Cổng thông tin:Nghệ thuật/Bài viết/Lưu trữ

0. Trường phái trừu tượng

Nghệ thuật Trừu tượng là trào lưu hội họa đầu thế kỷ 20, vào những năm 1910 đến 1914. Nghệ thuật trừu tượng sử dụng ngôn ngữ thị giác từ những hình dạng, khuôn mẫu, màu sắc và đường nét để tạo nên một sáng tác có thể tồn tại độc lập, ở một mức nào đó, với những tham khảo có thực từ thế giới. Nghệ thuật phương Tây, từ thời Phục hưng đến giữa thế kỷ 19, được đặt nền móng bởi logic của phối cảnh và nỗ lực để tái tạo một ảo ảnh về thế giới thực tại. Nghệ thuật của các nền mỹ thuật khác ngoài châu Âu thì lại dễ tiếp cận và cho thấy những cách khác để mô tả trải nghiệm thị giác tới họa sĩ. Vào cuối thế kỷ 19 nhiều họa sĩ cảm thấy cần phải tạo ra một loại hình mỹ thuật mới đặt giữa những thay đổi quan trọng xảy ra trong công nghệ, khoa học và triết học. Mỗi họa sĩ có các nguồn khác nhau để tạo nên lý thuyết của mình và tranh luận, cũng như phản ánh mối quan tâm đến xã hội và tri thức trên tất cả các lĩnh vực của văn hoá phương Tây tại thời điểm đó.

1. Opera

Opera là một loại hình nghệ thuật biểu diễn, cũng là một dạng của kịch mà những hành động diễn xuất của nhân vật hầu hết được truyền đạt toàn bộ qua âm nhạc và giọng hát. Opera bắt đầu xuất hiện và biết đến nhiều vào tầm khoảng những năm 1600. Nhìn chung nó có sự liên kết với âm nhạc cổ điển của phương Tây.

Mặt khác, Opera đồng thời cũng sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhà hát như là: cảnh nền trang trí, y phục, và nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu. Mặc dù thế, nhìn chung ta nhận thấy Opera cũng có điểm phân biệt với các thể loại nhạc kịch khác, đó chính là việc sử dụng sức mạnh của các nhạc điệu và sự hoà nhịp của kĩ thuật âm thanh điêu luyện. Người ca sĩ trình bày tác phẩm cùng với sự đệm nhạc của một dãy dàn nhạc được sắp xếp từ một nhóm các công cụ nhỏ cho đến cả một ban nhạc giao hưởng đầy đủ. Thêm vào đó, Opera cũng có thể được kết hợp với khiêu vũ và nhảy múa. Và cuối cùng, Opera được biểu diễn trong một nhà hát riêng biệt cùng với những trang bị thiết yếu cho việc biểu diễn, mà ta được biết đến dưới tên gọi là "Nhà hát Opera".

2. Nhạc cổ điển

Nhạc cổ điển là dòng nhạc nghệ thuật được sản xuất, hoặc được bắt nguồn từ truyền thống tế lễ ở phương Tây bao gồm cả nhạc tôn giáonhạc thế tục, một khoảng thời gian rộng lớn từ khoảng thế kỷ thứ XI đến thời điểm hiện tại. Các tiêu chuẩn chính của loại nhạc truyền thống này được hệ thống hóa giữa những năm 1550 và 1900, gọi là giai đoạn thực hành chung.

Nhạc Âu Châu được phân biệt rõ ràng với nhiều loại nhạc không có nguồn gốc từ châu Âu và nhạc thị trường bởi những hệ thống ký hiệu âm nhạc của chính nó được sử dụng từ thế kỷ XVI. Ký hiệu âm nhạc ở phương Tây được các nhà soạn nhạc sử dụng để quy định cho người biểu diễn về cao độ, tốc độ, phách, nhịp điệu riêng và cách thể hiện chính xác nhất của một đoạn nhạc. Thể loại nhạc này cho phép mọi người có thể biểu diễn tùy hứng và cải biên tự do, mà chúng ta thường xuyên được nghe trong những dòng nhạc nghệ thuật không bắt nguồn từ châu Âu và nhạc thị trường.

Thuật ngữ "nhạc cổ điển" không xuất hiện cho đến đầu thế kỷ XIX, khi người ta nỗ lực "phong thánh" cho khoảng thời gian vàng son của Johann Sebastian BachBeethoven. Tham khảo mới nhất của thuật ngữ này được ghi lại bởi Từ điển tiếng Anh Oxford là khoảng vào năm 1836.

3. K-pop

K-pop là một thể loại âm nhạc có nguồn gốc từ Hàn Quốc đặc trưng bởi rất nhiều các yếu tố nghe nhìn trực quan. Nhiều nghệ sĩ và nhóm nhạc đã xuất phát từ Hàn Quốc và đã trở nên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Sự phổ biến của K-pop thường được xem là một phần nằm trong sự nổi lên của Làn sóng Hàn Quốc, sự trỗi dậy của tính phổ biến của Văn hóa Hàn Quốc đương đại ở châu Á.

Trong năm 2012, bài hát Gangnam style của ca sĩ PSY chính thức đưa K-pop lên bản đồ thế giới với hơn 1 tỷ lượt xem trên YouTube chỉ trong vòng 5 tháng và hiện tại con số này đã tăng lên đến 3,5 tỉ lượt xem.

Trong năm 2013, bài hát " I Got A Boy " của Girls' Generation đã giành được giải Video của năm ở lễ trao giải Youtube Music Award và SNSD chính là nhóm nhạc đầu tiên của Hàn Quốc nói riêng, châu Á nói chung nhận được giải thưởng này.

4. C-pop

C-pop là một nền âm nhạc hiện đại của hai quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung HoaTrung Hoa Dân Quốc cũng như vùng lãnh thổ Hồng Kông xuất hiện vào thập niên 1920, đôi khi C-pop cũng được nói một cách khó hiểu, bởi vì từ "C-pop" cũng được sử dụng ở cả hai quốc gia này và người Hoa thường gọi C-pop bằng nhiều từ như: "nhạc Tàu", "nhạc Quảng Đông", "nhạc Quan thoại", "nhạc Hoa", "nhạc Hồng Kông",... Ở Việt Nam, C-pop thường được gọi bằng hai cái tên "Nhạc Hoa" và "C-pop".

Hiện tại có ba nhánh chính trong C-pop, đó là: Cantopop, Mandopopnhạc pop tiếng Đài Loan. Khoảng cách giữa CantopopMandopop đang được thu hẹp dần trong thiên niên kỉ mới. Nhạc pop tiếng Đài Loan, mặc dù có nguồn gốc từ dòng nhạc enka của Nhật Bản, nay đã được tái hòa nhập với C-pop đồng thời thu hẹp xu hướng phát triển theo Mandopop.

5. Nhạc đỏ

Nhạc đỏ là một dòng của tân nhạc Việt Nam gồm những bài hát sáng tác trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương, ở miền Bắc Việt Nam và vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và sau năm 1975 khi Việt Nam thống nhất. Các ca khúc nhạc đỏ thường để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ kháng chiến, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, và những bài hát trữ tình cách mạng, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng, tinh thần lạc quan, yêu đời, cống hiến và có tính cộng đồng. Các ca khúc nhạc đỏ thường ít tính hiện thực hóa mà mang tính lý tưởng hóa hay lãng mạn hóa cao, nhưng khác với các ca khúc thời tiền chiến có tính lãng mạn tách rời đời sống, thường không có không gian hoặc thời gian cụ thể, nhạc đỏ đặt tính lãng mạn, lý tưởng hóa gắn với cuộc sống xã hội, có không gian và thời gian cụ thể, và thực tế hóa.

Các bài hát nhạc đỏ phần lớn thuộc dòng thính phòng, được hát bởi các giọng tenorsoprano, dàn hợp xướng, và âm hưởng dân ca, giai điệu phức tạp nhưng lời nhiều bài bình dị đi vào quần chúng số đông. Không kể các bài hành khúc, tổ khúc, hợp xướng thường hát tốp ca hay hợp xướng, phần lớn các bài nhạc đỏ hát bằng giọng trưởng quãng âm cao và rộng, sáng, đôi khi kèm hợp xướng. Nhạc đỏ thường theo điệu March, Valse, Slow Waltz hay Boston, Slow Ballad, Slow Surf, Blues, đến Chachacha, Disco, một số là các trường ca giai điệu phức tạp. Tính cách mạng còn thể hiện trong nhiều tác phẩm khí nhạc hay nhạc viết cho trẻ em.

6. Giao hưởng

Giao hưởng là các tác phẩm lớn trong nền âm nhạc cổ điển phương Tây, thường được viết cho dàn nhạc giao hưởng. Thuật ngữ "giao hưởng" bắt nguồn từ tận thời Hy Lạp cổ đại và từng mang nhiều nét nghĩa khác nhau. Đến cuối thế kỷ 18, "giao hưởng" mới được hiểu như ta biết ngày nay: một tác phẩm thường có nhiều chương riêng biệt, phổ biến là bốn, với chương đầu tiên được viết ở dạng sonata. Một dàn nhạc chơi giao hường thường gồm có bộ dây, bộ đồng, bộ gỗ, và bộ gõ với khoảng 30 nhạc công. Bản giao hưởng thường được ghi ở dạng tổng phổ, tức là bản nhạc với tất cả các phần của tất cả nhạc cụ. Các nhạc công chơi trong dàn nhạc thì chỉ cần bản nhạc cho phần nhạc cụ của riêng họ. Một số ít bản giao hưởng cũng chứa cả phần thanh nhạc bên cạnh phần khí nhạc, ví dụ như bản giao hưởng số 9 của Beethoven.

7. Heavy metal

Heavy metal là một thể loại nhạc rock phát triển vào cuối những năm 1960 và đầu 1970, chủ yếu ở AnhMỹ. Bắt nguồn từ blues-rockpsychedelic rock, các ban nhạc tạo nên cho heavy metal những âm thanh dày, mạnh, đặc trưng bởi âm rè khuếch đại mạnh, những đoạn solo ghita dài, nhịp mạnh, và nói chung là ồn ào. Lời hát và phong cách biểu diễn của heavy metal thường mang đậm chất nam tính và cơ bắp.

Những ban nhạc heavy metal đầu tiên như Led Zeppelin, Black SabbathDeep Purple đã thu hút được nhiều khán giả. Tuy nhiên họ thường bị chửi rủa nặng nề, đây là tình trạng chung của dòng nhạc này trong suốt quá trình lịch sử. Giữa thập niên 70, Judas Priest thúc đẩy quá trình biến chuyển của heavy metal với việc loại bỏ sự ảnh hưởng của blue. Motorhead thì đem đến cảm giác của punk rock và một sự đẩy nhanh tốc độ mạnh mẽ. Những ban nhạc trong Làn sóng heavy metal mới của Anh như Iron Maiden cũng đi theo mạch đó. Đến cuối thập kỷ, heavy metal đã thu hút được một lượng người hâm mộ lớn trên toàn thế giới, họ được biết đến với cái tên "metalhead" hay "headbanger".

8. Titanic (phim 1997)

Titanic là một bộ phim điện ảnh lãng mạn thảm họa sử thi của Mỹ phát hành năm 1997, do James Cameron làm đạo diễn, viết kịch bản, đồng sản xuất, đồng biên tập và hỗ trợ tài chính một phần. Phim lấy ý tưởng dựa trên vụ đắm tàu RMS Titanic nổi tiếng trong lịch sử vào năm 1912, với sự tham gia của các diễn viên chính Leonardo DiCaprioKate Winslet trong vai hai con người đến từ hai tầng lớp khác nhau trong xã hội, họ đem lòng yêu nhau trên chuyến ra khơi đầu tiên của con tàu xấu số.

Cảm hứng của Cameron cho bộ phim đến từ sự say mê của ông với những xác tàu đắm; ông muốn truyền tải một thông điệp tình cảm từ thảm họa và thấy rằng một câu chuyện tình lãng mạn kết thúc bằng sự ra đi của một trong hai người sẽ giúp ông làm được điều này. Quá trình sản xuất phim bắt đầu từ năm 1995, khi Cameron bắt đầu quay cảnh xác chiếc tàu Titanic nằm dưới đáy đại dương. Các phân cảnh hiện tại được quay trên tàu Akademik Mstislav Keldysh, và đây cũng là nơi Cameron sử dụng làm chỗ ở và căn cứ cho đoàn làm phim khi quay cảnh xác tàu. Một con tàu Titanic mới cũng đã được dựng lại ở Playas de Rosarito thuộc Baja California; các mô hình thu nhỏ và công nghệ mô phỏng hình ảnh trên máy tính được sử dụng để tái tạo cảnh tàu chìm. Kinh phí thực hiện bộ phim do Paramount Pictures20th Century Fox cung cấp, và vào thời điểm đó, đây là bộ phim có kinh phí cao nhất trong lịch sử, với tổng mức đầu tư ước tính khoảng 200 triệu đô la Mỹ.

9. Giấc mơ danh vọng

Giấc mơ danh vọng là một bộ phim ca nhạc Mỹ của đạo diễn Bill Condon được công chiếu lần đầu vào năm 2006, do hai hãng DreamWorks Pictures cùng Paramount Pictures hợp tác sản xuất và phát hành. Bộ phim được chiếu ra mắt tại ba roadshow đặc biệt bắt đầu vào ngày 15 tháng 12 năm 2006, phát hành chính thức trên toàn nước Mỹ vào 25 tháng 12 năm 2006. Dreamgirls đã giành tổng cộng 3 giải Quả cầu vàng năm 2007, trong đó có giải Phim xuất sắc nhất thuộc thể loại Hài kịch hay Nhạc kịch, đồng thời cũng chiến thắng ở hai hạng mục tại lễ trao giải Oscar lần thứ 79.

Được chuyển thể từ vở nhạc kịch Broadway cùng tên năm 1981, Dreamgirls lấy bối cảnh hai thập niên 1960-1970 và sử dụng dàn diễn viên chủ yếu là người Mỹ gốc Phi. Nội dung vở kịch dựa trên lịch sử phát triển âm nhạc R&B ở Hoa Kỳ trong suốt kỷ nguyên của âm nhạc doo-wop, soul, âm thanh Motown, funkdisco. Thêm vào đó, nội dung vở nhạc kịch có những chi tiết dựa trên cuộc đời và sự nghiệp của nhóm nhạc nữ danh tiếng của Motown, Diana Ross & The Supremes; và mối liên hệ này tiếp tục được mở rộng thêm trong phiên bản điện ảnh. Dreamgirls là phim kể về cuộc đời của Effie White, Deena Jones và Lorrell Robinson, ba cô gái trẻ đã thành lập một nhóm tam ca ở thành phố Detroit, Michigan mang tên "The Dreamettes". Nhờ sự giúp đỡ của nhà quản lý thu âm Curtis Taylor, Jr., Dreamettes đã dần trở nên nổi tiếng khi là nhóm hát bè cho ca sĩ nhạc soul James "Thunder" Early. Mâu thuẫn xảy ra giữa các thành viên khi Curtis chuyển nhóm hát này thành một ban nhạc theo xu hướng pop, với tên gọi mới "The Dreams", và đặc biệt khi đưa Deena lên thay thế Effie ở cả vai trò ca sĩ hát chính lẫn vị trí người tình của Curtis.

10. Nữ hoàng băng giá (phim 2013)

Nữ hoàng băng giá là phim điện ảnh nhạc kịch kỳ ảo sử dụng công nghệ hoạt hình máy tính của Mỹ do Walt Disney Animation Studios sản xuất và Walt Disney Pictures phát hành vào năm 2013. Đây là bộ phim hoạt hình chiếu rạp thứ 53 trong series Walt Disney Animated Classics. Lấy cảm hứng từ câu chuyện cổ tích Bà chúa Tuyết của nhà văn Hans Christian Andersen, bộ phim kể về một nàng công chúa dũng cảm lên đường dấn thân vào một cuộc hành trình gian khó với một anh chàng miền núi cường tráng, dễ rung động nhưng ban đầu hơi thô lỗ, cùng chú tuần lộc trung thành của mình và một chàng người tuyết vui nhộn tình cờ gặp để đi tìm người chị gái đang phải sống một mình trên núi, một nữ hoàng sở hữu sức mạnh tạo ra băng giá đã vô tình khiến cả vương quốc chìm trong mùa đông vĩnh cửu.

11. Taylor Swift (album)

Taylor Swift là album phòng thu đầu tay mang chính tên của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Taylor Swift, phát hành ngày 24 tháng 10 năm 2006 bởi Big Machine Records. Album được ra mắt khi Swift mới 16 tuổi và cô đã viết lời cho hầu hết các bài hát trong album khi cô đang là sinh viên năm nhất của trường trung học, với sự tham gia hỗ trợ đồng viết lời từ Liz Rose. Swift cũng thử nghiệm với một số nhà sản xuất, và cuối cùng chọn Nathan Chapman, người đã thực hiện những bản thu nháp cho cô. Về âm nhạc, album mang đậm phong cách của thể loại nhạc đồng quê, với ca từ viết về những quan hệ lãng mạn và những đấu tranh cá nhân của Swift ở trường trung học.

12. Fearless (album của Taylor Swift)

Fearless là album phòng thu thứ hai của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Taylor Swift, phát hành ngày 11 tháng 11 năm 2008, bởi Big Machine Records. Tương tự như album đầu tay của cô, Swift đã viết lời hoặc đồng viết lời tất cả 13 bài hát trong Fearless. Hầu hết những bài hát đều được sáng tác khi cô đang quảng bá cho album đầu tay với vai trò nghệ sĩ diễn mở màn cho nhiều nghệ sĩ đồng quê khác. Do không tìm được những cộng tác viên phù hợp trong khoảng thời gian này, Swift đã tự sáng tác 8 bài hát cho album. Ngoài ra, những bài hát khác đều được đồng viết lời bởi Liz Rose, Hillary Lindsey, Colbie Caillat, và John Rich. Swift cũng đánh dấu lần đầu tiên dưới vai trò nhà sản xuất thu âm, đồng sản xuất tất cả các ca khúc trong album với Nathan Chapman.

13. Speak Now

Speak Nowalbum phòng thu thứ ba của ca sĩ nhạc đồng quê người Mỹ Taylor Swift, phát hành ngày 25 tháng 10 năm 2010, bởi hãng đĩa Big Machine Records. Quá trình sản xuất cho album đã được diễn ra trong suốt năm 2009 và 2010 tại một số phòng thu âm, và được thực hiện bởi Swift và Nathan Chapman. Được sáng tác hoàn toàn bởi Swift như là sản phẩm nối tiếp thành công trước đó của Fearless, Speak Now đã có cách tiếp cận pop nhiều hơn các sản phẩm trước đây của cô, với các chủ đề về tình yêu và đau khổ.

14. Red (album của Taylor Swift)

Red thường được viết cách điệu là REDalbum phòng thu thứ tư của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift, do hãng thu âm Big Machine Records phát hành vào ngày 22 tháng 10 năm 2012. Được Swift bắt tay thực hiện từ năm 2010, album là thành quả hợp tác giữa cô và các nhạc sĩ như Dan Wilson, Max Martin, Shellback, Gary Lightbody, Ed SheeranPatrick Warren. Kết cấu và tựa đề của album lấy cảm hứng từ những trải nghiệm tình cảm mà Swift đúc kết được trong thời gian thu âm, với thể loại pop đồng quêpop rock.

Các nhà phê bình âm nhạc đương đại đón nhận Red một cách nồng nhiệt, khi đề cao tính linh hoạt của Swift ở cương vị nhạc sĩ cùng phần sản xuất mang tính thử nghiệm. Album mang về cho cô 2 đề cử "Album nhạc đồng quê xuất sắc nhất" và "Album của năm" tại mùa Giải Grammy lần thứ 56, trong khi giành giải "Album nhạc đồng quê được yêu thích nhất" tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2013. Red gặt hái thành công rực rỡ về mặt thương mại, khi giành ngôi đầu bảng tại Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc, Canada, IrelandNew Zealand, là album bán chạy thứ hai trên toàn cầu trong năm 2012, với doanh số đến nay đã chạm mốc 6 triệu bản.

15. 1989 (album của Taylor Swift)

1989album phòng thu thứ năm của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift, phát hành ngày 27 tháng 10 năm 2014 bởi hãng đĩa Big Machine Records. Sau khi ra mắt Red, Swift phát triển album này và hợp tác cùng nhiều nhà sản xuất âm nhạc, chủ yếu với Max MartinShellback. Album đánh dấu giai đoạn biến chuyển về mặt âm nhạc của cô, được mô tả là "album pop chính thức đầu tiên", lấy cảm hứng từ âm nhạc thập niên 1980 với ca từ về tình cảm lứa đôi và sự khám phá bản thân.

Xuất bản dưới định dạng kỹ thuật số và đĩa nhựa, Swift quyết định rút 1989 và toàn bộ danh mục âm nhạc khỏi nhiều dịch vụ streaming, trong đó có Spotify. Các nhà phê bình âm nhạc đương đại đánh giá 1989 một cách tích cực, khen ngợi phần sản xuất mang tính thử nghiệm và khả năng chuyển đổi phong cách âm nhạc của Swift. Album mang về nhiều giải thưởng, bao gồm giải Grammy cho "Album của năm", giúp Swift trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên hai lần thắng giải tại hạng mục này. 1989 gặt hái thành công rực rỡ về mặt thương mại, là album có mở đầu thành công nhất kể từ năm 2002 và trở thành album thứ ba của Swift bán hơn 1 triệu bản trong tuần đầu ra mắt tại Hoa Kỳ. Đây là album bán chạy thứ hai và thứ ba, lần lượt trong năm 2014 và 2015 trên toàn cầu, với doanh số hiện tại chạm mốc 11 triệu bản, riêng tại Hoa Kỳ bán được hơn 6.1 triệu bản thuần.

16. Reputation (album của Taylor Swift)

Reputation là album phòng thu thứ sáu của Taylor Swift, phát hành ngày 10 tháng 11 năm 2017 bởi Big Machine Records. Nó được phát hành sau hơn ba năm kể từ album phòng thu trước, 1989, trong đó Swift tham gia viết lời cho tất cả những bài hát kiêm đồng sản xuất một số bài hát từ album. Đóng vai trò điều hành sản xuất chính cho reputation, cô tiếp tục hợp tác với những cộng tác viên quen thuộc trong những album trước, bao gồm Jack Antonoff, Max Martin, và Shellback, bên cạnh một số nhà sản xuất mới như Ali Payami, Oscar GörresOscar Holter. Tương tự như 1989, đây là một bản thu âm pop kết hợp với những yếu tố của electropopsynth-pop mang nội dung lời bài hát đề cập đến những chủ đề quen thuộc trong sự nghiệp của nữ ca sĩ như tình yêu, sự lãng mạn và những mối quan hệ xã hội, trong đó có sự tham gia góp giọng của ca sĩ kiêm nhạc sĩ Anh quốc Ed Sheeran và rapper người Mỹ Future.

17. Lover (album)

Lover là album phòng thu thứ bảy của ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Taylor Swift. Nó được phát hành vào ngày 23 tháng 8 năm 2019 bởi Republic Records. Với vai trò giám đốc sản xuất, Swift hợp tác với các nhà sản xuất như Jack Antonoff, Joel Little, Louis Bell, Frank DukesSounwave để tạo nên album. Được miêu tả bởi Swift như một "bức thư tình gửi cho chính tình yêu", Lover tôn vinh những thăng trầm trong tình yêu và chứa đựng một sắc thái tươi sáng, phấn khởi hơn so với giai điệu u ám của album trước, Reputation. Về phần nhạc, nó là một bản thu âm mang thể loại pop, pop rock, electropop và synth-pop với những ảnh hưởng từ nhạc đồng quê, dream pop, pop punk, funkR&B.

Lover chứa đựng các sản phẩm hợp tác với Dixie ChicksBrendon Urie của Panic! at the Disco. Ba đĩa đơn đã được phát hành từ album, bao gồm "Me!", "You Need to Calm Down" và bài hát tựa đề của album, trong đó hai đĩa đơn đầu tiên là hit top 5 toàn cầu. Album nhìn chung nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, khen ngợi khả năng sáng tác của Swift truyền tải được sự trưởng thành về cảm xúc và tính trung thực. Tuy nhiên, có một vài nhà phê bình lại cho rằng nó quá dài và mâu thuẫn ở một số chỗ.

18. Nhạc đồng quê

Nhạc đồng quê là một thể loại nhạc pha trộn truyền thống được tìm thấy phổ biến ở MỹCanada. Nguồn gốc của nhạc đồng quê hiện nay là nhạc dân ca truyền thống của người da trắng, nhạc của người Celt, nhạc blues, nhạc Phúc âm và nhiều nhạc cổ khác. Nó phát triển nhanh từ giai đoạn thập niên 1920. Thể loại nhạc đồng quê trở nên phổ biến từ những năm 1940s khi mà thể loại hillbilly music trước đó đã bị coi thường. Nhạc đồng quê được chấp nhận rộng rãi vào những năm 1970, trong khi các nước phương Tây đã từ chối sử dụng nó từ thời điểm đó, ngoại trừ ở United KingdomIreland, nơi mà nó vẫn thường được sử dụng.

Tuy nhiên, một sự pha trộn khác của các nhóm dân tộc ở tây nam Hoa Kỳ tạo ra thứ âm nhạc mà trở thành một thể loại nhạc đồng quê. Thể loại nhạc đồng quê được dùng hiện nay mô tả nhiều kiểu và nhiều tiểu thể loại.

Nhạc đồng quê đã sản sinh ra hai trong số các ca sĩ hát solo thành công nhất mọi thời đại. Elvis Presley, "The Hillbilly Cat" thường hay hát trong chương trình radio Louisiana Hayride, và ông đã tạo ra dòng nhạc rock and roll từ đây. Với 129.5 triệu album được bán, Presley là nghệ sĩ solo hàng đầu có số lượng album bán chạy nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tiếp theo là nhạc sĩ Garth Brooks, với 128 triệu album bán ra, là nghệ sĩ có số lượng album bán chạy thứ hai. Trong khi doanh số bán album của hầu hết các thể loại âm nhạc đã giảm từ khoảng năm 2005, thì đây là thời điểm tốt nhất của nhạc đồng quê trong năm 2006, trong sáu tháng đầu năm, doanh thu của album nhạc đồng quê tại Mỹ tăng 17,7 phần trăm đến 36 triệu USD. Hơn nữa, lượng người nghe nhạc đồng quê trên toàn quốc vẫn duy trì ổn định cho gần một thập niên, đạt đến 77.3 triệu người lớn mỗi tuần, theo cơ quan phát thanh-xếp hạng Arbitron, Inc.

19. Giải Ảnh Báo chí Thế giới

Giải Ảnh Báo chí Thế giới được coi là giải ảnh báo chí danh giá nhất hiện nay, đây cũng là giải quốc tế duy nhất trên thế giới với sự tham gia của các nhiếp ảnh gia khắp thế giới. Trong nhiều năm qua World Press Photo đã trở thành một địa chỉ chung cho hoạt động nhiếp ảnh báo chí và trao đổi thông tin.

Giải Ảnh Báo chí Thế giới do Hội Tương tế Ảnh Báo chí Thế giới sáng lập, đây là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận vì lợi ích chung, được thành lập vào năm 1955 tại Hà Lan, với mục tiêu chính là hỗ trợ và quảng bá tác phẩm của các phóng viên ảnh chuyên nghiệp. Hàng năm, Giải Ảnh Báo chí Thế giới tổ chức cuộc thi ảnh với quy mô lớn nhất thế giới và được đánh giá là cuộc thi danh giá nhất trong lĩnh vực này. Những tấm ảnh trúng giải sẽ được triển lãm lưu động tại hơn 80 quốc gia và in trong một tuyển tập với sáu ngôn ngữ. Ngoài chương trình phát giải thưởng và triển lãm, Giải Ảnh Báo chí Thế giới còn theo dõi sát sao những diễn biến của hoạt động ảnh báo chí và tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn, hội thảo 7 lần mỗi năm dành cho các nhà nhiếp ảnh, các tổ chức nhiếp ảnh và các biên tập viên ảnh tại các nước đang phát triển và lớp học Joop Swart Masterclass, tổ chức hàng năm tại Hà Lan dành cho các nhà nhiếp ảnh tài năng mới khởi nghiệp.

20. Máy ảnh

Máy ảnh là một dụng cụ dùng để thu ảnh thành một ảnh tĩnh hay thành một loạt các ảnh chuyển động. Tên camera có gốc từ tiếng La tinh camera obscura nghĩa là "phòng tối", từ lý do máy ảnh đầu tiên là một cái phòng tối với vài người làm việc trong đó. Chức năng của máy ảnh giống với mắt người. Máy ảnh có thể làm việc ở phổánh sáng nhìn thấy hoặc ở các vùng khác trong phổ bức xạ điện từ.

Ảnh cố định đầu tiên được chụp năm 1826 bởi Joseph Nicéphore Niépce bằng một máy ảnh hộp gỗ do Charles và Vincent Chevalier làm ra ở Paris. Niépce dựa trên phát hiện của Johann Heinrich Schultz: hỗn hợp bạc và phấn bị đen lại khi gặp ánh sáng. Tuy nhiên, đó là thời điểm bắt đầu của nhiếp ảnh, còn máy ảnh thì còn sớm hơn nữa. Trước khi phát minh ra phim ảnh thì không có cách nào để giữ lại ảnh từ các máy ảnh ngoài cách đồ lại bằng tay.

21. Nhiếp ảnh tự nhiên

Nhiếp ảnh tự nhiên là phong cách nhiếp ảnh chụp ngoài trời và chuyên dùng để thể hiện các yếu tố tự nhiên như phong cảnh, động vật hoang dã, thực vật và cận cảnh các cảnh quan và kết cấu thiên nhiên. Nhiếp ảnh thiên nhiên có xu hướng nhấn mạnh hơn vào giá trị thẩm mỹ của bức ảnh so với các thể loại nhiếp ảnh khác, chẳng hạn như nhiếp ảnh báo chínhiếp ảnh tài liệu.

"Nhiếp ảnh thiên nhiên" trùng lặp với các thể loại nhiếp ảnh khác—và đôi khi được coi là một thể loại bao quát bao gồm - "Nhiếp ảnh động vật hoang dã" "nhiếp ảnh phong cảnh", và "Nhiếp ảnh vườn."

Những bức ảnh thiên nhiên được xuất bản trong các tạp chí khoa học, du lịch và văn hóa như tạp chí địa lý quốc gia, tạp chí động vật hoang dã quốc giatạp chí Audubon hoặc các tạp chí chuyên sâu khác như Outdoor PhotographerNature's Best Photography. Các nhiếp ảnh gia thiên nhiên nổi tiếng bao gồm Frans Lanting, Galen Rowell, Eliot PorterArt Wolfe.

22. Giải thưởng La Mã

Giải thưởng La Mã là một giải học bổng cho những sinh viên ngành nghệ thuật. Giải này được tạo ra năm 1663 ở Pháp dưới thời vua Louis XIV. Đây là một giải thưởng hàng năm cho những nghệ sĩ hứa hẹn tài năng những người chứng tỏ tài năng của mình thông qua một cuộc thi sát hạch. Giải này được Học viện Hội họa và Điêu khắc tổ chức được mở ra cho sinh viên của họ. Người thắng cuộc được ở Cung điện Mancini bằng chi phí của vua Pháp tài trợ. Thời gian ở cung điện này có thể gia hạn nếu giám đốc của học viện thấy hữu ích. Cuộc thi được tổ chức cho 3 thể loại: hội họa, điêu khắc, kiến trúc. Năm 1803, bổ sung thêm âm nhạc, năm 1804, bổ sung thêm chạm khắc.

Người đoạt giải "Khôi nguyên La Mã" sẽ được gửi đến Viện Hàn lâm Pháp ở Roma được thành lập năm 1666 bởi Jean-Baptiste Colbert. Ngoài giải này còn có giải nhì cho phép người tham gia cũng được đến Viện hàn lâm này nhưng với thời gian ngắn hơn.

23. Phục Hưng

Phục Hưng là một phong trào văn hóa thường được xem là bao gồm giai đoạn từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, khởi đầu tại Firenze vào Hậu kỳ Trung cổ, sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu trên những quy mô và mức độ khác nhau. Người ta cũng dùng từ Phục Hưng để chỉ, một cách không nhất quán, thời kỳ lịch sử diễn ra phong trào văn hóa nói trên.

Như một phong trào văn hóa, Phục Hưng bao hàm sự nở rộ các nền văn học tiếng Latinh cũng như các tiếng dân tộc, bắt đầu từ sự phục hồi việc nghiên cứu các tư liệu cổ điển, sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các kỹ thuật nhằm biểu diễn hiện thực tự nhiên hơn trong mỹ thuật, và một cuộc cải cách giáo dục tiệm tiến nhưng phổ cập. Các học giả và nghệ sĩ thời Phục hưng cũng được gọi là những người theo chủ nghĩa nhân văn.

Mặc dù Phục Hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực, cũng như những thay đổi chính trị-xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều nhất bởi những thành tựu lớn lao về mỹ thuật và những cống hiến của những vĩ nhân đa tài như Leonardo da Vinci hay Michelangelo đã làm xuất hiện thuật ngữ Vĩ nhân Phục Hưng.

24. Chủ nghĩa lãng mạn

Chủ nghĩa lãng mạn vừa là trào lưu văn học, vừa là phương pháp sáng tác, mang một nội dung lịch sử xã hội cụ thể, được hình thành ở Tây Âu sau Cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Chủ nghĩa lãng mạn chia làm hai khuynh hướng: lãng mạn tích cực và lãng mạn tiêu cực, nhưng giữa chúng vẫn có mối liên hệ qua lại khá phức tạp. Chủ nghĩa lãng mạn là sự phản ứng chống lại xã hội đương thời, con người muốn thoát li thực tế tìm đến một thế giới khác giúp con người quên đi cuộc sống mà họ cảm thấy chán ghét, vẽ ra một cuộc sống làm thỏa mãn "cái tôi" bị tổn thương của con người, nên thế giới trong chủ nghĩa lãng mạn là thế giới mộng tưởng. Chủ nghĩa lãng mạn còn được gọi là chủ nghĩa tình cảm, vì ở đây tình cảm của con người được biểu hiện rõ rệt nhất. Vì vậy, chủ nghĩa lãng mạn chính là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa cổ điển vốn đề cao và tôn sùng lý trí với những quy tắc tam duy nghiêm ngặt đã siết chặt tính sáng tạo và tình cảm của con người. Trong chủ nghĩa lãng mạn tình yêu của con người được khai thác ở mọi phương diện, thiên nhiên được phản ánh một cách sinh động nhất, trở thành nơi phản ánh nội tâm và nuôi dưỡng tình cảm. Vì đề cao mộng tưởng và tình cảm nên con người muốn hướng đến một cuộc sống tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc. Ở chủ nghĩa lãng mạn người nghệ sĩ được trả lại tất cả mọi quyền tự do để họ thỏa sức sáng tạo và tưởng tượng. Nên đa số các tác phẩm của họ hướng đến cái khoáng đạt phi thường, vì chủ nghĩa lãng mạn không chấp nhận những quy định nghiêm ngặt, nên nó đã tự cho phép mình đạt đến sự tự do tuyệt đối.

25. Kiến trúc Hiện đại

Trào lưu kiến trúc Hiện đại là một khái niệm rất rộng được sử dụng để miêu tả các công trình khác nhau có các đặc điểm tương đồng về sự đơn giản trong bố cục hình khối không gian, tổ chức mặt bằng tự do phi đối xứng, mặt đứng loại bỏ việc sử dụng các họa tiết trang trí của trường phái cổ điển cũng như việc sử dụng vật liệu mới như kính, thép, bê tông. Kiến trúc hiện đại là một sự đoạn tuyệt mạnh mẽ với kiến trúc cổ điển, thể hiện một lối tư duy mới của sự phát triển bùng nổ của các xã hội châu Âu cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Trường phái kiến trúc này, xuất phát ở châu Âu từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 và đã nhanh chóng phổ biến, trở thành một trường phái chủ đạo ra trên toàn thế giới đến thập niên 1970.

Hiện nay mặc dù một định nghĩa chuẩn xác về khái niệm kiến trúc hiện đại vẫn còn đang được tranh luận, nhưng người ta thống nhất rằng trào lưu kiến trúc Hiện đại của thế kỉ 20 đã được thay thế bằng trào lưu kiến trúc Hậu Hiện đại.