Mở trình đơn chính
Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


Thiền Sư Chân Yết Thanh Liễu (Trung: 真歇清了; Hán âmZhēnxiē QīngliăoNhật: Shinketsu Seiryō9),(1089-1153), là một vị thiền sư Trung Hoa, nối pháp Thiền sư Đan Hà Tử Thuần, thuộc Tào Động Tông. Sư từng cùng với huynh đệ là Thiền sư Hoằng Trí cùng nhau tích cực đề xướng Mặc Chiếu Thiền. Để phản bác lại quan điểm của Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo về Thiền Mặc Chiếu, sư từng viết bài Tín Tâm Niêm Cổ nhằm đáp lại sự chê trách và phát huy ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của thiền, đồng thời vạch ra các tệ hại trong thời đó để răn dạy những kẻ ngộ mù quáng làm rối loạn đạo thiền.Sư có đệ tử nối pháp là Thiền Sư Thiên Đồng Tông Giác .

Cơ DuyênSửa đổi

nhỏ|left|Thiền sư Chân Yết Thanh liễu Thiền sư Chân Yết Thanh Liễu họ Ung, người An xương (tỉnh Tứ xuyên), tên là Tịch Am. Thuở nhỏ được bế vào chùa, sư thấy Phật liền mỉm cười rạng rỡ trên khoé mắt. Thấy thế, mọi người đều quý trọng sư.

Năm 11 tuổi, sư theo Pháp Sư Thanh Tuấn ở chùa Thánh quả xuất gia, đầu tiên học Kinh Pháp Hoa.

Năm 18 tuổi, sư thọ giới cụ túc rồi vào chùa Đại từ tại Thành đô học Kinh Viên Giác, Kinh Kim Cang . Sau đó đến các danh sơn núi Nga mi, Ngũ đài lễ bồ tát Phổ HiềnVăn Thù.

Sau sư đến tham học với Thiền sư Đan Hà Tử Thuần và được ngộ đạo. Sự ngộ đạo của sư được ghi lại trong công án sau:

Một hôm, sư đến gõ cửa hoà thượng Đan Hà. Đan Hà hỏi: Trước kiếp không, ta là ai? Sư định trả lời thi Đan Hà nói: Ông ồn ào quá, xéo đi ngay! Một hôm, sư lên núi Bát Vu, bỗng nhiên khế ngộ thiền chỉ, liền theo lối tắt trở về, đứng hầu cạnh hoà thượng Đan Hà. Đan Hà vung tay tát cho một cái rồi nói: Ta tưởng ông đã biết rồi chứ!

Thiền Sư Đơn Hà Tử Thuần bèn ấn khả chứng minh và truyền pháp cho sư. Sau đó, khi đã trở thành bậc tông sư, sư từng thượng đường nhắc lại sự kiện này: Hôm nay, ta bị một tát của tiên sư, bao nhiêu chữ  nghĩa đều trốn hết, tìm một lời cũng không ra. "

Hành TrạngSửa đổi

Sau khi được đạo tại Thiền Sư Đan Hà Tử Thuàn, du phương đến yết kiến Thiền sư Tổ Chiếu Đạo Hòa ở Trường Lư, qua một câu nói khế hợp, sư ở lại đây làm thị giả. Năm sau, Thiền Sư Tổ Chiếu cử sư thăng tòa thuyết pháp.

Năm Tuyên hoà thứ 3 (1121) Thiền Sư Tổ chiếu lâm bệnh, thỉnh sư nhận đệ nhất toà, giao lại phần giáo hóa cho sư , học giả đến tham học như trước

Năm Kiến Viêm thứ 2 (1128), sư lên núi Phổ đà lễ bồ tát Quan âm.

Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), sư trụ trì Chùa Tuyết phong, mở mang tông phong Tào động.

Năm Thiệu Hưng thứ 15 (1145) , sư dời đến trụ trì, khai đường ở Năng Nhân Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự

Năm Thiệu Hưng thứ 21 (1151) , sư giáo hóa ở Sùng Tiên Hiển Hiếu Thiền Tự ở Cao Ninh. Tháng 10 năm ấy sư nhập diệt, thọ sáu mươi ba tuổi, bốn mươi lăm tuổi hạ, tháp được an trí ở đảo Hoa Tương phía tây của chùa, vua ban hiệu là Ngộ Không Thiền Sư

Sư có để lại cuốn Chân Yết Thanh Liễu Thiền Sư ngữ lục (真歇清了禪師語錄) 2 quyển

Pháp ngữSửa đổi

Sư thượng đường: "Rêu phong lối cũ chẳng rơi hư ngưng, mù phủ rừng xanh nhận bày phong yếu, kim móc kín đáo, ai bảo ông chài về tổ, chỉ thế thừa đương, chính là bình thường sống thích lại có người đủ con mắt thấu cổng chăng? Sư im lặng giây lâu nói: - Dù cho sớm nghe liền trở về, đâu bằng từ lâu chẳng ra cửa."

Sư thượng đường: "Chợt mưa chợt tạnh chợt lạnh chợt nóng, cái của Sơn tăng thì Sơn tăng tự biết, cái của quí vị thì quí vị tự nói. Hãy nói miệng của Tuyết Phong (Sư) trừ ngoài ăn cơm cần làm gì?"

Sư thượng đường: "Thân không huyễn hóa tức pháp thân. Sư múa bảo: Thấy chăng? Thấy chăng? Thế ấy thấy được? qua cầu thôn rượu quí?. Sư múa bảo: Thấy chăng? Thấy chăng? Thế ấy chẳng thấy? cách bờ hoa rừng thơm?."

Sư thượng đường: "Tột nhiệm tan gốc, thể diệu mất tông, một câu đứt dòng, sâu huyền cùng tột, bởi vì chỗ kín kim vàng chẳng bày sáng nhọn chỉ ngọc xuyên qua thầm bày sắc lạ. Tuy nhiên như thế vẫn là xen lẫn hai sáng, hãy nói chỗ khéo vụng chẳng đến làm sao hiểu nhau? Sư im lặng giây lâu nói: Mây thưa soi thấu xanh mờ nhạt, cây núi thấp cao khóa biếc sâu."

Sư thượng đường: "Chuyển công đến vị là người nhằm đi, ngọc ẩn Kinh Sơn quí. Chuyển vị đến công là người trở lại, lò hồng mảnh tuyết xuân. Công vị đều chuyển, khắp thân chẳng kẹt, buông tay quên áo, gái đá đêm lên máy, thất kín không người quét. Chính khi ấy bặt khí tức một câu làm sao hiểu nhau? Sư im lặng giây lâu nói: Về cội gió rơi lá, soi tột trăng đầm không."

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Thiền sư Trung Hoa(tập 1,2,3)- Thích Thanh Từ biên dịch.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh- Hòa Thượng Hư Vân và Tuyên Hóa biên soạn.