Chelonoidis abingdonii

Chelonoidis abingdonii là một loài rùa trong họ Testudinidae. Loài này được Günther mô tả khoa học đầu tiên năm 1877.[2] Loài này thuộc đảo Pinta,Ecuador.

Chelonoidis abingdonii
Chelonoidis abingdonii 1896.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Reptilia
Bộ (ordo)Testudines
Phân bộ (subordo)Cryptodira
Họ (familia)Testudinidae
Chi (genus)Chelonoidis
Loài (species)C. abingdonii
Danh pháp hai phần
Chelonoidis abingdonii
Günther, 1877

Đến cuối thế kỉ 19,hầu hết những con rùa trên đảo Pinta đã bị săn bắt hết.Đến giữa thế kỉ 20,loài này được coi như là đã tuyệt chủng cho đén khi 1 con đực được tìm thấy ở đảo năm 1971.Người ta đặt tên cho nó là Lonesome George,và nỗ lực giao phối với các loài khác nhưng đều vô nghĩa.Lonesome George chết vào ngày 24/6/2012 và loài này được tin là đã thực sự tuyệt chủng sau cái chết của nó.Loài rùa đã được phân vào nhóm tuyệt chủng trong sách đỏ của IUCN

Phân loại và tiến hoáSửa đổi

Phân loạiSửa đổi

Lonesome George và các loài rùa cạn khác trên đảo Pinta,thuộc 1 chi gồm 21 loài.Những con rùa cạn khổng lồ cũng đã từng được tìm thấy trên hầu hết các lục địa ngoại trừ ÚcNam Cực.Rùa Galápagos vẫn là loài rùa lớn nhất còn sống.

Rùa cạn Pinta được mô tả khoa học năm 1877 bởi Albert Günther _nhà nghiên cứu cỏ dại người Anh nhưng được sinh ra ở Đức.Ông đã gọi tên nó là Testudo abingdonii trong cuốn sách của mình The Gigantic Land_tortoises(Living and Extinct) trong bộ sưu tập của bảo tàng Anh quốc.Cái tên "abingdonii " bắt nguồn từ Đảo Abingdon(được biết đến nhiều hơn với tên đảo Pinta).Người ta biết đến chúng qua lời tự thuật từ chuyến hành trình của thuyền trưởng James Colnett năm 1798 và Basil Hall năm 1822.Năm 1876,Trung tá hải quân William Cookson đã mang 3 mẫu vật đực(cùng với các loài rùa cạn Galápagos khác) đến London trên tàu Hải quân Hoàng gia Anh HMS Peterel.

Cùng nghĩa với Chelonoidis abingdonii gồm Testudo abingdonii (Günther,1877);Testudo elephantopus abingdonii(Mertens và Wermuth,1955),Geochelone elephantopus abingdonii (Pritchard,1967);Geochelone nigra abingdonii (Iverson,1992);và Geochelone abingdonii (Valverde,2004).

Tiến hoáSửa đổi

Nguồn gốc và tổ tiên của chúng vẫn chưa rõ ràng,chính điều này đã thu hút Charles Darwin.Kết quả DNA chỉ ra rằng 3loài có quan hệ gần nhất với loài Galápagos đều đến từ Nam MĨ.Chúng là rùa cạn chân vàng(Geochelone denticulata),rùa cạn chân đỏ(Geochelone carbonaria),và rùa cạn chaco(Geochelone chilenis).

Hành vi và vai tròSửa đổi

Trong tự nhiên,rùa Galápagos gồm những loài rùa cạn Pinta nghỉ ngơi khảng 16 tiếng 1 ngày.Rùa Galápagos là loài ăn cỏ,thức ăn chủ yếu là cỏ,lá cây,hoa quả tự nhiên và xương rồng.Chúng uống rất nhiều nước và dự trữ nước trong cơ thể một thời gian dài để dùng dần.Chúng có thể tồn tại 6 tháng mà không cần thức ăn và nước.

Loài rùa này hầu hết kiếm ăn vào mùa nóng (từ tháng 1 đến tháng 5).Trong suốt mùa lạnh(từ tháng 7 đến tháng 11),con rùa cái di cư vào vùng an toàn để đẻ trứng.

Rùa Galápagos khổng lồ đại diện cho loài ăn cỏ,vì vậy chúng định hình hệ sinh thái trên đảo.Chúng tạo ra sự đa dạng sinh thái trên đảo qua việc ăn cỏ và chu trình dinh dưỡng của chúng.Sự tuyệt chủng của rùa cạn Pinta đã làm giảm sự đa dạng sinh học của hòn đảo này.

Mối quan hệ với con ngườiSửa đổi

Mối đe doạ và sự bảo tồnSửa đổi

Sự suy giảm số lượng loài rùa Galápagos bắt đầu từ thế kỉ 17,là kết quả của việc săn bắt rùa làm thức ăn.Cướp biển và người săn cá voi bắt 200,000 con rùa cùng 1 lúc.

Năm 1958,dê được mang đến đảo Pinta và chúng bắt đầu ăn rất nhiều rau xanh,cỏ,là mối nguy hại cho môi trường sống tự nhiên.Những nỗ lực lâu dài để tiêu diệt dê bắt đầu.Khi mà số lượng dê giảm,cây cỏ mới được hồi sinh,những cây nhỏ bắt đầu nhú lên từ những mẩu cây còn lại sau khi bị ăn mất.Năm 2003,đảo Pinta đã được tuyên bố là không còn dê.

Ngoài việc nỗ lực giới hạn số lượng dê họ còn nỗ lực duy trì số lượng loài rùa cạn Galápagos bằng cách nuôi nhốt.

Lonesome GeorgeSửa đổi

Cá thể cuối cùng của loài là một con đực tên là Lonesome George,nó chết vào ngày 24/6/2012.Vào trước năm nó chết,nó đã được biết đến như là sinh vật hiếm nhất thế giới.George là một biểu tượng mạnh mẽ cho những nỗ lực bảo tồn ở Galápagos.

George lần đầu tiên được nhìn thấy ở đảo Pinta vào 1/12/1971 bởi nhà nghiên cứu bệnh ác tính người Hungari József Vágvolgui.Nó đã được chuyển đến khu bảo tồn Charles Darwin ở đảo Santa Cruz,George bị nhốt cùng với 2 con rùa cái khác loài.Mặc dù con cái có đẻ trứng nhưng trứng không nở và sau đó rùa Pinta đã được tuyên bố là tuyệt chủng.

Qua nhiều thập kỉ,tất cả những nỗ lực giao phối Lonesome George đều thất bại,có thể bởi vì loài rùa này không sinh sản chéo với loài khác.

24/6/2012,vào 8h giờ địa phương,Lonesome Gẻoge đã chết.Người ta nghi ngờ nguyên nhân cái chết là do suy tim,phù hợp với sự kết thúc vòng đời tự nhiên của 1 con rùa.

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Cayot LJ, Gibbs JP, Tapia W, Caccone, A (2016). “Chelonoidis abingdonii”. IUCN Red List of Threatened Species. 2016: e.T9017A65487433.
  2. ^ Chelonoidis abingdonii”. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2013.

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

  Phương tiện liên quan tới Chelonoidis abingdonii tại Wikimedia Commons