Cổng tri thức Toán học

Toán học là môn khoa học nghiên cứu về các số, cấu trúc, không gian và các phép biến đổi. Nói một cách khác, người ta cho rằng đó là môn học về "hìnhsố". Theo quan điểm chính thống, nó là môn học nghiên cứu về các cấu trúc trừu tượng định nghĩa từ các tiên đề, bằng cách sử dụng luận lý học (lôgic) và ký hiệu toán học. Các quan điểm khác của nó được miêu tả trong triết học toán. Do khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều khoa học, toán học được mệnh danh là "ngôn ngữ của vũ trụ".

Hiện có khoảng 31.444 bài toán trên Wikipedia.

Pi pie2.jpg

Số π là một hằng số toán học có giá trị bằng tỷ số chu vi đường tròn chia cho đường kính của đường tròn đó. Hằng số này xấp xỉ bằng 3,14159, còn được viết là pi và được biểu diễn bằng chữ cái Hy Lạp π từ giữa thế kỉ 18. π là một số vô tỉ, nghĩa là không thể biểu diễn chính xác nó thành tỉ số của hai số nguyên (chẳng hạn như 22/7 hay các phân số khác thường dùng để xấp xỉ π); do đó, biểu diễn thập phân của nó không bao giờ kết thúc và không bao giờ tuần hoàn. Hơn nữa, π còn là một số siêu việt - tức là một số không phải là nghiệm của bất kì đa thức khác không với hệ số hữu tỉ nào. Tính siêu việt của π ngụ ý rằng không thể nào giải đáp được thách thức có từ thời cổ về cầu phương hình tròn chỉ với compa và thước kẻ. Các con số trong biểu diễn thập phân của π dường như xuất hiện theo một thứ tự ngẫu nhiên, mặc dù người ta chưa tìm được bằng chứng nào cho tính ngẫu nhiên này. Trong hàng ngàn năm, các nhà toán học đã nỗ lực mở rộng hiểu biết của con người về số π, đôi khi bằng việc tính toán giá trị của nó với độ chính xác ngày càng cao. Trước thế kỉ 15, các nhà toán học như ArchimedesLưu Huy đã sử dụng các kĩ thuật hình học, dựa trên các đa giác, để đánh giá giá trị của π. Bắt đầu từ thế kỉ 15, những thuật toán mới dựa trên chuỗi vô hạn đã cách mạng hóa việc tính toán số π, và được những nhà toán học bao gồm Madhava của Sangamagrama, Isaac Newton, Leonhard Euler, Carl Friedrich Gauss, và Srinivasa Ramanujan sử dụng. (xem tiếp…)

Georg Cantor

Georg Ferdinand Ludwig Philipp Cantor (1845 - 1918) là một nhà toán học người Đức, được biết đến nhiều nhất với tư cách cha đẻ của lý thuyết tập hợp, một lý thuyết đã trở thành lý thuyết nền tảng trong toán học. Cantor đã cho thấy tầm quan trọng của quan hệ song ánh giữa các phần tử của hai tập hợp, định nghĩa các tập vô hạn và các tập sắp tốt, và chứng minh rằng các số thực là "đông đúc" hơn các số tự nhiên. Trên thực tế, phương pháp chứng minh định lý này của Cantor ngụ ý sự tồn tại "vô hạn các tập vô hạn". Ông định nghĩa bản số và số thứ tự và phép tính về chúng. Sự nghiệp toán học vĩ đại của ông nhận được sự quan tâm lớn về mặt triết học, nhờ đó khiến ông càng được biết đến nhiều hơn. Lý thuyết của Cantor về số siêu hạn ban đầu bị xem là phản trực giác -thậm chí gây sốc- tới mức nó vấp phải sự chống đối của những nhà toán học lừng lẫy đương thời như Leopold KroneckerHenri Poincaré, trong khi Ludwig Wittgenstein đưa ra những phản đối về triết học. Sự chỉ trích khắc nghiệt cũng đi cùng với sự tôn vinh đối với Cantor. Năm 1904, Hội Hoàng gia Luân Đôn trao tặng cho Cantor Huy chương Sylvester, danh dự cao nhất của Hội dành cho toán học. Có người cho rằng Cantor tin rằng lý thuyết về số siêu hạn của ông là được Chúa mặc khải. David Hilbert đã lên tiếng bảo vệ với lời tuyên bố nổi tiếng: "Không ai đuổi được chúng ta khỏi Thiên giới mà Cantor đã sáng tạo nên". (xem tiếp…)

Dãy vô hạn các chữ số 9
Karen Uhlenbeck

Ngày này năm xưa

Cuộc đổ xô đi tìm vàng ở California

24 tháng 1: Ngày Thống nhất tại Romania (1859).


Độ phân giải tối đa: 4.313 điểm ảnh
Đường cong Bézier (đường cong tham số trong đồ họa máy tính và các lĩnh vực có liên quan, do Pierre Bézier công bố năm 1962) bậc bốn được xây dựng bằng cách sử dụng các điểm kiểm soát P0 đến P4
. Các đoạn đường màu xanh lá cây nối các điểm di chuyển với tốc độ không đổi từ một điểm kiểm soát sang điểm tiếp theo; các tham số tcho thấy sự tiến bộ theo thời gian. Trong khi đó, các đoạn đường xanh lam nối các điểm di chuyển theo cách tương tự dọc theo các đoạn xanh lá cây và các đoạn đường đỏ tươi dọc theo các đoạn xanh lam. Cuối cùng, điểm đen di chuyển với tốc độ không đổi dọc theo đoạn đường màu đỏ tươi, vạch ra đường cong cuối cùng màu đỏ. Đường cong là một hàm bậc bốn của tham số của nó. Các đường cong Bézier bậc haibậc ba là phổ biến nhất vì các đường cong bậc cao thường tốn kém hơn về mặt tính toán để đánh giá.