Mở trình đơn chính

Châu Thành, Long An

huyện thuộc Long An

Châu Thành là một huyện nhỏ nằm ở vị trí cực Nam của tỉnh Long An. Sông Vàm Cỏ (hợp lưu của sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây) chảy qua địa phận của xã Thuận MỹThanh Vĩnh Đông trước khi chảy xuống Gò Công để ra biển.

Châu Thành
Huyện
Vuonthanhlong.jpg
Thanh Long - cây trồng chủ lực của huyện Châu Thành
Địa lý
Tọa độ: 10°27′52″B 106°30′0″Đ / 10,46444°B 106,5°Đ / 10.46444; 106.50000Tọa độ: 10°27′52″B 106°30′0″Đ / 10,46444°B 106,5°Đ / 10.46444; 106.50000
Diện tích 155,244 km²[1]
Dân số (2014)  
 Tổng cộng 114.251 người
 Thành thị 5.889 người
 Nông thôn 108.362 người
 Mật độ 736 người/km²[1]
Dân tộc Kinh
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Long An
Huyện lỵ Thị trấn Tầm Vu
Thành lập 1705, 1989 (tái lập huyện)
 Trụ sở UBND Đầu đường Đỗ Tường Tự (tỉnh lộ 827A), Khu phố 2, Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, Tỉnh Long An
Phân chia hành chính Huyện có 1 thị trấn và 12 xã
Website http://chauthanh.longan.gov.vn

Mục lục

Vị trí địa lýSửa đổi

Huyện Châu Thành giáp ranh thành phố Tân An, cách trung tâm thành phố 12 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 52 km theo tuyến Quốc lộ 1A và 42 km theo tuyến Quốc lộ 50.

 
Cây thanh long là cây trồng chính của huyện Châu Thành
  thành phố Tân An huyện Tân Trụ  
huyện Chợ Gạo (Tiền Giang) B huyện Cần Đước
T    huyện Châu Thành    Đ
N
huyện Chợ Gạo (Tiền Giang) thị xã Gò Công (Tiền Giang)
Enclave: {{{enclave}}}

Vài nét về địa danh Châu ThànhSửa đổi

Trong văn học dân gian ở Nam Bộ có khá nhiều câu sử dụng từ "châu thành", mặc dù trong văn bản được viết hoa, nhưng "châu thành" ở đây được dùng như là một danh từ chung, chỉ nơi phố xá đông đúc, văn minh. Từ "châu thành" vốn là một từ Hán-Việt, được sử dụng khá phổ biến ở Nam Bộ. Khái niệm "châu thành" có thể hiểu là:

  • Phố phường, thành thị, nơi dân cư đông đúc
  • Khu vực chính một xứ hay một tỉnh
  • Vùng đất bao quanh, ở cạnh thành phố, thị xã, đơn vị hành chính cấp huyện.

Sau khi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ngày 5 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp ra nghị định chia 6 tỉnh Nam Kỳ ra 24 hạt tham biện (arondissemnent). Viên cai trị hạt là tham biện (inspecteur, sau đổi là administrateur). Lỵ sở của hạt gọi là "châu thành", có chức năng như một "trung tâm hành chính" của hạt. Bắt đầu từ năm 1912, địa danh Châu Thành chính thức được đặt tên cho nhiều đơn vị hành chính cấp quận ở các tỉnh Nam Kỳ.

Ban đầu, "châu thành" chỉ các trung tâm hành chính, nơi có chợ búa, các cơ quan của hạt tham biện trú đóng. Sau khi thành lập các thị xã với chức năng "tỉnh lỵ", nó chiếm một phần diện tích của "châu thành", phần diện tích còn lại vẫn giữ tên cũ là quận Châu Thành và sau này là huyện Châu Thành. Hiện nay các thị xã tỉnh lỵ đó đều đã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Huyện Châu Thành thuộc tỉnh Long An ngày nay chính là quận Châu Thành thuộc tỉnh Tân An thời Pháp thuộc, đồng thời cũng là quận Bình Phước thuộc tỉnh Long An cũ thời VNCH. Địa bàn thành phố Tân An ngày nay khi đó vẫn nằm trong quận Châu Thành.

Hành chínhSửa đổi

UBND huyện Châu Thành toạ lạc trên đường Đỗ Tường Tự (TL827A), Khu phố 2, Thị trấn Tầm Vu (gần Vòng xoay ngã 3 huyện)

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc huyện Châu Thành
STT Tên Diện tích (km²) Dân số (Người) Mật độ (Ng/km²) Số Ấp/Khu phố
01 Thị trấn Tầm Vu 3,4717 5.889 1.696 06 ấp/khu phố (ấp Hồi Xuân, ấp Hội Xuân, ấp Phú Thạnh; khu phố 1, khu phố 2, khu phố 3)
02 An Lục Long 17,3848 15.222 876 12 ấp (An Tập, Cầu Đôi, Cầu Đúc, Cầu Hàng, Cầu Kinh, Cầu Ông Bụi, Cầu Ván, Chợ Ông Bái, Đồng Tre, Lộ Đá, Nhà Việc, Song Tân)
03 Bình Quới 7,0798 6.861 969 05 ấp (Bình Cang, Bình Sơn, Bình Thuỷ, Bình Xuyên, Kỳ Châu)
04 Dương Xuân Hội 6,7257 5.353 796 04 ấp (Hồi Xuân, Mỹ Xuân, Vĩnh Xuân A, Vĩnh Xuân B)
05 Hiệp Thạnh 12,9795 8.728 671 09 ấp (đánh số từ 1 tới 9)
06 Hoà Phú 9,1751 6.481 706 05 ấp (đánh số từ 1 tới 5)
07 Long Trì 9,6373 8.164 847 08 ấp (Long An, Long Bình, Long Hoà, Long Hưng, Long Thành, Long Thạnh, Long Thuận, Long Trường)
08 Phú Ngãi Trị 13,2713 7.262 547 05 ấp (Ái Ngãi, Bình Trị 1, Bình Trị 2, Phú Xuân 1, Phú Xuân 2)
09 Phước Tân Hưng 13,7484 7.229 531 07 ấp (đánh số từ 1 tới 8, không có ấp 3)
10 Thanh Phú Long 19,979 14.601 731 09 ấp (Bào Dài, Phú Tây A, Phú Tây B, Thanh Bình 1, Thanh Hoà, Thanh Long, Thanh Phú, Thanh Tân, Thanh Quới)
11 Thanh Vĩnh Đông 11,3706 7.940 698 04 ấp (Thanh Bình 2, Vĩnh Viễn, Xuân Hoà 1, Xuân Hoà 2)
12 Thuận Mỹ 21,9571 13.781 628 09 ấp (Bình An, Bình Khương, Bình Thạnh 1, Bình Thạnh 2, Bình Thạnh 3, Bình Thới 1, Bình Thới 2, Bình Trị 1, Bình Trị 2)
13 Vĩnh Công 8,4437 6.740 798 08 ấp (đánh số từ 1 tới 8)

Dữ liệu được lấy từ website huyện Châu Thành. Số liệu dân số được thống kê năm 2014.

Lịch sửSửa đổi

Năm 1832, tỉnh Gia Định được thành lập gồm 4 phủ, 9 huyện:

  • Phủ Tân Bình (Sài Gòn) gồm 3 huyện: Bình Dương (Sài Gòn), Bình Long (Hóc Môn), Tân Long (Chợ Lớn). Phủ này nay đều thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Miền Đông Nam Bộ.
  • Phủ Hòa Thạnh (Gò Công) gồm 2 huyện: Tân Hòa (Gò Công), Tân Thạnh (Kỳ Son). Huyện Tân Hòa nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Huyện Tân Thạnh, ở phía bờ nam sông Vàm Cỏ Tây đối diện huyện Cửu An, nay thuộc địa bàn thành phố Tân An và toàn bộ huyện Châu Thành tỉnh Long An.
  • Phủ Tân An (Vũng Gù) gồm 2 huyện: Cửu An (Vũng Gù), Phước Lộc (Cần Giuộc). Huyện Cửu An là vùng đất nằm kẹp giữa hai dòng Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông từ Tân Trụ đến Thủ Thừa, nay thuộc địa bàn Tân Trụ, Tân An, Thủ Thừa, Bến Lức, và có thể cả Thạnh Hóa của tỉnh Long An. Huyện Phước Lộc nay là các huyện Cần Đước, Cần Giuộc và một phần huyện Bến Lức tỉnh Long An.
  • Phủ Tây Ninh gồm 2 huyện: Tân Ninh (Tây Ninh), Quang Hóa (Bến Cầu, Trảng Bàng). Ngày nay một phần huyện Mộc Hóa (phần phía đông sông Vàm Cỏ Tây), thị xã Kiến Tường, và có thể là một phần các huyện Thạnh Hóa, Đức Hòa, Đức Huệ của tỉnh Long An nguyên là đất huyện Quang Hóa phủ Tây Ninh.

Năm 1900, tỉnh Tân An được thành lập với 3 quận đầu tiên là: Châu Thành, Thủ Thừa và Mộc Hoá.

Năm 1956, tỉnh Long An được thành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh Tân An và phần lớn tỉnh Chợ Lớn. Lúc này Châu Thành là quận của tỉnh Long An.

Ngày 3 tháng 10 năm 1957, quận Châu Thành đổi tên thành quận Bình Phước.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, quận Bình Phước đổi thành huyện Châu Thành thuộc tỉnh Long An, gồm 15 xã: An Lục Long, An Vĩnh Ngãi, Bình Lập, Bình Quới, Bình Tâm, Dương Xuân Hội, Hiệp Thạnh, Hòa Phú, Long Trì, Phú Ngãi Trị, Phước Tân Hưng, Thanh Phú Long, Thanh Vĩnh Đông, Thuận Mỹ, Vĩnh Công.

Năm 1976, Thị xã Tân An được thành lập trên cơ sở tách toàn bộ diện tích và dân số của xã Bình Lập, huyện Châu Thành (ngày nay là các phường 1, 2, 3, 4 và 1 phần phường 7, tp Tân An)

Quyết định 54-CP[2] ngày 11 tháng 3 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ sáp nhập huyện Châu Thành với huyện Tân Trụ, lấy tên là huyện Tân Châu.

Quyết định 298/CP[3] ngày 19 tháng 9 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ đổi tên huyện Tân Châu thành huyện Vàm Cỏ.

Ngày 14 tháng 1 năm 1983, chuyển 2 xã An Vĩnh Ngãi và Bình Tâm về thị xã Tân An quản lý.

Quyết định 36/HĐBT[4] ngày 4 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng chia huyện Vàm Cỏ trở lại 2 huyện cũ.

Quyết định số 549-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 31 tháng 8 năm 1992 chia xã Dương Xuân Hội thành hai đơn vị hành chính lấy tên là xã Dương Xuân Hội và thị trấn Tầm Vu.

Từ đó, huyện Châu Thành có 1 thị trấn và 12 xã như hiện nay.

Điều kiện tự nhiênSửa đổi

Khí hậuSửa đổi

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân từ 1.350 - 1.800 mm/ năm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình của năm là 27 °C. Số giờ nắng vào khoảng 2.350 - 2.500 giờ/năm. Bình quân 6 - 7 giờ/ngày. Độ ẩm trung bình từ 87% - 89%. Tốc độ gió trung bình 2,8 m/s, lớn nhất 3,8 m/s.

Huyện Châu Thành nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long nên có ưu thế về nhiệt độ, tổng tích ôn gần 3.000 °C, ánh sáng trên 800 giờ nắng/năm, lại ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt nên thuận lợi trong việc đa dạng hoá cây trồng, thâm canh tăng vụ.

Thuỷ vănSửa đổi

Các kênh Hòa Phú, rạch Bà Lý, kênh Chiến Lược, kênh 30/4, sông Vĩnh Công tiếp nhận nước ngọt từ hệ thống rạch Bảo Định và kênh Chợ Gạo, chất lượng nước khá tốt nhưng lưu lượng bị hạn chế.

Châu Thành cũng như các huyện phía nam của tỉnh ít chịu ảnh hưởng của mùa lũ, vào những tháng mưa tập trung (tháng 10, 11) gặp triều cường thì lũ lụt mới xảy ra, thời gian ngắn và mức độ ảnh hưởng không lớn, các xã ven sông như Thanh Phú Long, Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông nền địa hình thấp (từ 0,5 - 0,8m, hệ Hòn Dấu) nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của triều cường trong mùa lũ, các xã có nền địa hình cao như Hòa Phú, Vĩnh Công (từ 1,0 - 1,4 m, hệ Hòn Dấu) ít bị ảnh hưởng. Đặc điểm địa hình của huyện Châu Thành là dốc thoai thoải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cao ở đầu nguồn nước ngọt và thấp ở cuối nguồn. Huyện Châu Thành đã có hệ thống đê bao nên đã ngăn được lũ. Ngập lũ cũng có tác dụng tích cực là đưa nhiều thuỷ sinh vật vào đồng ruộng, rửa mặn xổ phèn vào tạo phù sa cho đất. Vì vậy, dọc theo đê bao cần có cống điều tiết để kiểm soát mức ngập và thời gian ngập.

Nước mặn Biển Đông qua sông Soài Rạp - Vàm Cỏ dẫn sâu vào nội đồng theo 2 hướng chính là sông Vàm Cỏ Tây ở phía bắc và sông Tra ở phía nam. Do xu hướng mực nước biển dâng cao nên xâm nhập mặn cũng có xu hướng tăng nhanh về hàm lượng và thời gian nhiễm mặn. Do các huyện, thị xã phía Bắc vùng Đồng Tháp Mười như thị xã Kiến Tường, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thạnh Hoá sử dụng nguồn nước ngọt ngày càng tăng nên độ nhiễm mặn có xu hướng ngày càng tăng.

  • Sông Vàm Cỏ Tây: nước sông bị xâm nhập mặn từ tháng 1 đến tháng 2, hàm lượng mặn 2g/l, từ tháng 3 đến tháng 5, hàm lượng mặn 4 g/l.
  • Sông Vàm Cỏsông Tra gần Biển hơn nên độ nhiễm mặn cũng cao hơn, khoảng 4g/l, thời gian nhiễm mặn kéo dài 6 - 7 tháng/năm.

Huyện Châu Thành đã có hệ thống cống ngăn mặn và điều tiết nước, cần tiếp tục nạo vét kênh, rạch dẫn nước ngọt, bố trí cơ cấu cây trồng, mùa vụ hợp lý để né mặn.

Địa hình - địa chấtSửa đổi

Các xã vùng Thượng có địa hình cao như Long Trì, An Lục Long, Hiệp Thạnh, Vĩnh Công, Hòa Phú... nền mặt ruộng cao từ 1,0 - 1,4m. Các xã vùng Hạ như Thanh Vĩnh Đông, Thuận Mỹ, Phú Ngãi Trị, Phước Tân Hưng, Bình Quới... nền mặt ruộng từ 0,5 - 0,8m, riêng xã Thuận Mỹ có gò cao nằm ở bến đò Thuận Mỹ - Cần Đước, đỉnh gò cao 2,2m.

Cao độ trung bình toàn Huyện từ 0,8 - 1,2m, cao ở phía đầu nguồn nước ngọt, thấp cuối nguồn, thuận lợi cho công việc dẫn nước ngọt vào đồng ruộng nhưng thấp về cuối sông nên nước mặn cũng dễ xâm nhập.

Huyện Châu Thành có 4 nhóm đất:

  • Đất phù sa: diện tích 7.958 ha, chiếm tỷ lệ 53,4%, bao gồm đất phù sa sông Vàm Cỏ có tầng loang lỗ đỏ vàng (chiếm 21%, diện tích 1.650 ha) và đất phù sa sông Cửu Long có tầng loang lỗ đỏ vàng (chiếm 79%, diện tích 6.308 ha). Phân bố khá tập trung ở các xã Hòa Phú, Vĩnh Công, Hiệp Thạnh, Dương Xuân Hội, Long Trì, An Lục Long và thị trấn Tầm Vu. Đất phù sa có độ pHH20 = 4,5 - 5,5, mùn tầng mặt từ khá đến giàu đạm tổng số từ 0,14 - 0,22, nhiều dinh dưỡng nên canh tác lúa được 2 - 3 vụ/năm.
  • Đất mặn: chiếm tỷ lệ 8,09%, diện tích 1.218 ha, bao gồm nhóm đất ít mặn 276 ha (chiếm 23%) và nhóm đất mặn 942 ha (chiếm 77%). Phân bố ở các xã ven sông như Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông, một phần Thanh Vĩnh Long và rãi rác ngoài đê của các xã Bình Qưới, Phú Ngãi Trị. Đất mặn thích hợp với nuôi trồng thủy sản hơn là canh tác lúa.
  • Đất phèn: chiếm tỷ lệ 9,16%, diện tích 1.378 ha. Phân bố ở các xã ven sông Vàm CỏVàm Cỏ Tây, xa nguồn nước ngọt nên trồng trọt gặp nhiều khó khăn, muốn canh tác lúa 2 - 3 vụ cần có hệ thống thủy nông hoàn chỉnh, tháu chua rửa phèn, kết hợp với việc sử dụng giống, phân bón, bố trí mùa vụ hợp lý và kỹ thuật canh tác tốt.
  • Đất líp (đất xáo trộn): Chiếm tỷ lệ 24,92%, diện tích 3.7514 ha. Phân bố hầu như khắp các xã. Đất líp hiện dùng làm đất ở, xây dựng cơ bản, trồng cây lâu năm, cây ăn quả, chủ yếu là cây thanh long, dừa, mãng cầu.

Dân số và nguồn nhân lựcSửa đổi

Dân số trung bình huyện Châu Thành đến năm 2000 là 99.077 người, bằng 7,48% dân số toàn Tỉnh, trong đó dân số đô thị là 6.345 người, chiếm 6,4% dân số huyện, mật độ dân số bình quân là 649 người/km² (tháng 4/1999). trong đó dân số phi nông nghiệp là 15.472 người chiếm 15,67% dân số huyện. Tỷ lệ sinh bình quân thời kỳ từ băn 1991 đến 2000 là 20,96%, tỷ lệ chết bình quân 5,35%, tốc độ tăng dân số bình quân 0,63%. Trong thời kỳ này có giảm cơ học do di dân Đồng Tháp Mười và lao động di chuyển lên Tp. Hồ Chí Minh.

Lao động trong độ tuổi (LĐTĐT) năm 2000 là 50.939 người, chiếm 51,41% dân số huyện. Trong đó lao động đô thị là 3.244 người, chiếm 6,39% LĐTĐT Huyện. Lao động trong khu vực I là 36.991 người chiếm 71,58%, khu vực II 1.769 người chiếm 3,47%, khu vực III 1.208 người chiếm 2,37%, số còn lại chưa tham gia lao động.

Lao động qua đào tạo là 2.701 người, chiếm 5,3% LĐTĐT. Trong đó công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ qua đào tạo 695 người, chiếm 1,36%; trung học chuyên nghiệp có 1.115 người chiếm 2,19%; cao đẳng có 527 người chiếm 1,03%; đại học có 363 người chiếm 0,71%; trên đại học có một người chiếm 0,02%. Tổng lao động qua đào tạo là 2.701 người, chiếm 5,30%. Trong tương lai cần thiết đẩy nhanh hơn nữa tốc độ đào tạo lao động để lao động qua đào tạo đạt từ 12% - 15% LĐTĐT, chú ý đến hướng nghiệp vào các khu công nghiệp để đối tượng chưa tham gia lao động có cơ hội tham gia lao động.

Đặc điểm kinh tếSửa đổi

Với đặc điểm về địa hình, tài nguyên nước và hiện trạng phát triển kinh tế xã hội có thể phác họa ra 3 Tiểu vùng với những nét đặc trưng có khác nhau:

Hiện trạng phần lớn diện tích đất trồng lúa 3 vụ: Đông - Xuân, - ThuThu - Đông, một ít diện tích trồng lúa 1 vụ. Có nhiều vườn cây ăn quả các loại. Đang được ngọt hóa, từng bước ngăn mặn hoàn toàn. Có một số cơ sở chế biến, CNTTCN bước đầu phát triển. Hệ thống tuyến giao thông nền hạ khá tốt. Chăn nuôi phát triển, nhất là gà công công nghiệp.

  • Tiểu vùng II: Phạm vi thuộc các xã Long Trì, Dương Xuân Hội, An Lục Long, một phần Thanh Phú Long và thị trấn Tầm Vu. Diện tích 4.449,2 ha, chiếm tỷ lệ 29,55% tổng diện tích, toàn bộ là đất phù sa sông Cửu Long, địa hình cao, bằng phẳng, đã được ngọt hóa từ hệ thống rạch Bà Lý 1, rạch Ông Đăng, kênh Chiến Lược, kênh Cầu Đôi, kênh 30/4...., hầu hết diện tích không nhiễm mặn. Hiện trạng phần lớn diện tích đất trồng lúa 3 vụ: Đông - Xuân, - ThuThu - Đông, một ít diện tích trồng lúa 1 vụ. Có nhiều vườn cây ăn quả các loại và cây Thanh long. Người dân có kinh nghiệm trồng lúa cao sản. Có một số cơ sở chế biến, CNTTCN bước đầu phát triển. Hệ thống tuyến giao thông nền hạ khá tốt. Chăn nuôi phát triển, nhất là chăn nuôi bò thịt.
  • Tiểu vùng III: Phạm vi thuộc các xã Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông và một phần xã Thanh Phú Long. Diện tích 4.191,9 ha, chiếm tỷ lệ 27,83% tổng diện tích, đất kém màu, địa hình thấp, thường bị ngập úng và xâm nhập mặn. Hiện trạng phần lớn diện tích đất trồng lúa 2 vụ: ThuThu - Đông, một ít diện tích trồng 1 vụ. Có một ít vườn Mãng cầu, Dứa. Thích hợp nuôi tôm, cá nên vuông nuôi tôm, ao nuôi cá bước đầu phát triển. Hệ thống tuyến giao thông thấp kém.

Giao thôngSửa đổi

Huyện Châu Thành có giao thông thủy, giao thông bộ nên thuận lợi trong việc tiêu thụ nông sản phẩm, tiếp thu khoa học công nghệ để sớm phát triển nền nông nghiệp kỹ thuật cao, phát triển công nghiệp chế biến, phát triển thương mại - dịch vụ và đầu mối thu mua hàng nông sản. Đường tỉnh 827, QL50B (Đường Cần Đước - Chợ Gạo), QL62B sẽ là trục giao thông đối ngoại chính của Huyện nối liền các vùng kinh tế với nhau.

Các tuyến đường chính của huyệnSửa đổi

Quốc lộ (QL)

  • Trục hạ tầng giao thông đô thị liên kết TPHCM - LA - TG
  • Đường Cần Đước - Chợ Gạo (QL50B)
  • QL62B
  • Đường tránh Tầm Vu

Đường tỉnh (ĐT)

Đường huyện (ĐH)

Đường trục xã

  • Đường Tham Nhiên - Cầu Đôi
  • Đường Lộ Dừa
  • Đường 30-4
  • Đường Chiến Lược
  • Đường An Thạnh
  • Đương An Khương Thới
  • Đường liên ấp 2 - ấp 5
  • Đường cặp kênh T1
  • Đường cặp kênh T2

Đường khác

  • Đường Vành đai Tầm Vu
  • Đường vào mộ ông Trần Văn Giàu
  • Đường Dương Thị Hoa
  • Đường Cao Văn Lầu
  • Đường Phan Văn Đạt
  • Đường vào UBND xã Thuận Mỹ
  • Đường Vĩnh Xuân
  • Đường Hồi Xuân
  • Đường Phú Thạnh
  • Đường cầu Ông Cưỡng
  • Đường cầu Lò Muối

Văn hóaSửa đổi

Đặc sảnSửa đổi

Kinh tế chính của huyện Châu Thành nông nghiệp. Một ít cư dân sống bằng nghề chài lưới và chăn nuôi vịt thả đồng. Châu Thành là nơi sản xuất nhiều giống lúa đặc sản như: Tài nguyên, Nàng Thơm, nếp ngắn ngày, v.v... với năng suất cao, khoảng 7-8 tấn/ha. Một số đặc sản khác của huyện Châu Thành là dưa hấu ở xã Long Trì và thanh long. Thanh long Châu Thành trái không to như thanh long Phan Thiết, nhưng có vị ngọt hơn và đậm đà hơn.

Lễ hộiSửa đổi

 
Lễ hội làm chay - trấn Tầm Vu

Hàng năm Châu Thành có làm Lễ hội làm chay hay còn gọi là lễ hội rước Ông Tiêu diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch. Tục truyền xưa kia dân làng Hiệp ThạnhDương Xuân Hội thường hay bị thiên tai, mất mùa. Các bô lão ở thị trấn Tầm Vu đã làm những bài vị cúng những vị thần làng để cầu an. Trong lễ hội này, người Tầm Vu dựng một Ông Tiêu cao to trên ngôi đình và làm thuyền rồng dưới sông. Một số trò chơi dân gian diễn ra vào dịp này như đập nồi, kéo co, lội bắt vịt trên sông. Những trò chơi này tăng thêm niềm vui cho ngày lễ hội.

Danh nhânSửa đổi

Châu Thành là quê hương của nghệ sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu), người đã sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản vọng cổ. Nghệ sĩ Cao Văn Lầu sinh năm 1892, tại làng Thuận Lễ, tổng Cửu Cư Hạ, nay là xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông mất ngày 13/08/1976 (âm lịch) tại thị xã Bạc Liêu. Ngoài ra Châu Thành cũng là quê hương của giáo sư Trần Văn Giàu, của cụ Nguyễn Thông.

Châu Thành cũng là quê hương của cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Trần Thiện Khiêm. Hiện giờ Châu thành cũng là quê hương của cầu thủ Phan Văn Tài Em mà khán giả hâm mộ bóng đá Việt Nam đều biết đến.

Các công trình chínhSửa đổi

Thương mạiSửa đổi

  1. Chợ Hoà Phú
  2. Chợ Kỳ Son
  3. Chợ Vĩnh Công
  4. Chợ Năm Bắc
  5. Chợ Tầm Vu
  6. Chợ Cầu Đồn
  7. Chợ Cầu Vuông
  8. Chợ Thanh Phú Long
  9. Chợ Thuận Mỹ

Trường họcSửa đổi

Trường Mầm non/Mẫu giáo

  1. Mầm non Bình Quới
  2. Mầm non Thị trấn Tầm Vu
  3. Mầm non tư thục Minh Hằng (Tầm Vu)
  4. Mẫu giáo Hồ Văn Ngà (Hoà Phú)
  5. Mẫu giáo Phú Ngãi Trị
  6. Mẫu giáo Vĩnh Công
  7. Mẫu giáo Hiệp Thạnh
  8. Mẫu giáo Long Trì
  9. Mẫu giáo Dương Xuân Hội
  10. Mẫu giáo An Lục Long
  11. Mẫu giáo Phước Tân Hưng
  12. Mẫu giáo Thanh Phú Long
  13. Mẫu giáo Thuận Mỹ
  14. Mẫu giáo Thanh Vĩnh Đông

Trường Tiểu học (TH)

  1. TH Đặng Thành Công (Hoà Phú)
  2. TH Trần Văn Ngạn (Phú Ngãi Trị)
  3. TH Vĩnh Công
  4. TH Nguyễn Văn Thăng (Bình Quới)
  5. TH Hiệp Thạnh
  6. TH Long Trì
  7. TH Dương Xuân Hội
  8. TH Tầm Vu
  9. TH An Lục Long
  10. TH Lê Văn Khuê (Phước Tân Hưng)
  11. TH Thanh Phú Long
  12. TH Thuận Mỹ
  13. TH Thanh Vĩnh Đông

Trường Trung học cơ sở (THCS)

  1. THCS Vĩnh Công
  2. THCS Nguyễn Văn Thăng (Bình Quới)
  3. THCS Long Trì
  4. THCS Tầm Vu
  5. THCS An Lục Long
  6. THCS Thanh Phú Long
  7. THCS Thuận Mỹ
  8. THCS Thanh Vĩnh Đông

Trường Trung học phổ thông (THPT)/Trung tâm GDTX - GDNN

  1. THPT Nguyễn Thông (Tầm Vu)
  2. THPT Phan Văn Đạt (Thuận Mỹ)
  3. Trung tâm GDTX - GDNN huyện Châu Thành (Tầm Vu)

Văn hoá - Xã hộiSửa đổi

Chú thíchSửa đổi