Chủ nghĩa Mật nghị

Chủ nghĩa Mật nghị hay viết đầy đủ hơn là Chủ nghĩa Mật nghị Hồng y là một yêu cầu bầu chọn tân giáo hoàng bằng một nhóm nhỏ các tín hữu có các hoạt động tương tự và tương trưng như một Hồng y đoàn. Hành động này thường đi kèm với các tuyên bố được gọi là sedevacantism, một thuyết cho rằng ngai tòa giáo hoàng hiện tại thực tế đang bị trống vì chủ sở hữu của nó, giáo hoàng hiện tại là một kẻ dị giáo và do đó không phải là giáo hoàng đích thực, do đó các tín hữu còn sót lại của Giáo hội Công giáo có quyền bầu cử một giáo hoàng đích thực.[1]

Thuật ngữ này bắt nguồn từ từ "conclave", có nghĩa là Mật nghị Hồng y, là một thuật ngữ miêu tả cuộc họp kín của Hồng y đoàn, được triệu tập để bầu một giám mục của Rôma, khi nơi đây đang trống tòa, nhưng những người ủng hộ thuyết sedevacantism lại quyết định áp dụng cho nhóm này chọn một Giáo hoàng khác.

Một hiện tượng tương tự nhưng rõ ràng là của những người được gọi là "các nhà thần bí", những người đặt nền móng cho các yêu sách của họ đối với vị trí giáo hoàng dựa trên những mặc khải cá nhân hay những phát kiến tâm linh.

Khởi nguồnSửa đổi

Hiện tượng sedevacantism đã bắt đầu vào cuối những năm 1960 và thập niên 1970, tức là những năm sau Công đồng Vatican II. Vào giữa thập niên 1970, linh mục tiên phong tin theo thuyết Sedevacantist là Joaquín Sáenz y Arriaga người Mexico, chủ trương tổ chức cuộc họp bầu cử tân giáo hoàng, và một số người theo đạo Công giáo truyền thống đã thảo luận về ý tưởng này trong những năm tiếp theo.[2] Tuy nhiên, chủ nghĩa mật nghị thực tế đã trở thành một phong trào thực sự trong thập niên 1990.

Người đầu tiên tuyên bố (năm 1978) rằng đã được bầu làm Giáo hoàng theo cách này là một người Croatia có tên là Mirko Fabris, một diễn viên hài nổi tiếng, người đã quyết định sử dụng một cái tên khôi hài là "Krav", một từ được nam tính hoá từ từ mang dáng vóc nữ tính krava, có nghĩa "bò" và ông tự gọi mình là Giáo hoàng Krav I.[3]

Có cái nhìn nghiêm túc hơn là tuyên bố của David Bawden, người cuối thập niên 1980 đã quảng bá ý tưởng về một cuộc bầu cử tân giáo hoàng và cuối cùng đã gửi hơn 200 bản sao của cuốn sách của ông cho các biên tập viên của tất cả các ấn phẩm theo thuyết sedevacantist mà ông ta có thể tìm thấy và tất cả các linh mục được liệt kê trong một thư mục của các nhà truyền thống như những người theo chủ nghĩa sedevacantists. Tuy vậy, sau đó ông được bầu chọn bởi một nhóm gồm sáu người bao gồm cả chính mình và cha mẹ của ông, và lấy tên là Giáo hoàng Micael (Pope Michael).[4]

Các giáo hoàng được chọn bởi chủ nghĩa Mật nghịSửa đổi

  • Giáo hoàng Krav I: Mirko Fabris, được bầu năm 1978 tại Zagreb, Croatia, qua đời vào năm 2012.[2]
  • Giáo hoàng Michael (1990). Vào năm 1990, Teresa Stanfill-Benns và David Bawden của Kansas ở Mỹ đã kêu gọi tổ chức một cuộc bầu cử để bầu một giáo hoàng. Họ công khai yêu cầu của họ trên khắp thế giới, nhưng chỉ có sáu người tham gia trong cuộc bầu cử. Vào ngày 16 tháng 7 năm 1990, sáu người tập trung tại Belvue, Kansas, và bầu Bawden, người chọn danh hiệu Giáo hoàng Michael.[2][5]
  • Giáo hoàng Linô II (1994). Một mật nghị, lần này được tổ chức tại Assisi, Ý, bầu chọn một cựu chủng sinh của Hội Thánh Piô X Victor von Pentz, một người Nam Phi và ông đã chọn cho mình danh hiệu Giáo hoàng Linô II vào năm 1994. Linô sau đó đến trú ngụ tại Hertfordshire, Anh.[2][6][7]
  • Giáo hoàng Piô XIII (1998-2009). Tháng 10 năm 1998, "Giáo hội Công giáo Đích thực Hoa Kỳ" đã bầu chọn linh mục Lucian Pulvermacher và ông lấy danh hiệu là Giáo hoàng Piô XIII. Ông qua đời ngày 30 tháng 11 năm 2009 và không có người kế nhiệm nào được bầu chọn.[2][7]
  • Giáo hoàng Lêô XIV (2006-2007). Vào ngày 24 tháng 3 năm 2006, một nhóm 34 giám mục du mục không được thừa nhận rộng rãi hoặc không có địa phận quản nhiệm đã họp nhau Oscar Michaelliênê của Argentina trở thành Giáo hoàng và ông này lấy tông hiệu là Lêô XIV. Sau cái chết của ông vào ngày 14 tháng 2 năm 2007, Juan Bautista Bonetti kế vị và chọn tông hiệu Giáo hoàng Innocentê XIV, nhưng sau đó lại nhanh chóng từ chức vào ngày 29 tháng 5 năm 2007. Alejandro Tomás Greico sau đó được chọn và quyết định chọn tông hiệu Giáo hoàng Alexander IX.[2][7]
  • Giáo hoàng Boniface Atticus I (2016). Một mật nghị được tổ chức nằm ở vùng nông thôn Minnesota đã quyết định tự chọn giáo hoàng của mình để giải quyết các vấn đề mà họ cho là không thể hòa hợp với Giáo hội Công giáo. Trong mô hình "Giáo hội Công giáo Đích thực", một giáo hoàng đã được chọn để mở ra một kỷ nguyên mới của "Công giáo Thánh Kinh" truyền thống (hay "Hội đoàn Công giáo Toàn vẹn") được coi là đã bị tước bỏ khỏi Giáo hội Công giáo Rôma trong các sự kiện trong và sau Công Đồng Vatican II.

Các giáo hoàng "linh ứng"Sửa đổi

Về mặt kỹ thuật, khác với những người yêu cầu hoà giải là những "vị giáo hoàng" (đôi khi được gọi là "các nhà thần bí"), những tuyên bố chủ quyền của giáo hoàng bắt nguồn từ những ơn truyền thiêng liêng. Trong những trường hợp này, không có tiến trình mật nghị.

Việc linh ứng thiêng liêng được cho là cơ sở cho lời tuyên bố của Michel Collin (1905-1974) trước Công đồng Vatican II (1950) cho chức vụ giáo hoàng và trở thành Giáo hoàng Clementê XV.[8][9] Giáo phái Collin tồn tại, chia thành các phe phái khác nhau, cho đến ngày nay.

Danh sáchSửa đổi

Như có thể thấy, một số giáo hoàng tự cho là được linh ứng làm Giáo hoàng quyết định lấy tông hiệu là Giáo hoàng Phêrô II, một cái tên có những ý nghĩa khôn ngoan với quan điểm "lời tiên tri của Thánh Malachy".

Danh sách các "giáo hoàng" tự xưng là do linh ứng từ ơn trên chọn làm Giáo hoàng:[10]

  • Các nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo Palmarian: Clemente Domínguez y Gómez (Giáo hoàng Gregory XVII, 1978-2005), Manuel Alonso Corral (Giáo hoàng Peter II, 2005-2011), Sergio Maria (Giáo hoàng Gregory XVIII, 2011-2016) và Joseph Odermatt (Giáo hoàng Phêrô III, từ năm 2016). Nhóm của họ là nhóm đầu tiên chọn và công bố giáo hoàng của mình cách công khai sau Công đồng Vatican II.
  • Giáo hoàng Emmanuel, Gino Frediani (1913-1984), người Italia, linh mục thuộc Gavinana, người đã khẳng định tuyên bố của mình vào năm 1973.
  • Giáo hoàng Phêrô II, Chester Olszewski của Pennsylvania, một cựu linh mục thuộc Giáo hội Giám nhiệm, người đã khẳng định tuyên bố của ông vào năm 1977 hoặc 1980.
  • Giáo hoàng Gregory XIX, Reinaldus Michael Benjamins người Hoa Kỳ, đã khẳng định tuyên bố của mình vào năm 1983.
  • Giáo hoàng Adrian VII, được nhiều người Công giáo Hoa Kỳ biết đến là Francis Schuckardt của thành viên Dòng Nữ Vương Vô Nhiễm Maria, người đã khẳng định tuyên bố của mình vào năm 1984.
  • Giáo hoàng Phêrô II, Maurice Archieri, sống ở Paris hay Le Perreux, Pháp, người đưa ra lời tuyên bố vào năm 1995.
  • Giáo hoàng Phêrô Romanô II, tên khai sinh William KammCologne, Đức, một người phạm tội tình dục được kết án đang bị tù ở Úc. Kamm, người được biết đến với biệt danh "Pebble nhỏ", dường như không công bố mỉnh là giáo hoàng, nhưng tuyên bố mình là giáo hoàng kế tiếp.
  • Giáo hoàng Phêrô II, tên khai sinh Aime Baudet tại Brussels, Bỉ.
  • Giáo hoàng Phêrô II, tên khai sinh Julius Tischler, một người Đức và dường như ít được biết đến.
  • Giáo hoàng Phêrô-Athanasiô II, sống theo các nguồn khác nhau là ở Brussels hoặc Canada.
  • Giáo hoàng Lêô XIV, của Angoulême, Pháp.
  • Giáo hoàng Giuse I, của Lucerne, Thụy Sĩ.
  • Giáo hoàng Gregory XVII, tên khai sinh là Jean-Gaston Tremblay đến từ Hội đoàn các Tông đồ của Tình yêu Vô biên tại Quebec: người kế vị Giáo hoàng Clementê XV (Michel Collin).[11]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Donald J. Sanborn, "Explanation of the Thesis of Bishop Guérard de Lauriers", p. 8” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2018.
  2. ^ a ă â b c d George D. Chryssides, Historical Dictionary of New Religious Movements (Rowman & Littlefield 2011 978-0-81087967-6), p. 99
  3. ^ Mirko Fabris Krav
  4. ^ Fox, Robin (2011). The Tribal Imagination: Civilization and the Savage Mind. Harvard University Press. tr. 104. ISBN 9780674059016.
  5. ^ 10 Most Bizarre People on Earth
  6. ^ Claudio Rendina, La santa casta della Chiesa (Newton Compton Editori 2010 ISBN 978-8-85412683-1)
  7. ^ a ă â Pope Michael, 54 Years That Changed the Catholic Church (Christ the King Library 2011 ISBN 978-1-45649509-1), p. 140
  8. ^ Michael W. Cuneo: The Smoke of Satan: Conservative and Traditionalist Dissent in Contemporary American Catholicism (JHU Press, 1999 ISBN 978-0-8018-6265-6), pp. 121–134
  9. ^ "Pope Clement XV" Time magazine, (ngày 15 tháng 3 năm 1971)
  10. ^ Pope Michael or David Bawden Exposed
  11. ^ Curran, Peggy (ngày 9 tháng 1 năm 2012). “Death of 'Pope Gregory' could cause infamous Quebec cult to splinter”. Montreal Gazette. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2015.[liên kết hỏng]