợ lý vật lý trị liệu Sam Blanchard
HLV thể lực Thomas Barnden

Ban lãnh đạoSửa đổi

Chức vụ Tên
Chủ tịch Tony Bloom
CEO Paul Barber
Giám đốc Ray Bloom
Derek Chapman
Robert Comer
Adam Franks
Marc Sugarman
Peter Godfrey
Giám đốc Paul Barber
Giám đốc tài chính Malcolm Foreman
Chủ tịch danh dự Dick Knight
Thư ký câu lạc bộ Derek Allan

Nguồn: Who's Who

Danh hiệuSửa đổi

Sửa đổi

Phần lớn lịch sử Brighton mặc áo mùa xanh & trắng, thường có sọc, kết hợp với quần và tất trắng và xanh.[7]

Từ năm 2014 áo của câu lạc bộ được cung cấp bởi Nike. Trước đó là các nhà sản xuất Bukta (1971-74. 1975-80), Admiral (1974-75, 1994-97), Umbro (1975-77), Adidas (1980-87), Spall (1987-89), Sports Express (1989-91), Ribero (1991-94), Superleague (1997-99), và Erreà (1999-2014). Nhà tài trợ áo đấu hiện tại của họ là American Express. Trước đó là British Caledonian Airways (1980-83), Phoenix Brewery (1983-86), NOBO (1986-91), TSB Bank (1991-93), Sandtex (1993-98), Donatello (1998-99), Skint Records (1999-2008), IT First (2008-11), và BrightonandHoveJobs.com (2011-13).

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ đồng danh hiệu với Chichester City năm 1960–61
  1. ^ “Brighton & Hove Albion”. Historical Football Kits. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011. 
  2. ^ “Club Rivalries Uncovered Results” (PDF). FootballFanCensus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  3. ^ Burnton, Simon (2011) How Brighton v Crystal Palace grew into an unlikely rivalry, The Guardian, 27 September (Accessed Dec 2012)
  4. ^ “1983 FA Cup Final”. Fa-CupFinals.co.uk. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011. 
  5. ^ “Jonah Ayunga signs! - Sligo Rovers Football Club”. www.sligorovers.com. 
  6. ^ “R.U.R. Cup Final Results – Sussex County Football Association”. Sussexcountyleague.com. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ “Brighton & Hove Albion”. Historical Football Kits. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017. 

Liên kết ngoàiSửa đổi