Cổng thông tin:Phật giáo

Phật giáo

một tôn giáo đồng thời cũng là một hệ thống triết học khởi nguồn từ Thích-ca Mâu-ni

Phật

Ascetic Sumedha and Dipankara Buddha.jpg
Sa-môn Sumedha đảnh lễ Cổ Phật Nhiên Đăng

Nhiên Đăng Cổ Phật là vị Phật thứ tư trong danh sách 28 vị Phật. Trong Đại trí độ luận, Nhiên Đăng Cổ Phật khi đản sinh, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Đăng Thái tử. Khi thành Phật cũng gọi là Nhiên Đăng, xưa gọi tên là Đính Quang Phật. Ở các chùa Việt NamTrung Quốc, Nhiên Đăng Cổ Phật thường được thờ chung với Phật Thích-ca Mâu-niPhật Di-lặc trong bộ tượng Tam thế Phật, nghĩa là các vị Phật thời quá khứ, hiện tại và vị lai.

Kinh Phật ghi rằng dưới thời Nhiên Ðăng Cổ Phật thì lúc đó Thích-ca là một vị Bà-la-môn vô cùng giàu có đã phân phát hết tài sản của mình và quy ẩn, có tên là Sumedha. Với túc mạng thông, Nhiên Ðăng Cổ Phật nhận ra Sumedha sau vô số kiếp luân hồi sẽ trở thành Phật dưới tên Gautama và thọ ký cho Gautama. Phật Nhiên Ðăng được xem là vị Phật quan trọng nhất trong các vị trước Thích-ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá khứ tương tự như trường hợp Di-lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai.

Pháp

Japanese temple vegetarian dinner.jpg
Một khẩu phần chay tại chùa Nhật Bản

Ăn chay là việc thực hành kiêng ăn thịt và cũng có thể bao gồm kiêng các sản phẩm phụ của quá trình giết mổ động vật. Trong giới luật của Phật giáo, giới đầu là giới tránh sát sinh, hơn thế nữa phật tử còn thực hành tránh gây khổ đau cho chúng sinh, cho nên trên căn bản Phật giáo khuyến khích việc ăn chay nhưng cũng không cấm đoán ăn mặn.

Phật giáo Nam Tông thường không ăn chay. Tuy nhiên, những người xuất gia nếu nghe tiếng con vật bị giết, thấy con vật bị giết hoặc nghi con vật đó bị giết để thết đãi mình thì không được ăn, nếu ăn thì sẽ phạm vào giới luật. Mỗi tông phái của Phật giáo Đại thừa lại lựa chọn những kinh điển khác nhau để làm theo, cho nên một số tông phái, bao gồm cả phần lớn các tông phái của Phật giáo Tây TạngPhật giáo Nhật Bản đều ăn thịt, trong khi nhiều tông phái khác của Phật giáo Trung Quốc, Việt NamHàn Quốc thực hành ăn chay.

Tăng

Wangdue Padmasambhava.jpg
Tranh vẽ Padmasambhava

Padmasambhava là một đại sư Ấn Độ, sống cùng thời vua Tây Tạng Trisong Detsen. Sư truyền Phật giáo sang Tây Tạng và sáng lập tông Ninh-mã, một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là "Phật thứ hai". Sư hay sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái và thiên tai. Cách tu hành của sư rất đa dạng, từ cách sử dụng đao chủy thủ đến tu tập các phép thiền định theo hệ thống Đại cứu cánh. Sư thuộc dòng của các vị Đại thành tựu, để lại rất nhiều truyện thần thoại cho đời sau và ở các nước vùng Himalaya, người ta tôn thờ gọi sư là "Đạo sư quý báu".

Tương truyền rằng, Padmasambhava sinh ra trong một hoa sen, tại Tây Bắc Kashmir, sớm thông tất cả kinh sách, nhất là Mật giáo. Trong thế kỉ thứ 8, sư đến Tây Tạng, một vương quốc còn bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo thiên nhiên. Sư đến đây chinh phục ma quỷ, thiên tai và ảnh hưởng của giáo phái Bön. Sư cũng cho xây tu viện Tang-duyên năm 775 và thời gian hoạt động tại Tây Tạng xem như chấm dứt tại đó. Có nhiều tài liệu cho rằng sư hoằng hóa ở Tây Tạng lâu hơn, truyền giáo cho 25 đệ tử, trong đó có nhà vua Tây Tạng và giáo thuyết quan trọng nhất là "Tám tuyên giáo". Ngoài ra, sư còn để lại nhiều bài dạy được dấu trong rừng núi, chỉ được khám phá ra vào một thời điểm nhất định. Một trong những bài dạy đó là bộ Tử thư. Đệ tử quan trọng và là người viết lại tiểu sử của sư là bà Yeshe Tsog-yel.

Hình ảnh

Central Asian Buddhist Monks.jpeg
Nhà sư Trung Á làm ấn giáo hóa truyền đạo cho nhà sư Đông Á

Kinh điển

Sui Mahayana Mahaparinirvana Sutra.JPG
Bản kinh Đại thừa Đại-bát Niết-bàn vào thời nhà Tùy

Đại thừa Đại-bát Niết-bàn Kinh là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất thuộc hệ Như Lai Tạng. Tương truyền, kinh này được Phật Thích-ca Mâu-ni thuyết giảng ngay trước khi ngài nhập Vô dư Niết-bàn. Hiện nay, người ta chưa xác định được chính xác thời gian ra đời của kinh Niết-bàn nhưng có thể có trước tác vào khoảng thế kỷ 2 sau Công nguyên. Nguyên bản tiếng Phạn đã bị thất truyền ngoại trừ một vài trích đoạn nhỏ, thế nhưng dịch bản Hán - Tạng vẫn còn được lưu truyền tới ngày nay. Kinh có hai bản dịch tiếng Trung là dịch bản của ngài Dharmakṣema và bản còn lại của pháp sư Pháp Hiển. Hai bản này có chút sai khác về nội dung, cụ thể là bản của ngài Dharmakṣema khẳng định rằng mọi chúng sinh đều có Phật tính trong khi bản của ngài Pháp Hiển nói rằng tồn tại một vài loài hữu tình không có khả năng giác ngộ thành bậc Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Tuy nhiên, truyền bản của ngài Dharmakṣema vẫn được lưu truyền phổ biến hơn ở các nước Đông Á và có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo pháp ở các nước này.

Tông phái

Shishoin temple shibamata Five Tathagatas 2020.jpg
Tượng Ngũ trí Như Lai tại Tokyo

Đại thừa là một trong hai trường phái lớn của đạo Phật, phổ biến tại các nước Đông ÁViệt Nam. Phật giáo Đại thừa đề cao con đường của bồ tát phấn đấu để đạt được giác ngộ hoàn toàn vì lợi ích của tất cả chúng sinh, và do đó còn được gọi là "Bồ-tát thừa". Nhìn chung, Phật giáo Đại thừa xem mục tiêu trở thành Phật thông qua con đường bồ tát là có sẵn cho tất cả mọi người và xem trạng thái của quả vị A-la-hán là chưa hoàn thiện. Các hình tượng giác ngộ trong Phật giáo Đại thừa rất đa dạng và phong phú, nhiều vị Phật và Bồ tát không hiện diện trong kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy. Triết học Đại thừa cũng thúc đẩy phát triển các tông phái với những học thuyết độc đáo, chẳng hạn như Trung quán tông với thuyết tính Không, Duy thức tông và thuyết Phật tính.

Trích dẫn

« 一切有爲法, 如夢幻泡影, 如露亦如電, 應作如是觀 »
Thích-ca Mâu-ni, Kim cương kinh

Bài viết

Chua Bai Dinh X8.JPG
Chùa Bái Đính

Chùa Bái Đính là một quần thể chùa Phật giáo nằm trên núi Bái Đính, Việt Nam. Nơi đây là một khu phức hợp bao gồm một ngôi chùa cổ ban đầu và một ngôi chùa lớn hơn mới được xây dựng. Đây được coi là quần thể chùa Phật giáo lớn nhất Việt Nam và đã trở thành địa điểm nổi tiếng cho các cuộc hành hương của tín đồ Phật giáo và du khách từ khắp Việt Nam.

Thư mục

Tông phái

Thuật ngữ

Nhân vật

Kinh điển

Thánh địa

Nội dung khác : Lịch sử Phật giáo, Âm nhạc Phật giáo (+), Nghệ thuật Phật giáo