Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa (chữ Hán: 固伦恪靖公主, 4 tháng 7 năm 1679 - 4 tháng 4 năm 1735), Công chúa nhà Thanh, Hoàng nữ thứ sáu của Khang Hy Đế, xếp thứ tự là Tứ Công chúa. Công chúa đầu tiên của nhà Thanh xa giá đến Mông Cổ Khách Nhĩ Khách bộ.

Cố Luân Khác Tĩnh Công Chúa
固伦恪靖公主
Thông tin chung
Phối ngẫuĐôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể (敦多布多尔济)
Hậu duệCăn Trát Bố Đa Nhĩ Tể (根扎布多尔济)
Tước hiệuCố Luân Công chúa
Thân phụThanh Thánh Tổ
Thân mẫuQuý nhân Quách Lạc La thị
Sinh1679
Năm Khang Hi thứ 18
Mất1735
Năm Ung Chính thứ 13

Thân thếSửa đổi

Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa sinh vào giờ Dần ngày 21 tháng 5 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 18 (1679), sinh mẫu là Quý nhân Quách Lạc La thị [1]. Bà có một người em trai ruột là Dận Vũ (胤䄔) nhưng mất sớm. Từ nhỏ bà được nuôi dưỡng bởi người dì, Nghi phi Quách Lạc La thị.

Cuộc sốngSửa đổi

Năm Khang Hi thứ 35 (1696), ngày 17 tháng 3, Nội vụ phủ Lang trung Phật Bảo phụng chỉ thu thập hai phòng thuộc Bát phụng thần viện và Khánh phong ti, lại thu mua thêm một ti khố dưới danh nghĩa Phí Dương Cổ, đồng thời lại mua một sân viện tương đối rộng rãi ở bên ngoài Hoàng thành,[2] khung chiên gõ trống chuẩn bị cho hôn lễ của Công chúa.

Năm Khang Hi thứ 36 (1697), tháng 5, trên đường trở về sau lần thứ 3 thân chinh, Khang Hi Đế đã nhận một tấu chiết từ Hoàng Thái tử Dận Nhưng, liền phê nhân vì Cát Nhĩ Đan chưa diệt mà kéo dài việc Tứ Công chúa hạ giá Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tễ - cháu nội của Khách Nhĩ Khách Thổ Tạ Đồ Hãn; nay Thổ Tạ Đồ Hãn đã thúc dục, muốn thương lượng hôn sự, Thái hậu đã đồng ý.

Cùng năm đó, Tứ Công chúa được phong Hòa Thạc Khác Tĩnh Công chúa (Hòa Thạc Kính An Công chúa [Chú thích 1]). Khang Hi Đế về đến Kinh thành vào tháng 5, nhưng từ tháng 7 đến tháng 9 lại là Tuần du Tái ngoại, vì vậy để đến tháng 11 mới chính thức tổ chức hôn lễ, gả Hòa Thạc Khác Tĩnh Công chúa cho Đa La Quận vương Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể (敦多布多尔济), trưởng tôn của Khách Nhĩ Khách Thổ Tạ Đồ hãn Sát Hồn Đa Nhĩ Tể (察珲多尔济).

Công chúa được ban cho mấy nghìn khoảnh đất tại Quy Hóa thành thuộc Thổ Mặc Đặc. Số liệu chính thức là 48.375 mẫu Anh. Năm Càn Long nguyên niên, khi Lý Phiên Viện thanh tra sổ cư, đã đạt đến mấy trăm vạn mẫu. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, Công chúa lại không lập tức chuyển đến Mạc Bắc Khách Nhĩ Khách Mông Cổ.

Năm Khang Hi thứ 37 (1698), ngày 21 tháng 8, Khác Tĩnh Công chúa đã hạ sinh một cô con gái. Vào lễ tắm 3 ngày của Cách cách, trong cung đã đưa đến rất nhiều lễ vật, trong đó lễ vật để đặt vào bồn tắm là hai thỏi vàng và bốn thỏi bạc [3]. Nếu Công chúa hạ sinh ở Khách Nhĩ Khách, Nội vụ phủ vô luận như thế nào cũng không thể biết tin tức Công chúa hạ sinh trong cùng ngày. Do đó, chỉ có thể là Công chúa hạ sinh ở Bắc Kinh, Nội vụ phủ mới có thể biết được tin vui Công chúa hạ sinh, tức khắc tấu thỉnh chuẩn bị lễ vật mang đến. Đồng thời cũng chứng minh, suốt thời gian mang thai và sinh hạ của Công chúa đều ở Kinh thành.

Năm Khang Hi thứ 39 (1700), Thất Bối lặc Dận Hựu hộ tống Khác Tĩnh Công chúa lần đầu tiên cùng Ngạch phò quay về Khách Nhĩ Khách bộ, Lý Phiên Viện tấu thỉnh cùng đưa tất cả của hồi mua của Công chúa theo. Khang Hi Đế lại nghĩ của hồi môn của Công chúa rất nhiều, rất quý trọng, hơn nữa điệu kiện sinh hoạt trên thảo nguyên có hạn và việc vận chuyển không thuận tiện, nên không đồng ý đem toàn bộ đều đưa đến Khách Nhĩ Khách trong 1 lần.[4] Do đó, Lý Phiên Viện và Nội vụ phủ chiếu theo lệ của những Công chúa khác, chỉ mang theo những vật phẩm mà Khác Tĩnh Công chúa thường sử dụng.

Năm Khang Hi thứ 40 (1701), tháng 2, Nội vụ phủ bắt đầu lương thực cần thiết cho Khác Tĩnh Công chúa, lại phái quan viên Nội vụ phủ và Nội quản lĩnh mang đi nghênh tiếp Công chúa trở về. Ngày 5 tháng 8, Công chúa đến Trương Gia Khẩu, không lâu sau thì về đến Bắc Kinh. Vì tình hình không an toàn ở Mạc Bắc, Khác Tĩnh Công chúa đã sống ở Bắc Kinh kể từ đó. Năm Khang Hi thứ 44 (1705), con gái của Công chúa qua đời.

Năm Khang Hi thứ 46 (1707), năm thứ 3 sau khi Hòa Thạc Khác Tĩnh Công chúa phủ hoàn thành và Công chúa chuyển vào ở, Khang Hi Đế từ bãi săn phía Tây đến thăm Công chúa cùng Ngạch phò. Khác Tĩnh Công chúa cùng Ngạch phò Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể đều ra nghênh đón, hướng Thánh Tổ thỉnh an, đón Thánh Tổ đến phủ Công chúa dừng chân.

Năm Khang Hi thứ 48 (1709), Đa Nhĩ Tể Ngạch Nhĩ Đức Ni A Hải sau khi được sự đồng ý của Khác Tĩnh Công chúa đã lập ra "Khách Nhĩ Khách tam kỳ đại pháp quy", theo đó mà quản lý tín đồ của Bác Khắc Đa Cách Căn Ngạch Chân hãn (博克多格根额真汗).

Theo lời giới thiệu về bộ đại pháp quy này, có một điều pháp quy là "Mông chung căn duẫn chuẩn", ý chỉ đến Thổ Tạ Độ hãn phi, Thánh tổ lục nữ Hòa Thạc Khác Tĩnh Công chúa. Chung căn (jünggin) chính là phiên âm của "Trung cung" trong tiếng Hán [5].

Năm Khang Hi thứ 55 (1716), con gái thứ hai của Dận Chỉ được phong Quận chúa, gả cho con trai của Công chúa là Căn Trát Bố Đa Nhĩ Tể làm chính thê.

Năm Ung Chính nguyên niên (1723), ngày 25 tháng 2, Công chúa được gia phong Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa. Năm Ung Chính thứ 3 (1725), tháng 11, Khác Tĩnh Công chúa một mình đến Kinh thành thỉnh an, trong khi Ngạch phò Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể đến Bắc Kinh hai lần vào tháng 10 và tháng 12.

Năm Ung Chính thứ 5 (1727), ngày 12 tháng 9, Khách Nhĩ Khách Cố Luân Kính An Công chúa phái hộ vệ A Mẫu Hốt Lãng (阿母忽朗) cùng thái giám Tể Nhĩ Cáp Lãng (济尔哈朗) đến thỉnh an, và thỉnh cầu được đến Bắc Kinh chúc thọ. Phụng chỉ dụ: "Tri đạo liễu Công chúa xuất khẩu vị cửu, bất tất lai kinh."

Năm Ung Chính thứ 10 (1732), ngày 22 tháng 5, thứ tử của Công chúa là La Bố Đan Bân Đa Mật (Triết Bố Tôn Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ đời thứ 2 第二世哲布尊丹巴呼圖克圖) lúc này mới hơn 8 tuổi, được hơn 800 tùy tùng hộ tống cùng sinh mẫu là Trắc Phúc tấn Thùy Mục Triêu (垂穆朝), bắt đầu di cư xuống Mạc Nam Mông Cổ Đa Luân Nặc Nhĩ. Ngạch phò Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể cũng đến sống ở Đa Luân Nặc Nhĩ để chăm sóc. Trong những năm trước khi Công chúa qua đời, về cơ bản, bà và Ngạch phò đã sống riêng một khoảng thời gian.

Năm Ung chính thứ 13 (1735), ngày 9 tháng 3, Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa qua đời tại Quy Hóa thành, thọ 57 tuổi. Khi Ung Chính Đế biết tin, đã ngay lập tức thưởng 3 ngàn lượng bạn và cử quan viên đến lo việc tế lễ. Tại thời điểm này, Ngạch phò Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể vẫn đang ở Đa Luân Nặc Nhĩ để chăm sóc Trắc Phúc tấn Thùy Mục Triêu cùng con của hai người là La Bố Đan Bân Đa Mật (罗布桑丹彬多密). Sau khi nhận được tin dữ của Công chúa, ông bắt đầu đi từ ngày 26 tháng 3, lại vì nhiễm bệnh mà mãi đến ngày 28 tháng 4 mới đến được Quy Hóa thành. Sau khi đến Quy Hóa Thành, Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể liền nhận phần ngân lượng Ung Chính Đế thưởng đến để xử lý tang sự của Công chúa. Một mặt, ông xin chỉ thị về nơi an táng của Công chúa, một mặt lại nhanh chóng xử lý tất cả những nhân khẩu, phòng ốc, điền sản của Công chúa tại Quy Hóa thành.

Năm Càn Long nguyên niên (1736), ngày 21 tháng 5, Ngạch phò bắt đầu hộ tống linh cữu của Công chúa về phía Bắc. Chỉ lưu lại duy nhất Binh bộ Thượng thư xử lý sự vụ Quy Hóa thành, còn lại tất cả quan viên đều phải ra khỏi thành đưa tiễn, cho đến khi qua khỏi Nhăng Cổn Lĩnh, đoạn đường còn lại giao cho người dân Khách Nhĩ Khách tiếp tục hộ tống, an táng tại Hãn Sơn thuộc Khố Luân [6].

Bối cảnh hòa thânSửa đổi

Trong suốt chiều dài Thanh triều thống trị, triều đình đều giữ mối quan hệ thân mật cùng Mông Cổ. "Quan hệ thông gia" là chính sách dụ dỗ mà những người cầm quyền ưa thích nhất. Mãn - Mông liên hôn ở triều Thanh cùng những triều đại trước cũng có bất đồng rất lớn, là một loại cưỡng chế có liên quan đến chế độ chính trị. Quan hệ thông gia này, đối với phía Bắc Trung Quốc có hai đại dân tộc dũng mãnh gan dạ, đối với Thanh triều muốn thống trị biên giới với Mông Cổ, đều có tác dụng rất lớn. Trong 12 vị Hoàng Đế của nhà Thanh, ngoại trừ Đồng Trị, Quang Tự, Tuyên Thống không có hậu duệ, còn lại đều có con gái gả đến Mông Cổ, nhân số nhiều nhất là vào thời Hoàng Thái Cực. Số lượng đạt đến 10 vị Công chúa hoàng thất (trong đó 7 vị có phong hào chính thức từ Hòa Thạc Công chúa trở lên), trở thành Công chúa hòa thân trong mối quan hệ Mãn - Mông liên hôn.

Đương thời, Mông Cổ phân thành 3 bộ phận Mạc Nam, Mạc Bắc và Mạc Tây. Mạc Nam Mông Cổ chính là Nội Mông, cũng là khu vực thiết lập quan hệ thân mật với Thanh triều sớm nhất. Mạc Tây chính là Ngạch Lỗ Đặc Mông Cổ, chính là nơi của Cát Nhĩ Đan. Còn lại Mạc Bắc chính là Ngoại Mông ngày nay, cũng là Khách Nhĩ Khách Mông Cổ mà Khác Tĩnh Công chúa gả đến. Khách Nhĩ Khách Mông Cổ ban đầu là một bộ phận tương đối độc lập, do Thổ Tạ Đồ hãn bộ, Trát Tát Khắc Đồ hãn bộ, Xa Thần hãn bộ cùng Tái Âm Nặc Nhan bộ tạo thành, bộ tộc thủ lĩnh xưng "Hãn vương".

Năm Khang Hi thứ 26 (1687), do sự quấy nhiễu của Cát Nhĩ Đan, Thổ Tạ Đồ hãn tiên phong suất toàn Bộ quy phụ nhà Thanh, sau đó, các bộ Khách Nhĩ Khách khác cũng lần lượt theo sau. Làm cho toàn bộ Ngoại Mông được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà Thanh, đồng thời mở màn cho mỗi quan hệ thông gia giữa Thanh triều và Ngoại mông.

Đánh giá về nhân vậtSửa đổi

Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa còn có một xưng hô là "Hải Bạng Công chúa" (海蚌公主). Thực tế "Hải Bạng" là mãn văn, nghĩa là "Tham mưu, nghị sự". Đương thời, Khác Tĩnh Công chúa là một nhân vật quyền khuynh Mạc Bắc, Mạc Nam. Phủ Công chúa đặt tại Quy Hóa gần như trở thành một "vương quốc độc lập". Chẳng những không chịu sự quản hạt của Quy Hóa Tướng quân, Đốc thống nha môn mà Tướng quân, Đốc thống nha môn còn phải quỳ thỉnh an bà. Hơn nữa, Công chúa còn đặt chân vào vũ đài chính trị, tham gia vào những quyết sách.

Năm Khang Hi thứ 48 (1709), Đa Nhĩ Tể Đức Nhĩ Ách Ni A Hải (Thổ Tạ Đồ Hãn đời thứ 4) sau khi được sự đồng ý của Khác Tĩnh Công chúa đã lập ra "Khách Nhĩ Khách tam kỳ đại pháp quy". Tuy rằng Đại pháp quy này cũng cần thông qua sự đồng ý của Khang Hi Đế nhưng cũng đủ cho thấy vai trò và địa vị của Công chúa. "Công chúa phủ chí" chép bà "Cung kiệm nhu thuận, bất đãi Hoàng gia chi kiêu, nhàn vu lễ giáo".

Sau khi Khác Tĩnh Công chúa xuất giá, Khách Nhĩ Khách bộ không còn nổi lên nội chiến, toàn lực chĩa mũi nhọn về Cát Nhĩ Đan. Ba bộ của Khách Nhĩ Khách (thời Ung Chính lại phân ra Tái Âm Nặc Nhan bộ, trở thành 4) đều trở thành phụ thuộc của nhà Thanh, tạo thành một bản đồ thống nhất của nhà Thanh, xúc tiến giao lưu văn hóa, kinh tế giữa nhà Thanh và các bộ tộc Mông Cổ. Công chúa còn dùng khả năng của bản thân, sáng lập một mạng lưới Bắc quốc thương mậu hoàng kim. "Công chúa phủ chí" đối với Khác Tĩnh Công chúa có đánh giá rất cao "Ngoại Mông Cổ nhị bách dư niên, tiềm tâm nội phủ giả, diệc thử Công chúa". Trong số các Hoàng nữ của Khang Hi gả đến Mông Cổ, cuộc hôn nhân này của Khác Tĩnh Công chúa là có ý nghĩa lớn nhất, bà cũng là người đầu tiên xa giá đến Khách Nhĩ Khách Mông Cổ.

Công chúa gả đến Mông Cổ không chỉ lấy hạnh phúc cả đời của mình đổi lấy ràng buộc giữa 2 tộc Mãn - Mông mà còn chân chính trở thành người giám quốc của Hoàng triều tại Mông Cổ.

Phủ Cố Luân Khác Tĩnh Công chúaSửa đổi

 
Chính điện phủ Công chúa
 
Cổng chính của phủ Công chúa

Hòa Thạc Khác Tĩnh Công chúa phủ, còn xưng là Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa phủ, nằm ở khu tự trị Hoa Hồ Hạo Đặc thuộc Nội Mông Cổ, là phủ đệ của Tứ Công chúa - Hoàng lục nữ của Khang Hi Đế. Năm 1990, Công chúa phủ trở thành Bảo tàng của Hô Hòa Hạo Đặc. Hiện nay, Bảo tàng của Hô Hòa Hạo Đặc là Bảo tàng cấp 2 của Trung Quốc, lưu giữ hơn 1200 hiện vật.

Kiến tạoSửa đổi

Khách Nhĩ Khách Quận vương quận thường đặt tại Khố Luân (nay là Ulaanbaatar, Mông Cổ). Vì cuộc chiến với Cát Nhĩ Đan, tình hình ở khu vực Mạc Bắc rất không an toàn. Do đó, Khang Hi Đế đã mệnh Khác Tĩnh Công chúa sống ở giữa khu vực đầu mỗi then chốt giữa Bắc Kinh và Khách Nhĩ Khách bộ (nay là Hohhot, Nội Mông, Trung Quốc). Hiện tại, Phủ Hòa Thạc Khác Tĩnh Công chúa ở Quy Hóa thành là Phủ Công chúa thời Thanh được bảo tồn hoàn hảo nhất ở Trung Quốc, là quần thể Tứ hợp viện thời Thanh hoàn chỉnh nhất ở Tái ngoại, và đây cũng là một đơn vị bảo vệ di tích văn hóa trọng điểm quốc gia.

 
Tẩm điện trong phủ Công chúa

Qua Khang Hi khâm định, ước chừng vào khoảng năm Khang Hi thứ 36 (1697), tại ngạn đông của Trát Đạt hà, cách cửa Bắc của Quy Hóa Thành chừng 2,5 km, bắt đầu kiến tạo phủ Công chúa. Ban đầu xây dựng tổng diện tích chiếm 600 mẫu, bao gồm cả phủ đệ, tiền đình, hoa viên cùng mã tràng, chế tác cực kì tinh xảo.

Mùa xuân năm Khang Hi thứ 44 (1705), phái Thượng tứ viện Chủ sự kiêm Nội quản lĩnh Thọ Thành đến giám sát việc xây dựng, đến tháng 9 cơ bản đã được hoàn thành, chỉ còn một vài điểm nhỏ chưa hoàn chỉnh. Khâm Thiên Giám đã chọn được ngày 3 tháng 11, Khác Tĩnh Công chúa khởi hành là thích hợp. Khang Hi Đế đồng ý để Công chúa chuyển vào phủ vào ngày mà Khâm Thiên Giám đã chọn. Những vật dụng lớn như vật nặng và tủ sẽ được chuyển đến Công chúa phủ vào mùa xuân năm sau.

Gia đìnhSửa đổi

Ngạch phòSửa đổi

Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể (敦多布多尔济; 1678 - 1743), Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị, là Thổ Tạ Đồ hãn đời thứ ba của Khách Nhĩ Khách Mông Cổ. Ông là trưởng tử của Khách Nhĩ Khách Đa La Quận vương Cát Lặc Đan Đa Nhĩ Tể (噶勒丹多尔济).

Năm Khang Hi thứ 31 (1692), tập Trát Tát Khắc Đa La Quận vương (札萨克多罗郡王). 3 năm sau (1695) vào kinh thành triều cống, được thưởng Quan phục, ngân tệ. 1 năm sau (1695), hộ tống Khang Hi Đế đến Quy Hóa thành.

Năm Khang Hi thứ 36 (1697), cưới Hoàng nữ thứ sáu của Khang Hi Đế, thụ phong Hòa Thạc Ngạch phò.

Năm Khang Hi thứ 39 (1700), tấn Hòa Thạc Thân vương, tập Thổ Tạ Đồ hãn (土谢图汗). 2 năm sau bị hàng xuống Quận vương, Thổ Tạ Đồ hãn cũng do chú của ông là Đa Nhĩ Tể Ngạch Nhĩ Đức Ni A Hải (多尔济额尔德尼阿海) thừa kế. Đến năm Ung Chính nguyên niên (1723) mới được phục phong Thân vương, tiến phong Cố Luân Ngạch phò.

Năm Càn Long thứ 7 (1742), 7 năm sau khi Công chúa mất, tục huyền với Huyện quân - con gái thứ tư của Du Khác Quận vương Dận Vu, chất nữ của Công chúa.

Năm Càn Long thứ 8 (1743), tháng 4, Ngạch phò Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể qua đời, thọ 66 tuổi. Chưa đầy 1 năm sau khi kết hôn, huyện quân đã phải thủ tiết. Năm sau (1744), huyện quân cũng qua đời khi mới 20 tuổi.

Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể có tổng cộng 4 người con, chỉ có Trưởng tử và Tam tử là do Công chúa hạ sinh

  1. Căn Trát Bố Đa Nhĩ Tể (根扎布多尔济)
  2. Ngạch Lân Thấm Đa Nhĩ Tể (额璘沁多尔济)
  3. Cách Trai Đa Nhĩ Tể (格斋多尔济)
  4. La Bố Tang Đan Bân Đa Mật (Triết Bố Tôn Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ đời thứ 2).[7]

Hậu duệSửa đổi

Căn Trát Bố Đa Nhĩ Tể (? - 1760), Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị, quý tộc Thổ Tạ Đồ hãn bộ, trưởng tử của Thổ Tạ Đồ hãn Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể cùng Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa.

Năm Khang Hi thứ 55 (1716), con gái thứ hai của Dận Chỉ được phong Quận chúa, gả cho Căn Trát Bố Đa Nhĩ Tể làm chính thê.

Năm Ung Chính nguyên niên (1723), lại lấy cháu 5 đời của Đa Nhĩ CổnHòa Thạc Cách cách là chính thê.

Năm Càn Long thứ 22 (1757), tập Thổ Tạ Đồ hãn bộ Trung kỳ Trát Tát Khắc Cố Sơn Bối tử. Em trai là Cách Trai Đa Nhĩ Tể tập Trát Tát Khắc, thụ Công phẩm cấp.[7][8]

Năm Càn Long thứ 25 (1760), Căn Trát Bố Đa Nhĩ Tể qua đời. Con trai là Xa Bố Đăng Đa Nhĩ Tể (车布登多尔济) tập Cố Sơn Bối tử.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Năm Khang Hi thứ 37 (1698), ngày 25 tháng 1, tấu chiết của Nội vụ phủ bằng Mãn văn chép “ginggun elhe gungju”. Mãn văn “ginggun” có nghĩa là “cung kính, cẩn thận”, “elhe” nghĩa là "an tĩnh, bình an".

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 參見中国第一历史档案馆藏:宗人府《玉牒》第28号。
  2. ^ 參見中国第一历史档案馆藏:《内务府郎中佛保满文奏折》,康熙三十五年三月十七日奏。
  3. ^ 內務府檔案有載禮品清單:第三日洗浴,盆内置各重三钱之金元宝二颗、银元宝四颗,送往结发奶母夫妇一对。第七日开始摇摇篮,送往装饰摇篮一个,各样绸缎小衣服、被褥八桌,各种细米、鸡蛋共六百套,牛二头,羊二十只,鹅二十只,鸡四十只。满月礼有各带两颗小珍珠之耳坠三对、小金镯一对、装饰手帕一条、缎袍褂二袭、靴一对、袜一对、各样绸缎二十匹、里子布二十匹、银二百两。
  4. ^ 参见中国第一历史档案馆藏:《内务府满文奏折》,康熙四十四年十一月二十四日。
  5. ^ 杜家骥著《清朝满蒙联姻研究》,第136页,人民出版社,2003年
  6. ^ 参见中国第一历史档案馆藏:《办理归化城事务兵部尚书通智等满文奏折》,乾隆元年五月十一日奏。
  7. ^ a ă 包桂芹. 《清代蒙古官吏传》. 民族出版社. 1995.
  8. ^ 中共呼和浩特市委党史资料征集办公室,呼和浩特市地方志编修办编. 公主府与公主. 《呼和浩特史料 第四集》. 1984.