Mở trình đơn chính

Bài này nói về loài thực vật theo tên khoa học. Về loại quả, xem Táo tây

Malus domestica
Apples on tree 2011 G1.jpg
Những trái táo trên cây
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Rosales
Họ (familia)Rosaceae
Phân họ (subfamilia)Maloideae hay Spiraeoideae[1]
Liên tông (supertribus)Pyrodae[1]
Tông (tribus)Maleae[1]
Phân tông (subtribus)Malinae[1]
Chi (genus)Malus
Loài (species)M. domestica
Danh pháp hai phần
Malus domestica
Borkh., 1803
Danh pháp đồng nghĩa

Malus communis Desf.
Malus pumila auct.[2]

Pyrus malus L.[3]

Malus domestica là một loài cây rụng lá trong họ Hoa hồng được biết đến vì quả ngọt của nó (quả táo tây). Nó được trồng trên toàn thế giới như một cây ăn quả, và là những loài được trồng rộng rãi nhất trong chi Hải đường (Malus). Cây táo có nguồn gốc ở Trung Á, nơi tổ tiên của nó - loài táo dại Tân Cương - vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Đặc điểmSửa đổi

 
Cây táo trổ bông
 
Tiết diện ngang quả táo cho thấy từ ngoài vào là vỏ mỏng (màu đỏ), thịt (trắng xanh), và ruột 5 múi với hột màu nâu.

Cây táo tây cao khoảng 3–12 m, tán rộng và rậm.[4] Đến thu cây rụng lá. Lá táo hình bầu dục, rộng 3–6 cm, dài 5–12 cm; đầu lá thắt nhọn với cuống lá (petiole) khoảng 2–5 cm. Rìa lá dạng răng cưa.

Hoa táo nở vào mùa xuân cùng lúc khi mầm lá nhú. Hoa sắc trắng, có khi pha chút màu hồng rồi phai dần. Hoa có năm cánh, đường kính 2,5-3,5 cm. Trái chín vào mùa thu và thường có đường kính cỡ 5–9 cm. Ruột táo bổ ra có năm "múi" (carpel) chia thành ngôi sao năm cánh. Mỗi múi có 1-3 hột.[4]

Tổ tiênSửa đổi

Bài chi tiết: Táo dại Tân Cương

Cây táo tây (Malus domestica) có nguồn gốc là loài táo dại Tân Cương (Malus sieversii) ở Trung Á, hiện vẫn còn mọc ở vùng núi Trung Á, phía nam của Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, và Tân Cương, Trung Quốc.[4][5]. Việc gieo trồng táo, nhiều khả năng bắt đầu từ hai cánh rừng của dãy núi Thiên Sơn, tiến triển trong một thời gian dài, cho phép dung hợp các gen từ loài khác vào những hạt giống thụ phấn. Nhờ trao đổi gien đáng kể với loài Malus sylvestris, đã tạo ra các quần thể hiện tại của loài táo thường là liên quan nhiều hơn đến crabapples hơn là với nguyên bản táo dại Malus sieversii.[6][7]

Có hơn 7500 giống táo trồng với nhiều đặc tính mong muốn. Các giống táo trồng có năng xuất và kích thước cây khác nhau, kể cả khi mọc từ cùng loại gốc ghép.[8]

Bản đồ gienSửa đổi

Trong năm 2010, một tập đoàn của Ý thông báo họ đã giải mã hoàn chỉnh bộ gien của quả táo khi hợp tác với các nhà sinh học chuyên về gien làm vườn tại Đại học bang Washington,[9] sử dụng giống táo Golden delicious.[10] Có khoảng 57.000 gien, số lượng cao nhất của bất cứ bộ gien thực vật được nghiên cứu cho đến nay[11], thậm chí nhiều hơn số bộ gien của con người (khoảng 30.000).[12] Sự hiểu biết mới này về bộ gien của loài táo sẽ giúp các nhà khoa học trong việc xác định các gien và các biến thể gien chống bệnh tật và hạn hán, và các đặc tính mong muốn khác. Hiểu biết về các gien đằng sau những đặc điểm này sẽ cho phép các nhà khoa học thực hiện nhân giống chọn lọc tốt hơn. Giải mã bộ gien cũng cung cấp bằng chứng rằng Malus sieversii là tổ tiên hoang dã của táo tây - một vấn đề gây tranh cãi từ lâu trong cộng đồng khoa học.[13]

Hình ảnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b Potter D. và ctv. (2007). Phylogeny and classification of Rosaceae. Plant Systematics and Evolution. 266(1–2):5–43, doi:10.1007/s00606-007-0539-9.
  2. ^ Malus pumila auct.”. Germplasm Resources Information Network (GRIN) online database. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ Pyrus malus L.”. Germplasm Resources Information Network (GRIN) online database. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  4. ^ a ă â “Origin, History of cultivation”. University of Georgia. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  5. ^ Lauri, Pierre-éric; Karen Maguylo; Catherine Trottier (2006). “Architecture and size relations: an essay on the apple (Malus x domestica, Rosaceae) tree”. American Journal of Botany (Botanical Society of America, Inc.) 93 (93): 357–368. doi:10.3732/ajb.93.3.357. 
  6. ^ Amandine Cornille và đồng nghiệp (2012). Mauricio, Rodney, biên tập. “New Insight into the History of Domesticated Apple: Secondary Contribution of the European Wild Apple to the Genome of Cultivated Varieties”. PLOS Genetics 8 (5): e1002703. PMC 3349737. PMID 22589740. doi:10.1371/journal.pgen.1002703. 
  7. ^ Sam Kean (ngày 17 tháng 5 năm 2012). “ScienceShot: The Secret History of the Domesticated Apple”. 
  8. ^ “Apple - Malus domestica”. Natural England. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  9. ^ “Apple Cup Rivals Contribute to Apple Genome Sequencing”. Cahnrsnews.wsu.edu. Ngày 29 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 
  10. ^ “The genome of the domesticated apple (Malus × domestica Borkh.)”. Nature.com. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 
  11. ^ An Italian-led international research consortium decodes the apple genome AlphaGallileo ngày 29 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011.
  12. ^ The Science Behind the Human Genome Project Human Genome Project Information, US Department of Energy, ngày 26 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011.
  13. ^ Clark, Brian, Apple Cup Rivals Contribute to Apple Genome Sequencing, ngày 29 tháng 8 năm 2010, Washington State University, retrieved ngày 19 tháng 10 năm 2011.

Liên kết ngoàiSửa đổi