Capcom Co., Ltd. (Nhật: 株式会社カプコン Hepburn: Kabushiki-gaisha Kapukon?)là một công ty phát triển và phát hành trò chơi điện tử Nhật Bản[4] được biết đến với việc tạo ra rất nhiều nhượng quyền triệu USD, bao gồm Street Fighter, Mega Man, Darkstalkers, Resident Evil, Devil May Cry, Onimusha, Dino Crisis, Dead Rising, Sengoku Basara, Ghosts 'n Goblins, Monster Hunter, Breath of Fire, và Ace Attorney cũng như các trò chơi dựa trên hoạt hình của Disney. Thành lập năm 1979,[5] và đã trở thành một doanh nghiệp quốc tế với các công ty con ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Nam Á.[6]

Capcom Co., Ltd.
Tên bản ngữ
株式会社カプコン
Tên phiên âm
Kabushiki-gaisha Kapukon
Loại hình
Đại chúng KK
Mã niêm yếtTYO: 9697
Ngành nghề Trò chơi điện tử
Thành lập30 tháng 5 năm 1979; 41 năm trước (1979-05-30)[1]
Trụ sở chínhChūō-ku, Osaka, Japan
Nhân viên chủ chốt
Tsujimoto Kenzo
(Chủ tịch hội đồng quản trị và CEO)
Haruhiro Tsujimoto
(Chủ tịch và COO)
Sản phẩm Toàn bộ danh sách trò chơi
Doanh thuTăng 94,5 tỷ yên Nhật (2019)[2]
Tăng 18,1 tỷ yên Nhật (2019)[2]
Tăng 12,6 tỷ yên Nhật (2019)[2]
Chủ sở hữuGia đình Tsujimoto (khoảng 22.71%)
Số nhân viên
2,832 (2019)[3]
Chi nhánhDevelopment Division 1
Development Division 2
Development Division 3
Công ty conBlue Harvest
Capcom Asia
Capcom U.S.A
Capcom Entertainment Europe
Capcom Mobile USA
Capcom Europe
Capcom Asia
Capcom Entertainment Korea
Captron Co
Enterrise Co., Ltd.
K2 Inc.
Websitewww.capcom.com


Lịch sửSửa đổi

Tiền nhiệm của Capcom, tập đoàn I.R.M, được thành lập vào ngày 30 tháng 5 năm 1979 [7] bởi Tsujimoto Kenzo. Tsujimoto vẫn là chủ tịch của Irem Corporation khi ông sáng lập ra IR.M. Tsujimoto làm việc đồng thời ở cả hai công ty cho đến khi rời khỏi công ty vào năm 1983.

Các công ty đầu tiên sinh ra chi nhánh Nhật Bản của Capcom là I.R.M. cũng như công ty con Japan Capsule Computers Co., Ltd., cả hai đều được dành cho việc sản xuất và phân phối máy trò chơi điện tử[5]. Hai công ty đã được đổi tên thành Sambi Co., Ltd. vào tháng 9 năm 1981, trong khi Capcom Co., Ltd. lần đầu tiên được thành lập vào ngày 11 tháng 6 năm 1983 bởi Tsujimoto Kenzo , với mục đích tiếp quản bộ phận kinh doanh nội bộ.[8]

Vào tháng 1 năm 1989, công ty liên kết cũ Capcom Co., Ltd. sáp nhập với Sambi Co., Ltd, và kết quả là ra chi nhánh của Nhật Bản hiện tại. Cái tên Capcom là từ bị cắt bớt của "Capsule Computers", một thuật ngữ được công ty đưa ra để mô tả các máy chơi arcade sản xuất trong những năm đó, được thiết kế để tách biệt khỏi các máy tính cá nhân đang trở nên phổ biến tại thời điểm đó. [9] Từ capsule ám chỉ cách Capcom so sánh phần mềm trò chơi của mình với "một viên nang gói trọn niềm vui khi chơi trò chơi", cũng như mong muốn bảo vệ tài sản trí tuệ của mình với vỏ ngoài cứng, ngăn chặn các bản sao bất hợp pháp và bắt chước kém.[9]

Trong khi sản phẩm đầu tiên của Capcom là Little League hoạt động bằng xèng từ tháng 7 năm 1983, trò chơi điện tử thực sự đầu tiên, tựa Trò chơi arcade Vulgus, được phát hành vào tháng 5 năm 1984. Bắt đầu với việc đưa bản chuyển thể của trò chơi 1942 lên Nintendo Entertainment System vào tháng 12 năm 1985, công ty tham gia vào thị trường trò chơi điện tử gia đình [5], và trở thành phân khúc kinh doanh chính vài năm sau đó[10]. Bộ phận Capcom USA đã có một thời gian ngắn vào cuối những năm 1980 lấy tư cách là hãng phát hành trò chơi điện tử cho máy tính Commodore 64IBM PC DOS mặc dù việc phát triển các phiên bản chuyển thể này do các công ty khác đảm nhiệm. Capcom đã tạo ra 15 loạt trò chơi bán chạy lên đến triệu bản, thành công nhất trong số đó là Resident Evil.[11]

Capcom đã được ghi nhận là nhà phát hành lớn cuối cùng cam kết chỉ phát hành trò chơi với định dạng 2D, mặc dù điều này không phải là hoàn toàn do họ lựa chọn. Cam kết của công ty đối với Super Nintendo Entertainment System khiến họ bị tụt hậu so với các nhà phát hành khác trong việc phát triển các trò chơi 3D[12]. Ngoài ra, đồ họa 2D theo phong cách phim hoạt hình được thấy trong các trò chơi như Darkstalkers: The Night WarriorsX-Men: Children of the Atom đã trở nên nổi tiếng, dẫn đến việc Capcom chấp nhận như đây là một phong cách độc quyền và áp dụng với nhiều trò chơi hơn.[12]

Năm 1994, Capcom đã biến loạt trò chơi song đấu "Street Fighter" thành một bộ phim cùng tên. Trong khi thu được thành công về mặt thương mại, công ty lại bị phê phán gay gắt. Bộ phim người đóng năm 2002 của Resident Evil phải đối mặt với những lời chỉ trích tương tự nhưng vẫn thành công khi ra rạp. Công ty xem những bộ phim là một cách để tăng doanh thu cho các trò chơi.[13]

Capcom hợp tác với Nyu Media vào năm 2011 để phát hành và phân phối các trò chơi điện tử độc lập (dōjin soft) mà Nyu đã bản địa hóa sang tiếng Anh[14]. Công ty làm việc với công ty địa phương của Ba Lan để đưa các trò chơi của Capcom lên các hệ máy khác[15], các ví dụ đáng chú ý là phiên bản PC của [DmC: Devil May Cry]] và các bản làm lại trên PlayStation 4Xbox One của nó, phiên bản PC của Dragon's Dogma được phát hành vào tháng 1 năm 2016 và phiên bản Dead Rising trên PlayStation 4, Xbox One và PC được phát hành vào ngày 13 tháng 9 năm 2016.

Vào ngày 27 tháng 8 năm 2014, Capcom đã đệ đơn kiện Koei Tecmo Games đã vi phạm bằng sáng chế tại Tòa án quận Osaka với mức bồi thường 980 triệu yên. Capcom tuyên bố Koei Tecmo Games vi phạm một bằng sáng chế hồi năm 2002 liên quan đến một tính năng trong các trò chơi .[16]

Cấu trúc tập đoànSửa đổi

Các xưởng phát triểnSửa đổi

Trong vài năm đầu sau khi thành lập, chi nhánh Capcom của Nhật Bản có ba nhóm phát triển được gọi là "Planning Rooms", dẫn đầu là Fujiwara Tokuro, Nishiyama Takashi Okamoto Yoshiki, tương ứng[17][18]. Sau đó, các trò chơi được phát triển nội bộ để tạo ra bởi một số "Production Studios", mỗi xưởng được giao các trò chơi khác nhau [19][20] Bắt đầu từ năm 2002, quá trình phát triển đã được cải thiện để có thể chia sẻ công nghệ và chuyên môn tốt hơn, và tất cả các xưởng từng bước được tái cơ cấu thành các phòng ban lớn hơn chịu trách nhiệm về các nhiệm vụ khác nhau[20]. Trong khi vẫn có các bộ phận khép kín để tạo ra các trò chơi arcade, pachinko và pachislo, trực tuyến và di động, Consumer Games R&D Division thay vì là một sự pha trộn của các bộ phận phụ trách các giai đoạn phát triển trò chơi khác nhau[20][21][22]

Capcom có ba bộ phận nội bộ để phát triển trò chơi. Đó là Consumer Games Development Division 1 do Takeuchi Jun đứng đầu với Resident Evil, Devil May Cry, Dead Rising, và các nhượng quyền thương mại khác (thường nhắm mục tiêu đến bộ phận khách hàng Bắc Mỹ và Châu Âu), Consumer Games Development Division 2 do Tsujimoto Ryozo đứng đầu (cũng đứng đầu Mobile Online Development Division) với Monster Hunter, Ace Attorney, Sengoku Basara và các nhượng quyền thương mại khác có IP truyền thống hơn (thường nhắm mục tiêu đến khách hàng Nhật Bản) và Consumer Games Development Division 3 với Street Fighter, Marvel vs. Capcom, và các nhượng quyền thương mại trực tuyến khác (thường nhắm mục tiêu đến khách hàng chung trên toàn thế giới).[23][24][25]

Ngoài các xưởng nội bộ, Capcom cũng trả tiền hoa hồng cho các xưởng thuê ngoài để đảm bảo đầu ra ổn định cho các tựa trò chơi[26][27]. Tuy nhiên, sau khi Dark VoidBionic Commando thất bại, ban điều hành công ty đã quyết định hạn chế việc thuê ngoài cho các phần tiếp theo và các phiên bản mới hơn của các thương hiệu hiện có[28]. Việc sản xuất trò chơi, ngân sách và hệ máy hỗ trợ được quyết định trong các cuộc họp phê duyệt quá trình phát triển, có sự tham dự của ban điều hành và bộ phận tiếp thị, bán hàng và kiểm soát chất lượng.[20]

Chi nhánh và công ty conSửa đổi

Ngoài trụ sở chính và tòa nhà R & D của Capcom Co., Ltd., đều nằm ở Chūō-ku, Osaka,[6], công ty mẹ ở Nhật Bản cũng có văn phòng chi nhánh tại Shinjuku Mitsui BuildingNishi-Shinjuku, Shinjuku, Tokyo[29]. Công ty cũng có Ueno Facility, một chi nhánh ở Iga, Mie Prefecture.[6]

Tập đoàn Capcom quốc tế bao gồm 15 công ty con tại Nhật Bản, Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Á[6][20]. Các công ty liên kết bao gồm Koko Capcom Co., Ltd. tại Hàn Quốc, Street Fighter Film, LLC tại Mỹ và Dellgamadas Co., Ltd.

Phương tiện truyền thông liên quan đến trò chơiSửa đổi

Ngoài việc phát triển và phát hành các trò chơi gia đình, trực tuyến, di động, trò chơi arcade, pachinkopachislo, công ty còn phát hành hướng dẫn chơi trò chơi[5], duy trì các trung tâm giải trí arcade riêng ở Nhật Bản được gọi là Plaza Capcom, được cấp phép nhượng quyền thương mại và đặc tính nhân vật để áp dụng các trên sản phẩm, phim điệnvv ảnh, phim truyền hình và các buổi biểu diễn trên sân khấu.[10]

Suleputer, nhãn hiệu tiếp thị và âm nhạc tại gia được thành lập với sự hợp tác của Sony Music Entertainment Intermedia năm 1998, phát hành đĩa CD, DVD và các phương tiện truyền thông khác dựa trên các trò chơi của Capcom[30]. Hội nghị thượng đỉnh truyền thông tư nhân hàng năm có tên là Captivate, được đổi tên từ Gamers Day hồi năm 2008, theo truyền thống được sử dụng làm nền tảng thông báo trò chơi và chiến lược kinh doanh mới.[31]

Trò chơiSửa đổi

Capcom bắt đầu nhượng quyền thương mại Street Fighter vào năm 1987. Loạt trò chơi song đấu này là một trong những trò chơi phổ biến nhất trong thể loại. Đã bán được hơn 30 triệu bản, loạt này đóng vai trò là thương hiệu hàng đầu của Capcom. Cùng năm đó, công ty đã giới thiệu dòng sản phẩm Mega Man, cũng bán được gần 30 triệu bản.

Công ty đã phát hành sản phẩm đầu tiên trong loạt kinh dị sống còn Resident Evil vào năm 1996. Loạt đã đạt khá nhiều thành công về tài chính, bán được hơn 90 triệu bản. Tiếp theo phần thứ hai trong loạt Resident Evil, Capcom bắt đầu làm "Resident Evil" cho PlayStation 2. Hoàn toàn khác với loạt hiện tại, Capcom đã quyết định biến ngoại truyện của trò chơi thành loạt riêng, Devil May Cry. Trong khi phát hành hai phần dành riêng cho PlayStation 2, công ty đã đưa các phần sau đó lên các máy chơi trò chơi không phải của Sony. Toàn bộ loạt này đã đạt doanh số vượt quá 10 triệu. Capcom bắt đầu loạt Monster Hunter vào năm 2004. Loạt đã đạt doanh số hơn 45 triệu bản trên nhiều hệ máy. Sau khi làm lại các trò chơi Resident Evil 2 & 3, Capcom hiện đang làm lại Resident Evil 4. [32]Resident Evil 4 có đội ngũ phát triển lớn hơn so với hai bản làm lại trước đó, bao gồm sự hỗ trợ từ các đội nội bộ của Resident Evil 2Devil May Cry 5 của Capcom. Nhiều nhà phát triển Resident Evil 4 ban đầu vẫn nằm trong nhóm này bao gồm cả nhà sản xuất Kobayashi Hiroyuki. Bản làm lại đang được đạo diễn bởi một người mới tại M-Two.[33]

Mặc dù công ty thường dựa vào các nhượng quyền thương mại hiện có, hãng cũng đã phát hành và phát triển nhiều tựa trò chơi cho Xbox 360, PlayStation 3Wii, dựa trên tài sản trí tuệ ban đầu: Lost Planet: Extreme Condition, Dead Rising, Dragon's Dogma, Asura's WrathZack and Wiki.[34]Trong thời gian này, Capcom cũng đã giúp phát hành một số tựa trò chơi từ các nhà phát triển phương Tây với các tựa như Remember Me, Dark VoidSpyborgs, các tựa trò chơi mà nhiều nhà phát hành khác không dám thử.[35][36] Các tựa còn lại là Ōkami, ŌkamidenGhost Trick: Phantom Detective. Hiện tại, Capcom đang nghiên cứu tài sản trí tuệ mới nhất của mình, Deep Down, cho PlayStation 4.

Danh hiệu bạch kimSửa đổi

Capcom biên soạn một danh sách, được cập nhật hàng quý, gồm các trò chơi bán hơn một triệu bản, được gọi là "Danh hiệu bạch kim". Danh sách này ghi tên hơn 90 trò chơi điện tử, dưới đây là mười tựa hàng đầu đã bán kể từ ngày 30 tháng 6 năm 2020.[37]

Chú thích
  Bao gồm bản phân phối kỹ thuật số
Tựa Ngày phát hành Hệ máy Doanh số (triệu)
Monster Hunter World   tháng 1 năm 2018 PlayStation 4, Xbox One, PC 16.1
Resident Evil 7: Biohazard   tháng 1 năm 2017 PlayStation 4, Xbox One, PC 7.9
Resident Evil 5   tháng 3 năm 2009 PlayStation 3, Xbox 360 7.7
Resident Evil 6   tháng 10 năm 2012 PlayStation 3, Xbox 360 7.6
Resident Evil 2 Remake   tháng 1 năm 2019 PlayStation 4, Xbox One, PC 7.2
Street Fighter II tháng 6 năm 1992 Super Nintendo Entertainment System 6.3
Monster Hunter World: Iceborne   tháng 9 năm 2019 PlayStation 4, Xbox One, PC 5.8
Resident Evil 2 tháng 1 năm 1998 PlayStation 4.96
Monster Hunter Freedom 3   tháng 12 năm 2010 PlayStation Portable 4.9
Street Fighter V   tháng 2 năm 2016 PlayStation 4, PC 4.7

Phê bình và tranh cãiSửa đổi

Năm 2012, Capcom bị chỉ trích vì các chiến thuật bán hàng gây tranh cãi, chẳng hạn như phải trả tiền cho các nội dung bổ sung đã có sẵn trong các tệp của trò chơi, đáng chú ý nhất là Street Fighter X Tekken. Capcom vẫn bảo vệ thói quen đó.[38] Công ty còn bị chỉ trích vì các quyết định kinh doanh khác, như không phát hành một số trò chơi ra thị trường bên ngoài Nhật Bản(đáng chú ý nhất là loạt Sengoku BASARA), đột ngột hủy bỏ dự án (đáng chú ý nhất là Mega Man Legends 3) và đóng cửa Clover Studio. [cần dẫn nguồn]

Trong năm 2015, công ty đã tháo phiên bản PlayStation 4 của Ultra Street Fighter IV khỏi Capcom Pro Tour do nhiều vấn đề kỹ thuật và lỗi.[39]

Năm 2016, Capcom phát hành Street Fighter V với nội dung chơi đơn rất hạn chế. Khi ra mắt, có những vấn đề về độ ổn định với mạng, tự khởi động người chơi giữa trò chơi ngay cả khi họ không chơi ở chế độ trực tuyến[40]. Street Fighter V không đạt được mục tiêu doanh số 2 triệu vào tháng 3 năm 2016.[41]

Xem thêmSửa đổi

Bài viếtSửa đổi

Các công ty do nhân viên cũ của Capcom thành lậpSửa đổi

Tên Ngày thành lập Chi nhánh
Crafts & Meister 1 tháng 6 năm 2004 Được thành lập bởi Funamizu Noritaka Katsuhiro
Game Republic 1 tháng 7 năm 2003 Được thành lập bởi Okamoto Yoshiki
Inti Creates 8 tháng 5 năm 1996 Được thành lập bởi Takuya Aizu
Level-5 Comcept 1 tháng 12 năm 2010 Được thành lập bởi Inafune Keiji với tên Comcept
PlatinumGames 1 tháng 10 năm 2007 Được thành lập bởi Mikami Shinji, Inaba Atsushi, Kamiya Hideki, và Minami Tatsuya
Tango Gameworks 1 tháng 3 năm 2010 Được thành lập bởi Mikami Shinji
UTV Ignition Games 26 tháng 9 năm 2001 Takeyasu Sawaki gia nhập Ignition Tokyo, một công ty con của UTV Ignition Games

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “CAPCOM - Corporate Overview”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ a ă â “CAPCOM - Financial Review (Japan GAAP)”. Capcom. 7 tháng 5 năm 2019. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  3. ^ “CAPCOM | Corporate Overview”. CAPCOM IR. 
  4. ^ “Corporate Information: Corporate Overview”. Capcom Co., Ltd. 31 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  5. ^ a ă â b “Corporate Information: History”. Capcom Co., Ltd. Ngày 30 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  6. ^ a ă â b “Corporate Information: Capcom Group”. Capcom Co., Ltd. 31 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  7. ^ Ocampo, Jason (11 tháng 6 năm 2008). “Capcom Marks 25th Anniversary”. IGN. IGN Entertainment, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  8. ^ 会社情報 カプコンの歴史 (bằng tiếng Japanese). Capcom Co., Ltd. 30 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  9. ^ a ă “Archived copy” 会社情報 社名の由来 (bằng tiếng Japanese). Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ a ă “Corporate Information: Business Segments”. Capcom Co., Ltd. 30 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  11. ^ “Business Strategies & IR Data: Total Sales Units Data”. Capcom Co., Ltd. 31 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  12. ^ a ă “Capcom”. Next Generation (Imagine Media) (17): 67–69. Tháng 5 năm 1996. 
  13. ^ Gaudiosi, John. "Capcom Seeks More Playtime in HWood." Hollywood Reporter 397 (2006): 4,4,29. ProQuest Research Library. Web. May 30, 2012.
  14. ^ Cowan, Danny (13 tháng 12 năm 2011). “Nyu Media, Capcom To Publish Localized Doujin PC Games Starting This Month”. IndieGames.com. UBM Tech. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ “Dustforce Sweeping onto Xbox Live Arcade and PSN for PS3, Vita January 2014”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016. 
  16. ^ Matulef, Jeffrey (27 tháng 8 năm 2014). “Capcom files lawsuit against Koei Tecmo for patent infringement”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2016. 
  17. ^ ゲーム業界を"爆発"させた"ストライダー"の父 「四井浩一」  ディスコグラフィー. Gameside (bằng tiếng Japanese) (Micro Magazine) (16). Tháng 2 năm 2009. 
  18. ^ Capcom Co., Ltd (7 tháng 3 năm 1989). Strider Hiryū. Capcom Co., Ltd. Cảnh: staff credits. 
  19. ^ Nix, Marc (23 tháng 3 năm 2007). “The Future of PSP – Capcom”. IGN. IGN Entertainment, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  20. ^ a ă â b c “Annual Report 2009” (PDF). Capcom Co., Ltd. 17 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 15 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010. 
  21. ^ “Developer Interview 2008”. Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010. 
  22. ^ “Annual Report 2007” (PDF). Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  23. ^ Capcom. “Developer Interview 2015”. 
  24. ^ https://www.gamesindustry.biz/articles/2015-10-13-capcoms-resident-evil-division-focusing-on-vr
  25. ^ http://www.capcom.co.jp/ir/english/company/officer02.html
  26. ^ “Developer Interview 2009: vol08.Keiji Inafune”. Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010. 
  27. ^ “Developer Interview 2010: vol01.Jun Takeuchi”. Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010. 
  28. ^ Orsini, Lauren (17 tháng 5 năm 2010). “Bionic Commando, Dark Void Last Straws For Capcom”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010. 
  29. ^ "Locations Lưu trữ tháng 10 7, 2011 tại Wayback Machine." Capcom. Retrieved on August 12, 2011. "3-1-3 Uchihirano-machi, Chuo-ku, Osaka 540-0037, Japan" and "Shinjuku Mitsui Building 2-1-1 Nishi Shinjuku, Shinjuku-ku, Tokyo"
  30. ^ “Annual Report 1998” (PDF). Capcom Co., Ltd. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  31. ^ Kramer, Chris (28 tháng 3 năm 2008). "Gamers Day" is dead, long live the CAPTIVATE08 Media Summit”. Capcom Entertainment, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010. 
  32. ^ “Capcom is working on a Resident Evil 4 remake”. VGC (bằng tiếng en-GB). 12 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2020. 
  33. ^ “More Resident Evil 4 remake details emerge: ‘Larger team’ than 3”. VGC (bằng tiếng en-GB). 13 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2020. 
  34. ^ "Lost Planet & Dead Rising; Capcom Brings New Blood to Xbox 360." EGM [i] 2006: 1-41. ProQuest Research Library. Web. May 30, 2012.
  35. ^ Douglass C. Perry (21 tháng 8 năm 2009). “How Airtight Games started a console game studio with just $24,000”. VentureBeat. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  36. ^ Stephany Nunneley (27 tháng 11 năm 2012). “Remember Me developer discusses amicable split with Sony, Capcom's enthusiasim”. VG247. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  37. ^ “Capcom, Platinum Titles”. Capcom. 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2020. 
  38. ^ Makuch, Eddie (2 tháng 4 năm 2012). “Capcom defends on-disc DLC - Report”. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2012. 
  39. ^ Wesley Yin-Poole (1 tháng 6 năm 2015). “Capcom pulls PS4 Ultra Street Fighter 4 from its own tournament”. Eurogamer. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  40. ^ “Capcom Responds to Street Fighter 5's Lack of Content Concerns”. GameSpot. 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  41. ^ “Street Fighter 5 Sales Miss Capcom Target By Huge Margin”. GameRant. 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 

Liên kết ngoàiSửa đổi