Châu Hoa Kiện (周華健, tiếng Anh: Wakin Chau, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1960) hay Chu Hoa Kiện là nam ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc Hồng Kông và là một trong những ca sĩ Trung Quốc có ảnh hưởng nhất trong những năm 1990 trong khu vực Đại Trung Hoa, Đài Loan. Anh cùng với các danh ca Vưu Khải Hiền, Vương KiệtTrương Học Hữu được đánh giá là một trong số ít những nam ca sĩ có âm vực tốt và giọng ca đặc biệt nhất của làng nhạc Hoa ngữ, được mệnh danh là Thiên Vương Sát Thủ hay "Ca Vương Quốc Dân". Anh cũng được biết đến với vai trò là huấn luyện viên của chương trình Sing My Song (Ca Khúc Hay Trung Quốc) mùa 1, mùa 2.

Châu Hoa Kiện
周華健
WakinChau2007.jpg
Sinh22 tháng 12, 1960 (59 tuổi)
 Hồng Kông
Quốc tịch Hồng Kông
 Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan)
Nghề nghiệpCa sĩ, Nhạc sĩ, Diễn viên
Nổi tiếng vìI truly give my love to you (1988)<brLonely Eyes(1988)
The truest dream (1989)
I don’t want to be alone (1990)
You make me happy and sad (1991)
How are you getting along (1991)
The fear of darkness (1991)
The flowery heart 》(1993)
《明天我要嫁給你》(1993)
Sleepless night alone (1993)
Từng Trải Cũng Là Yêu (1993)
Noting will stop me from loving you (1994)
A life of fighting is but a dream (1994)
Đêm Qua Em Đã Gả Cho Ai (1994)
Tình Nồng Chẳng Thể Xa(1995)
Vì Tình Thương Tổn(1995)
Love Follows (1995)
Thần Thoại, Tình Thoại (1995)
Blame It On Myself(1995)
My Little Paradise (1996)
Friends (1997)
Feel troubled (1998)
Có Bài Hát Nào Khiến Em Nghĩ Đến Tôi(2001)
Giang hồ tiếu (2006)
Quê quánQuảng Đông,  Trung Quốc
Phối ngẫu
Hoa KỳConstance A. Woods (cưới 1986)
Bạn đờiLý Tông Thịnh
Con cáiCon trai:Châu Hậu An(Andrew, 30 tuổi)
Con gái:Châu Ân Trọng(Anya, 25 tuổi)
Trang webWakin.coms
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loạiCantopop, Mandopop
Nhạc cụGuitar, Hát, Piano
Năm hoạt động1985 đến nay
Hãng đĩaRock Records, Stars Ferry Music Production Ltd.
Châu Hoa Kiện
Phồn thể周華健
Giản thể周华健

Tại Việt Nam, các ca khúc của anh được nhiều khán giả biết đến như Tiếng sáo phiêu bồng (Lam Trường thể hiện), Kiếp rong buồn, Lãng quên chiều thu (Đan Trường), Anh không muốn ra đi (Nguyễn Phi Hùng), Bến mộng (Kenny Thái), Cánh chim cuối trời (Lam Trường, Cẩm Ly), Ngày không em (Ưng Hoàng Phúc),...

Tiểu sửSửa đổi

Nguyên quán của Châu Hoa Kiện ở Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông. Anh được sinh ra tại Tây Doanh Bàn, Hồng Kông, là con thứ tư nên nhũ danh là Tứ Ngưu, có 3 người anh trai (Hoành Kiện, Vĩ Kiện, Hào Kiện) và một em gái. Gia đình có mở cửa hàng gạo tên là Châu Ký mễ điếm.

Anh từng theo học trường tiểu học Lỗ Ban Quảng Duyệt Đường (廣悅堂魯班學校), tốt nghiệp vào sáng thứ 4 năm 1973; khi còn học, giáo viên là Tô Lăng Phong, người sau này trở thành một phát thanh viên truyền hình nổi tiếng). Sau đó vào học trường trung học New Method College, bạn cùng trường với đạo diễn nổi tiếng Đường Quý Lễ (唐季禮).[1] Năm 1974, trong dịp sinh nhật lần thứ 14 tuổi của mình, Châu Hoa Kiện được anh trai mình là Châu Hào Kiện tặng cho một cây guitar. Anh tỏ ra rất thích thú và thường luyện tập guitar mọi lúc mọi nơi nhưng cũng việc tập luyện quá say sưa đã khiến Châu Hoa Kiện lực học sút kém, hậu quả là năm 1975, anh ở lại lớp trong năm thứ ba trung học.

Năm 1978, ở tuổi 18, anh đã cùng một số người bạn thành lập một ban nhạc, tham gia cuộc thi hát nghiệp dư do Đài truyền hình Hồng Kông tổ chức lần đầu tiên dưới tên gọi "Dusty", giành giải quán quân.[2]

Năm 1979, anh sang Đài Loan du học và tham gia chương trình ôn tập lấy tín chỉ để xếp lớp. Năm 1981, sau hai năm cố gắng, anh được nhận vào khoa Toán, Đại học Quốc gia Đài Loan, nhưng sau đó lại phát hiện những con số vốn không hấp dẫn với mình. Trong học kỳ, sau khi được đàn anh giới thiệu, anh bắt đầu công việc ca hát tại nhà hàng đồ tây Folk Song ở quận Sỹ Lâm, thành phố Đài Bắc.[3]

Sự nghiệpSửa đổi

Giai đoạn ra mắt:1985-1986Sửa đổi

Năm 1984, anh và Lâm Lương Nhạc, Tiền Tuy Hâm cho ra mắt một album tổng hợp Danh ca tam nhân hành, sáng tác và phát hành đĩa đơn đầu tiên Who Said It.

Năm 1985, Châu Hoa Kiện đã thu âm album solo đầu tiên "Last Dance", nhưng không may, công ty thu âm đột nhiên sụp đổ vài ngày trước khi album được phát hành, vì vậy album đã không thể ra mắt. Trong quá trình ca hát tại nhà hàng phương Tây, anh đã gặp cô gái người Mỹ Constance. A. Woods và kết hôn vào năm sau.

Năm 1986, dưới sự đánh giá cao và giới thiệu của nhạc sĩ Lý Tông Thịnh, cuối cùng anh ấy đã gia nhập Rolling Stone Records với tư cách là trợ lý sản xuất. Sau khi nữ ca sĩ Đài Loan Tư Dự giới thiệu cho Trần Dương, anh bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình trong các bài hát quảng cáo. Trong giai đoạn này, tác phẩm hoàn thành có tên "In the Eyes" đã được đưa vào album "Tình cũ tình mới" của nữ ca sĩ Phan Việt Vân.

Sau đó gia nhập hãng thu âm Rock Record Taipei với lần thử sức trong album tổng hợp Thiên đường hạnh phúc (快樂天堂). Anh cùng với Lý Tông Tinh, Huang Yunling và những người khác đã sản xuất nhạc nền cho bộ phim "Tôi có vài điều muốn nói". Zhou Huajian được gọi là "Dương Quang Du Tử" vì hình ảnh và thể loại tích cực, lành mạnh, đầy nắng.

Dương Quang Du Tử: 1987-1990Sửa đổi

Vào ngày 13 tháng 7 năm 1987, Châu Hoa Kiện chính thức cho ra mắt album đơn đầu tiên "The Direction of the Heart" thuộc Rolling Stones và được đón nhận rộng rãi, đạt được bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp ca hát của anh. Album được chọn là một trong "Top 100 album Đài Loan" [4]

Năm 1988, album tiếng Trung thứ hai "Tôi Hi Sinh Chân Tình, Tôi Thực Hiện Giấc Mộng" và album tiếng Anh đầu tiên "Sad Without You" được phát hành lần lượt, lập kỷ lục mới về doanh số, và từ đó thiết lập vị trí ca sĩ mạnh mẽ. Năm 1989, anh phát hành album tiếng Quan thoại "Trả nhiều hơn, mong đợi nhiều hơn" và "Giấc mơ thực sự nhất", và đĩa đơn "Legend of Widow Village" đã lọt vào danh sách "Giải thưởng Nam nghệ sĩ xuất sắc nhất" trong Giải thưởng Bài hát vàng đầu tiên của Đài Loan.

Vào ngày 9 tháng 11 năm 1990, album tiếng Quan Thoại "Don't Wanna Be Alone" đã được phát hành và lúc này con trai đầu chào đời. Vào ngày mong chờ sự ra đời của con trai, anh đã viết hai bài hát nổi tiếng "My dearest baby" và "I Willing to Wait". Trong năm đó, bài hát "There Is Love In This City" do anh sáng tác được chọn là bài hát chủ đề của cuộc thi Thế vận hội thường niên Đài Loan và đã thắng giải tại hạng mục ca hát của Golden Melody Award for Song of the Year lần thứ 2.

Danh ca quốc dân:1991-1993Sửa đổi

Vào ngày 28 tháng 11 1991, Châu Hoa Kiện phát hành album tiếng Quan Thoại quan trọng của mình "Make Me Happy and Worry Me" và đã bán được hơn 2 triệu bản. Bài hát cùng tên nhanh chóng trở nên phổ biến trên khắp cộng đồng Hoa ngữ, khẳng định vị thế của anh. Với album này anh được đề cử tại hạng mục "Nam nghệ sĩ xuất sắc nhất" tại Giải thưởng Giai điệu vàng lần thứ 3 của Đài Loan, và một lần nữa lọt vào "Top 100 album Đài Loan" sau album "The Direction of the Heart".[5]

Bên cạnh việc tổ chức concert cá nhân "Thanh xuân phi trì" (青春飛馳) tại sân vận động Trung Sơn Cao Hùng, anh cũng lần đầu tiên cũng biểu diễn ở Trung Quốc đại lục.

Năm 1992, anh được truyền cảm hứng từ đĩa đơn "The song of a ferryman" để thành lập phòng thu riêng Stars Ferry Music (擺渡人音樂工作室). Châu Hoa Kiện cũng đã sản xuất và phát hành album tiếng Anh "I remember", và doanh thu đã lập kỷ lục chưa từng có cho album tiếng Anh tại Đài Loan. Cùng năm đó, anh nhận giải giành "Ca sĩ hát tiếng phổ thông hay nhất năm" tại Giải thưởng Giai điệu vàng lần thứ tư của Đài Loan cho album "Make Me Happy and Worry Me". Anh cũng giành được đề cử "Giải thưởng dành cho nhạc sĩ xuất sắc nhất".

Năm 1993, album tiếng Hoa "Hoa tâm" được phát hành và hơn 4 triệu bản đã được bán trên khắp châu Á, nhận danh hiệu vô địch doanh số hàng năm kỷ lục Trung Quốc toàn cầu của IFPI; doanh thu album đánh dấu sự nghiệp diễn xuất cá nhân của Zhou Huajian ở đỉnh cao, đã khẳng định vị thế là "Ca vương quốc dân" trong nền âm nhạc Trung Quốc. Đồng thời, lần đầu tiên, hãng thu âm lần đầu tiên ra mắt bản karaoke cho ca khúc "Hoa tâm" và "Chiếc gối cô đơn" của Châu Hoa Kiện.

Tour lưu diễn vòng quanh khu vực Đại Trung Hoa được tổ chức lần đầu tiên tại Nhà tưởng niệm Tôn Trung Sơn Đài Bắc vào tháng 7. Chuyến lưu diễn cá nhân đầu tiên ở Đại lục có tên "Kim Dạ Dương Quang Xán Lạn" tổ chức tại Bắc Kinh, Thành Đô và nhiều nơi khác kéo dài suốt tháng 7. Concert solo đầu tiên tại Hồng Kông được tổ chức tại sân vận động Queen Elizabeth. Cùng năm, anh được đề cử cho "Giải thưởng Nam nghệ sĩ xuất sắc nhất" tại Giải thưởng Giai điệu vàng lần thứ 5.

Từ đó, Châu Hoa Kiện cũng bắt đầu phát triển tại thị trường Hồng Kông. Ngoài vai chính trong bộ phim Once a Cop (超級計劃) của Hồng Kông năm 1993, anh còn phát hành bài hát tiếng Quảng Đông đầu tiên có tên "Still Love After All These Years " vào cuối năm.

1999-naySửa đổi

Từ năm 1999, Châu Hoa Kiện đã bước vào thời kỳ biến đổi, và các thể loại âm nhạc của nó ngày càng trở nên đa dạng và quốc tế hóa. Ngoài việc phát hành liên tiếp album tiếng Anh "MY OH MY" và album tiếng Trung NOW 現在, anh còn tham gia nhiều buổi biểu diễn khác nhau ở Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc đại lục, Đông Nam Á và Bắc Mỹ, làm người thể hiện phiên bản tiếng Trung của ca khúc chủ đề của Disney bộ phim hoạt hình Tarzan của Disney. A cùng với Tao Jingying đồng tổ chức Lễ trao giải Kim Mã lần thứ 36, thương hiệu MUJI, tham gia làm khách mời buổi hòa nhạc của La Đại Hữu, Hoàng Phẩm Nguyên, Thành Long, v.v,

Trong thời gian này, anh được nhận một số giải thưởng như "Grand Prize: National Honorary Singer" tại lê trao giải thường niên của Danh sách nhạc pop nguyên bản Trung Quốc, "Golden Song of the Year" và Top 10 danh ca của đài phát thanh Metro Broadcast Corporation Hồng Kông, giải thưởng "Bài hát tiếng Quan thoại hay nhất" với ca khúc "Any Song Reminds You Of Me", Nam ca sĩ được yêu thích nhất Đài Loan và Hồng Kông tại lễ trao giải China Golden Disc Award lần thứ 1.

Từ năm 2001, bị ảnh hưởng bởi thị trường thu âm chững lại và những thách thức từ lớp nhạc sĩ mới nổi, Châu Hoa Kiện đã gặp phải một giai đoạn nút cổ chai trong sự nghiệp của mình, công việc sáng tác gặp nhiều khó khăn, anh thừa nhận rằng mình thậm chí đã nghĩ đến việc tự tử.[6]

Cuối cùng Châu Hoa Kiện đã từ bỏ việc theo đuổi thể loại nhạc pop một cách mù quáng, quay trở về với sự dịu dàng vốn có. Năm 2003, Châu Hoa Kiện người đang gặp bế tắc trong quá trình sản xuất âm nhạc, đã đưa đội ngũ sản xuất của mình chuyển sang phá kỷ lục đến khách sạn quốc tế Dương Minh Sơn, Bắc Đầu, Đài Bắc để sản xuất album mới "Love Hotel- Happiness Together". Từ 2003 đến 2005, hàng chục buổi biểu diễn đã được tổ chức tại Trung Quốc đại lục, Malaysia và Hoa Kỳ và nhiều nơi khác.

Năm 2006, để kỷ niệm 20 năm bước vào sân khấu âm nhạc, Châu Hoa Kiện đã phát hành album solo thứ 29 "Rainman" trong đời, và tổ chức liên tiếp concert solo quy mô lớn "Hoa Kiện 20" tại Bắc Kinh,Trùng Khánh, Thượng Hải, Nam Kinh, Nam Ninh, Đài Bắc, Hồng Kông, Hàng Châu, Thái Nguyên, Thường Châu, Singapore để kỷ niệm 20 ca hát.

Trước thềm khai mạc Thế vận hội mùa hè 2008 tại Bắc Kinh, anh đã tích cực tham gia các hoạt động chào mừng Olympic khác nhau, ngoài việc được chọn làm thủ lĩnh danh dự của Đội tình nguyện Olympic Bắc Kinh 2008 và tham gia vào cuộc rước đuốc Olympic ở ga Tam Á.[7]

Anh cũng đích thân sáng tác và sáng tác bài hát cổ vũ Olympic Bắc Kinh và bài hát tiếp sức ngọn đuốc Olympic là "Legend of the Torch" và "I am a Star" đã trở thành một trong những bài hát Olympic được hát rộng rãi. Năm đó, anh và La Đại Hựu, Lý Tông Thành và Trương Chấn Nhạc thành lập nhóm nhạc "SUPER BAND", tạo dựng cảm hứng mới của thị trường âm nhạc Trung Quốc (thế hệ 1970-1990). Kể từ tháng 3 năm 2009, 53 buổi hòa nhạc đã được lưu diễn dọc theo hàng chục thành phố ở Đài Bắc, Hồng Kông, Bắc Kinh, Hoa Kỳ, v.v. với lượng vé bán ra vô cùng ấn tượng.

Năm 2010, concert cá nhân Hoa ghép hình được tổ chức liên tiếp tại hàng chục thành phố như Bắc Kinh, Vũ Hán, Cáp Nhĩ Tân, v.v.

Từ năm 2010 đến 2011, anh tham gia làm khách mời biểu diễn trong "Concert Happy Paradise Rock Records 30" tại các nhà ga Đài Bắc, Singapore, Bắc Kinh và Thượng Hải. Vào ngày 20 tháng 5 năm 2011, album thứ 30 "Hua Dan" đã được phát hành, nội dung chính là cover các bài hát của các nữ ca sĩ khác.

Năm 2013, anh phát hành album cá nhân mới "Giang hồ" với chủ đề "anh hùng" và "giang hồ" ra mắt lần đầu tiên tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và các khu vực khác vào ngày 6 tháng 12 và chính thức phát hành tại Trung Quốc Đại lục vào ngày 30 tháng 12.

Từ cuối năm 2013, anh là một trong 4 giám khảo của chương trình Sing my song Trung Quốc trên kênh CCTV3 của đài CCTV. Chương trình bắt đầu từ ngày 6 tháng 1 năm 2014.

Năm 2014, album "Giang hồ" gành được nhiều đề cử trong Giải Âm nhạc Phong Vân Bảng gồm Nam ca sĩ xuất sắc nhất, Album hay nhất, Nhạc trữ tình hay nhất "Bát Mặc (viết lời: Trương Đại Xuân), nhà sản xuất bài hát hay nhất ("Bát Mặc", nhà sản xuất: Châu Hoa Kiện, Hoàng Vận Nhân), MV ca nhạc hay nhất ("Bát Mặc", đạo diễn: Trần Dịch Nhân), dự án thu âm hay nhất, và giành giải nam ca sĩ xuất sắc nhất.[8][9][10]

Các đĩa hát đã phát hànhSửa đổi

Tiếng Phổ ThôngSửa đổi

  • 最後圓舞曲 (1985) Điệu Waltz cuối
  • 心的方向 (1987) Phương hướng của trái tim
  • 我是真的付出我的愛 (1988) Anh thật sự phải trả giá cho tình yêu
  • 期待更多,付出更多 (1989) Kì vọng càng nhiều, giá phải trả càng cao
  • 最真的夢 (1989) Giấc mơ chân thật
  • 不願一個人 (1990) Không muốn một mình
  • 讓我歡喜讓我憂 (1991) Người khiến anh yêu
  • 花心 (1993) Hoa tâm (đa tình)
  • 今夜陽光燦爛 (1994) Đêm nay bầu trời thật đẹp
  • 風雨無阻 (1994) Gió mưa không cản
  • 我願意去等 (1995) Anh nguyện chờ đợi
  • 愛相隨 (1995) Ái tương tùy
  • 愛的光 (1996) Ánh sáng của tình yêu
  • 小天堂 (1996) Thiên đường nhỏ
  • 朋友 (1997) Bằng hữu
  • 有故事的人 (1998) Hồi ức của một người
  • 現在 (1999) Hiện tại
  • 忘憂草 (2001) Cỏ vong ưu
  • 最完整周華健 (2003) Châu Hoa Kiện Hoàn Chỉnh Nhất
  • 一起吃苦的幸福 (2003) Hạnh Phúc Cùng Nhau Chịu Khổ
  • 雨人 (2006) Vũ Nhân

Tiếng Quảng ĐôngSửa đổi

  • 有弦相聚 (1994)
  • 弦途有你 (1995)
  • 弦弦全全 (1995)
  • 生.生活 (1996)
  • 世界由你我開始(1997) Thế giới vì em mà bắt đầu
  • 听健 (1998) Nghe Châu Hoa Kiện

Tiếng AnhSửa đổi

  • Sad Without You (Sep 1988)
  • Blue Bird (Feb 1991)
  • I Remember (tháng 5 năm 1992)
  • Songs of Birds (Aug 1993)
  • Forever Young - Best Collection (1996)
  • My Oh My (Feb 2001)
  • My Favorite Songs (tháng 5 năm 2002)

Những phim đã tham giaSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “私校大王 新法王家辦學秘笈”. 壹週刊. Ngày 25 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019. 
  2. ^ 由1967開始-第十集 TVB [2009-12-21]
  3. ^ “周华健新专辑《江湖》网易云音乐首播”. Truy cập 9 tháng 10 năm 2015. 
  4. ^ 台湾百佳唱片榜单
  5. ^ 臺灣百佳唱片 Lưu trữ 2008-06-24 tại Wayback Machine 時光網 [2008-4-16]
  6. ^ 周華健自曝經歷5年事業低潮壓力過大曾想自殺 新浪網 [2006-03-22]
  7. ^ 著名歌星周華健參與三亞站火炬接力活動 搜狐 [2008-05-05]
  8. ^ “《江湖》获得音乐风云榜多项提名”. 周华健官方网站. 周华健. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2014. 
  9. ^ “音乐风云榜年度盛典 众星云集揽获大奖载誉而归”. 腾迅娱乐. 腾讯. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2014. 
  10. ^ “第十四届音乐风云榜颁奖盛典:最佳女歌手——周笔畅”. 新浪视频. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2014.