Chennai (tiếng Tamil: சென்னை Ceṉṉai [ˈt͡ɕenːaɪ̯]; phát âm tiếng Anh: /ˈɛn/ ), tên cũ là Madras,[b] là thủ phủ của bang Tamil Nadu tại miền nam Ấn Độ. Chennai lớn hơn rất nhiều các thành phố khác trong bang này, và nằm trên bờ biển Coromandel ven vịnh Bengal. Theo điều tra nhân khẩu Ấn Độ năm 2011, Chennai là thành phố đông dân thứ sáu, và nằm trong vùng kết tụ đô thị đông dân thứ tư tại Ấn Độ. Hội đồng Đại Chennai được hợp nhất vào năm 1866, là hội đồng thành phố lâu năm nhất tại Ấn Độ và lâu năm thứ hai trên thế giới sau London.

Chennai
சென்னை
Madras
—  Siêu đô thị  —
Tên hiệu: Cửa ngõ Nam Ấn Độ,[1] Detroit Ấn Độ,[2] Thủ đô y tế Ấn Độ[3]
Vị trí của Chennai
Chennai trên bản đồ Ấn Độ
Chennai
Chennai
Vị trí tại Ấn Độ
Quốc gia Ấn Độ
BangTamil Nadu
VùngCoromandel
HuyệnChennai[a]
Thành lập1639
Chính quyền
 • KiểuHội đồng thành phố
 • Thành phầnHội đồng Đại Chennai
Diện tích[4]
 • Siêu đô thị426 km2 (164 mi2)
 • Vùng đô thị[5][a]5.904 km2 (2,280 mi2)
Độ cao7 m (23 ft)
Dân số (2011)[6][7]
 • Siêu đô thị6.748.026
 • Thứ hạngthứ 6
 • Mật độ16,000/km2 (41,000/mi2)
 • Vùng đô thị8.696.010
 • Xếp hạng vùng đô thịthứ 4
Tên cư dânChennaiite
Ngôn ngữ
 • Bản địaTamil
Anh
 • Chính thức{{{tt2 nhân khẩu 1}}}
Múi giờIST (UTC+05:30)
600xxx
Mã điện thoại+91-44
Biển số xeTN-01 đến TN-14, TN-18, TN-22, TN-85
Thành phố kết nghĩaVolgograd, Trùng Khánh, San Antonio, Denver, Cát Long Pha, Ulsan, Chemnitz, Frankfurt am Main sửa dữ liệu
Trang webChennai Corporation
Lưu ý về dân số: Dân số theo điều tra dân số năm 2011 trước khi mở rộng thành phố là 4.646.732 trên diện tích 174 km².[7] Sau khi mở rộng thành phố lên 426 km²,[4] dân số trong địa phận mới của thành phố là 6.748.026.[8] Dữ liệu điều tra dân số năm 2011 về vùng tích tụ đô thị được cung cấp.[7]

Địa bàn thành phố từng là một phần của các vương quốc Chola, Pandya, PallavaVijayanagara trong lịch sử. Công ty Đông Ấn Anh mua một vùng đất ven biển bao gồm làng chài Madrasapattinam từ Nayak Chennapa Nayaka vào thế kỷ 17. Quân đồn trú của Anh thành lập thành phố và cảng Madras, công trình xây dựng đầu tiên của Anh tại Ấn Độ là Pháo đài St. George. Thành phố là thủ phủ mùa đông của tỉnh Madras trong thời kỳ Anh cai trị Ấn Độ. Sau khi Ấn Độ độc lập vào năm 1947, Madras tiếp tục là thành phố thủ phủ của bang Madras và sau là của bang Tamil Nadu. Thành phố chính thức được đổi tên thành Chennai vào năm 1996.

Thành phố đồng nhất với huyện Chennai, và cùng với các vùng ngoại ô liền kề tạo thành vùng đô thị Chennai,[c] là một trong các vùng đô thị lớn nhất của Ấn Độ. Chennai là nền kinh tế đô thị lớn thứ năm tại Ấn Độ, là cửa ngõ của miền nam Ấn Độ, và nằm trong số các thành phố đón nhiều du khách nhất Ấn Độ. Chennai thường xuyên nằm trong số các thành phố tốt nhất để sinh sống tại Ấn Độ, và là một trong những thành phố an toàn nhất tại Ấn Độ.

Chennai là trung tâm lớn về du lịch y tế và được mệnh danh là "thủ đô y tế Ấn Độ". Chennai chiếm một phần lớn trong ngành công nghiệp ô tô của Ấn Độ, và do đó được đặt tên là "Detroit Ấn Độ". Đây là một trung tâm sản xuất phim lớn và là trụ sở của ngành công nghiệp điện ảnh nói tiếng Tamil.

Từ nguyên sửa

Tên gọi Chennai bắt nguồn từ tên của Chennappa Nayaka, một vị Nayak là tướng quân dưới quyền Venkata Raya của Đế quốc Vijayanagara: Công ty Đông Ấn Anh giành được đô thị từ tay ông vào năm 1639.[10][11] Do vậy, tên gọi của thành phố có nguồn gốc từ tiếng Telugu.[12] Tên gọi Chennai được sử dụng chính thức lần đầu tiên vào tháng 8 năm 1639 trong một chứng thư bán cho Francis Day của Công ty Đông Ấn, trước khi đền Chennakesava Perumal được xây dựng vào năm 1646, nhưng một số học giả thì lập luận ngược lại.[10][13]

Tên gọi Madras có nguồn gốc bản địa, và được chứng minh là từng được sử dụng trước khi người Anh hiện diện tại Ấn Độ.[14] Một câu khắc có niên đại năm 1367 thời Vijayanagara được tìm thấy vào năm 2015, có đề cập đến cảng Mādarasanpattanam cùng với các cảng nhỏ khác trên bờ biển phía đông, và có giả thuyết rằng cảng được đề cập là cảng cá tại Royapuram.[15] Madras có thể bắt nguồn từ làng chài Madraspattinam ở phía bắc Pháo đài St George, nhưng không chắc liệu cái tên này có được sử dụng trước khi người châu Âu đến hay không.[16] Cũng có ý kiến cho rằng tên gọi có thể bắt nguồn từ cụm từ tiếng Bồ Đào Nha Mãe de Deus hoặc Madre de Dios, có nghĩa là "Mẹ Thiên Chúa", do ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha đối với thành phố cảng, đặc biệt là từ một nhà thờ Thánh Maria.[17]

Đến tháng 8 năm 1996, Chính phủ Tamil Nadu chính thức đổi tên gọi từ Madras sang Chennai.[18] Tên Madras thỉnh thoảng vẫn được sử dụng để chỉ thành phố hay trong các địa điểm hoặc sự vật được đặt theo tên cũ.[19]

Lịch sử sửa

Các công cụ thời đại đồ đá được tìm thấy gần Pallavaram thuộc Chennai. Theo Sở nghiên cứu khảo cổ học Ấn Độ (ASI), Pallavaram là một cơ sở văn hóa cự thạch, có các cộng đồng thời tiền sử cư trú trong khu định cư này.[20] Khu vực xung quanh Chennai là một trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế quan trọng trong nhiều thế kỷ. Trong thế kỷ 1, một nhà thơ Tamil tên là Thiruvalluvar sống tại thị trấn Mylapore lân cận Chennai ngày nay.[21] Đến thế kỷ 2 thì vùng này thuộc Tondaimandalam của Vương quốc Chola sơ khởi khi thế lực này khuất phục cư dân Kurumba sống trong vùng từ trước đó.[22] Vương triều Pallava từ Kanchi trở thành thế lực cai trị khu vực từ thế kỷ 3 đến thế kỷ 9, và các khu vực Mahabalipuram và Pallavaram được xây dựng vào thời Mahendravarman I trị vì.[23] Năm 879, Pallava thất bại trước quân Chola dưới quyền Aditya I. Năm 1264, Jatavarman Sundara Pandyan đưa khu vực vào lãnh địa của vương triều Pandya.[22] Khu vực chịu ảnh hưởng của Đế quốc Vijayanagara vào thế kỷ 15.[24][22]

 
Bản in thế kỷ 18 về Pháo đài St. George, đây là khu định cư lâu đời nhất của người Anh tại Ấn Độ

Người Bồ Đào Nha đến vào năm 1522, họ xây dựng một cảng có tên là São Tomé theo tên Tôma Tông đồ, người này được cho là từng thuyết pháp trong khu vực từ năm 52 đến năm 70. Năm 1612, người Hà Lan thiết lập hiện diện gần Pulicat, phía bắc Chennai[17] Vào ngày 20 tháng 8 năm 1639, Francis Day của Công ty Đông Ấn Anh cùng với Nayak của Kalahasti Chennappa Nayaka đến gặp Hoàng đế Vijayanagara Peda Venkata Raya tại Chandragiri, Công ty được cấp một vùng đất trên bờ biển Coromandel để xây dựng nhà máy và nhà kho phục vụ cho việc giao dịch.[25] Vào ngày 22 tháng 8, ông nhận được một dải đất dài khoảng 10 km (6 mi) và sâu vào nội lục 1,6 km (1 mi), số tiền phải trả hàng năm là 50 triệu pagoda.[26][27] Khu vực này từng là một làng chài có tên là "Madraspatnam".[17] Một năm sau, công ty xây dựng pháo đài St. George, đây là khu định cư lớn đầu tiên của người Anh tại Ấn Độ, và trở thành hạt nhân của thành phố thuộc địa đang phát triển này.[28][29]

 
Bản đồ Madras, k. 1914

Năm 1746, quân Pháp dưới quyền Thống đốc Mauritius La Bourdonnais tiến hành chiếm lĩnh pháo đài St. George và Madras, họ cướp bóc đô thị này và những làng vùng ven.[17] Người Anh giành lại quyền kiểm soát khu vực vào năm 1749 theo Hiệp ước Aix-la-Chapelle, họ củng cố tường thành của đô thị để đề phòng các cuộc tấn công từ người Pháp và Quốc vương Mysore Hyder Ali.[30] Người Anh chống lại một cuộc bao vây của Pháp vào năm 1759.[31] Năm 1769, Hyder Ali đe dọa thành phố trong Chiến tranh Anh-Mysore lần thứ nhất, Hiệp ước Madras đã chấm dứt cuộc xung đột.[32] Đến thế kỷ 18, người Anh đã chinh phục được hầu hết khu vực, lập ra tỉnh Madras (Madras Presidency) có thủ phủ là Madras.[33]

Thành phố trở thành một căn cứ hải quân lớn, và là trung tâm hành chính của người Anh tại Nam Ấn Độ.[34] Thành phố là có vai trò là đường gốc (baseline) trong kế hoạch Khảo sát lượng giác lớn của Ấn Độ, bắt đầu vào ngày 10 tháng 4 năm 1802.[35] Đến khi đường sắt xuất hiện tại Ấn Độ vào thế kỷ 19, Madras được nối với các thành phố khác như Bombay và Calcutta, giúp thúc đẩy liên lạc và giao thương với vùng nội địa.[36]

Sau khi Ấn Độ độc lập vào năm 1947, thành phố trở thành thủ phủ của bang Madras, tiền thân của bang Tamil Nadu hiện tại.[37] Thành phố là nơi Potti Sreeramulu tiến hành tuyệt thực đến chết, dẫn đến việc các bang của Ấn Độ được tái tổ chức dựa trên ranh giới ngôn ngữ vào năm 1956.[38]

Năm 1965, tại bang Tamil Nadu bùng phát cuộc khích động chống lại việc áp đặt tiếng Hindi, và ủng hộ tiếp tục sử dụng tiếng Anh làm phương tiện giao tiếp. Sự kiện này là một thay đổi lớn trong động lực chính trị của thành phố, và cuối cùng khiến tiếng Anh được giữ lại làm ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ cùng với tiếng Hindi.[39] Vào ngày 17 tháng 7 năm 1996, thành phố chính thức được đổi tên từ Madras thành Chennai, phù hợp với xu hướng toàn quốc là sử dụng các tên gọi ít có tính Anh hóa.[40] Vào ngày 26 tháng 12 năm 2004, một cơn sóng thần tấn công bờ biển Chennai, giết chết 206 người và khiến cho đường bờ biển thay đổi vĩnh viễn.[41] Lũ lụt Chennai 2015 nhấn chìm phần lớn thành phố, giết chết 269 người và gây thiệt hại về tài sản là 86,4 tỷ rupee.[42]

Môi trường sửa

Địa lý sửa

 
Hình ảnh vệ tinh Chennai

Chennai nằm trên bờ biển đông nam của Ấn Độ, thuộc miền đông bắc của bang Tamil Nadu. Thành phố nằm trên một đồng bằng ven biển bằng phẳng được gọi là Đồng bằng ven biển phía Đông, với độ cao trung bình là 6,7 m (22 ft) và điểm cao nhất là 60 m (200 ft).[43][44] Đất của Chennai chủ yếu là đất sét, đá phiến sétsa thạch.[45] Đất sét nằm bên dưới phần lớn diện tích thành phố, các vùng đất cát nằm dọc theo bờ sông và bờ biển, tại đó nước mưa chảy tràn bị thẩm thấu nhanh chóng qua đất. Một số khu vực tại Nam Chennai có bề mặt đá cứng.[46][47] Tính đến năm 2018, thành phố có độ che phủ xanh là 14,9%, các vùng nước ước tính chiếm khoảng 6% tổng diện tích và ít nhất 8% diện tích được phân loại là không gian mở.[48]

Hai sông lớn chảy qua Chennai là sông Cooum (hay Koovam) chảy qua trung tâm và sông Adyar ở phía nam. Kênh đào Buckingham nằm sâu 4 km (2,5 mi) trong nội lục và đi song song với bờ biển, nối liền hai sông trên. Sông Kosasthaliyar đi qua rìa phía bắc của thành phố và đổ vào vịnh Bengal tại Ennore.[49] Otteri Nullah là một dòng suối chảy theo hướng đông-tây đi qua phía bắc Chennai, và gặp kênh đào Buckingham tại cầu Basin.[50] Mực nước ngầm tại Chennai trung bình cách mặt đất 4–5 m, và chủ yếu được bổ sung từ nước mưa.[51] Trong số 24,87 km bờ biển của thành phố, có 3,08 km bị xói mòn, hiện tượng bồi tụ cát dọc theo bờ biển có thể nhận thấy tại bãi biển Marina và khu vực giữa cảng Ennoresông Kosasthalaiyar.[52]

Địa chất sửa

Chennai được phân loại là nằm trong vùng địa chấn III, cho thấy nguy cơ thiệt hại từ động đất ở mức trung bình.[53] Thành phố được cho là một địa điểm năng lượng địa nhiệt tiềm năng do đặc điểm vùng địa kiến tạo. Lớp vỏ có đá granit cũ có niên đại gần một tỷ năm, cho thấy từng có hoạt động núi lửa trong quá khứ, nhiệt độ dự kiến là từ 200 đến 300 °C ở độ sâu 4 đến 5 km.[54]

Khí hậu sửa

Chennai có khí hậu khô và ẩm nhiệt đới mùa hè khô, được phân loại là As trong phân loại khí hậu Köppen.[55] Thành phố nằm trên xích đạo nhiệt và cũng nằm trên bờ biển, giúp ngăn chặn nhiệt độ thay đổi lớn theo mùa.[55] Thời điểm nóng nhất trong năm là từ tháng 4 đến tháng 6 với nhiệt độ trung bình khoảng 35–40 °C (95–104 °F).[56] Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được là 45 °C (113 °F) vào ngày 31 tháng 5 năm 2003.[57] Thời gian lạnh nhất trong năm là vào tháng 12 – tháng 1, với nhiệt độ trung bình là 19–25 °C (66–77 °F), và nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được là 13,9 °C (57,0 °F) vào ngày 11 tháng 12 năm 1895 và ngày 29 tháng 1 năm 1905.[58]

Phần lớn lượng mưa tại Chennai đến từ gió mùa Đông Bắc trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12. Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng 120 cm (47 in).[59] Lượng mưa hàng năm cao nhất ghi nhận được là 257 cm (101 in) vào năm 2005.[60] Gió thịnh hành tại Chennai thường có hướng tây nam trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10, và có hướng đông bắc trong thời gian còn lại trong năm.[61] Thành phố dựa vào những cơn mưa gió mùa hàng năm để bổ sung cho các hồ chứa nước.[62] Lốc xoáy và áp thấp là đặc điểm phổ biến trong mùa gió mùa đông bắc.[63] Ngập nước và lũ lụt xảy ra tại các vùng trũng thấp trong mùa gió mùa đông bắc, từng xảy lũ lụt quy mô lớn vào năm 2015 và 2023.[64]


Dữ liệu khí hậu của Dữ liệu khí hậu cho Chennai (Nungambakkam), Lượng mưa trung bình (Sân bay Chennai) 1991–2020, cực độ 1901–2012
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 34.4 36.7 40.6 42.8 45.0 43.3 41.1 40.0 38.9 39.4 35.4 33.0 45,0
Trung bình cao °C (°F) 29.3 30.9 32.9 34.5 37.1 37.0 35.3 34.7 34.2 32.1 29.9 28.9 33,1
Trung bình ngày, °C (°F) 25.2 26.6 28.7 30.9 32.9 32.4 30.9 30.3 29.8 28.4 26.5 25.3 28,99
Trung bình thấp, °C (°F) 21.2 22.2 24.2 26.6 28.0 27.5 26.4 25.9 25.6 24.6 23.1 21.9 24,8
Thấp kỉ lục, °C (°F) 13.9 15.0 16.7 20.0 21.1 20.6 21.0 20.5 20.6 16.7 15.0 13.9 13,9
Lượng mưa, mm (inch) 20.0
(0.787)
4.7
(0.185)
3.4
(0.134)
17.5
(0.689)
49.7
(1.957)
75.4
(2.969)
113.1
(4.453)
141.4
(5.567)
143.9
(5.665)
278.3
(10.957)
377.3
(14.854)
183.7
(7.232)
1.408,4
(55,449)
Độ ẩm 67 66 67 70 68 63 65 66 71 76 76 71 69
Số ngày mưa TB 1.4 0.6 0.2 1.0 1.8 4.5 6.7 8.8 7.4 10.6 11.5 5.7 60,2
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 232.5 240.1 291.4 294.0 300.7 234.0 142.6 189.1 195.0 257.3 261.0 210.8 2.848,5
Số giờ nắng trung bình ngày 7.5 8.5 9.4 9.8 9.7 7.8 4.6 6.1 6.5 8.3 8.7 6.8 7,8
Nguồn #1: Cục Khí tượng Ấn Độ[65][66][67][68]
Nguồn #2: Japan Meteorological Agency[69] Weather Atlas[70]


Động thực vật sửa

 
Hồng hạc lớn trú đông tại Mudaliarkuppam

Một vùng cửa sông được bảo vệ tại Adyar là môi trường sống tự nhiên của một số loài chim, và động vật nói chung.[71] Chennai cũng là một thành phố nổi tiếng về chim, với hơn 130 loài chim được ghi nhận trong thành phố.[72] Các vùng đất ngập nước đầm lầy như Pallikaranai và các hồ cũng là nơi cư trú của một số loài chim di cư trong mùa gió mùa và mùa đông.[73] Loài vích có nguy cơ tuyệt chủng ưa chuộng đẻ trứng vào mỗi mùa đông trên dải bờ biển phía nam của Chennai, từ Thiruvanmiyur đến Neelankarai.[74] Vườn quốc gia Guindy là một khu vực được bảo vệ, và tại Công viên động vật học Arignar Anna có các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã.[75] Madras Crocodile Bank Trust là một trạm nghiên cứu bò sát học, nằm cách 40 km (25 mi) về phía nam của Chennai.[76] Diện tích có cây che phủ của thành phố ước tính là khoảng 64,06 kilômét vuông (24,73 dặm vuông Anh), với 121 loài thuộc 94 chi và 42 họ, các loài chính là lim xẹt, sồi Ấn Độsầu đâu.[77] Đường bờ biển và các vùng nước ven thành phố là nơi sinh sống của nhiều loài cá nước ngọt, nước mặn và sinh vật biển.[78][79]

Vấn đề môi trường sửa

 
Hồ Chitlapakkam tại phần phía nam của thành phố

Chennai có nhiều hồ trải rộng khắp thành phố, nhưng quá trình đô thị hóa khiến cho các vùng nước và vùng đất ngập nước bị thu hẹp.[80][81] Số lượng vùng đất ngập nước trong thành phố giảm từ 650 năm 1970 xuống còn 27 vào năm 2015.[82] Gần một nửa số loài thực vật bản địa trong các vùng đất ngập nước của thành phố đã biến mất, diện tích có thảm thực vật thủy sinh bao phủ chỉ còn lại 25% so với trước.[83] Sông Adyar và Cooum bị ô nhiễm nặng nề do nước thải và chất thải từ các nguồn sinh hoạt và thương mại.[84][85] Hành vi lấn chiếm các vùng đất ngập nước khi phát triển đô thị đã cản trở tính bền vững của các vùng nước, và là nguyên nhân gây ra lũ lụt vào năm 2015 và 2023, và khủng hoảng khan hiếm nước vào năm 2019.[86][87]

Quỹ Khôi phục sông Chennai do chính phủ Tamil Nadu thành lập từng tiến hành khôi phục sông Adyar.[88] Tổ chức Bảo vệ môi trường Ấn Độ (E.F.I) là một nhóm tình nguyện hoạt động nhằm bảo tồn động vật hoang dã và phục hồi môi trường sống.[89][90]

Nhân khẩu sửa

Một cư dân của Chennai được gọi là Chennaite trong tiếng Anh.[98][99] Theo điều tra năm 2011, thành phố có dân số 4.646.732 người, trên diện tích 174 kilômét vuông (67 dặm vuông Anh).[100] Sau khi mở rộng thành phố lên 426 km2, dân số trong địa giới mới của thành phố theo điều tra dân số năm 2011 là 6.748.026 người, và Hội đồng Thành phố Chennai được đổi tên thành Hội đồng Đại Chennai.[8][4][101] Tính đến năm 2019, 712.000 (40%) trong số 1,788 triệu gia đình ở thành phố sống dưới mức nghèo khổ.[102] Tính đến năm 2017, thành phố có 2,2 triệu hộ gia đình, với 40% cư dân không sở hữu nhà.[103] Có khoảng 1.131 khu ổ chuột trong thành phố, có hơn 300.000 hộ gia đình.[104]

Tiếng Tamil là ngôn ngữ chính của người dân Chennai, những người sử dụng tiếng Anh phần lớn là công nhân cổ trắng.[105][106] Theo điều tra dân số năm 2011, số lượng người nói tiếng mẹ đẻ như sau: Tamil là ngôn ngữ được nói nhiều nhất với 3.640.389 (78,3%) cư dân, tiếp theo là tiếng Telugu (432.295), Urdu (198.505), Hindi (159.474) và Malayalam (104.994).[107] Madras Bashai là một biến thể của tiếng Tamil được người dân trong thành phố sử dụng.[108] Biến thể này có những từ vựng bắt nguồn từ các ngôn ngữ khác như tiếng Anh và tiếng Telugu.[109]

Tôn giáo tại thành phố Chennai (2011)[110]
Tôn giáo Tỷ lệ
Ấn Độ giáo
  
80.73%
Hồi giáo
  
9.45%
Cơ đốc giáo
  
7.72%
Khác
  
2.10%

Chennai là nơi có các cộng đồng dân tộc-tôn giáo đa dạng.[111][112] Theo điều tra nhân khẩu năm 2011, đa số cư dân Chennai theo Ấn Độ giáo (80,73%), và 9,45% theo Hồi giáo, 7,72% theo Cơ đốc giáo, 1,27% theo tôn giáo khác và 0,83% không theo tôn giáo.[110] Phần lớn cư dân thành phố là người Tamil, các nhóm thiểu số là người Telugu,[113] người Marwar,[114] người Gujarat,[115] người Parsi,[116] người Sindh,[117] người Odia,[118] người Goa,[119] người Kannada,[120] người Anh-Ấn,[121] người Bengal,[122] người Punjab,[123]người Malayalam.[124] Thành phố cũng có lượng dân cư nước ngoài đáng kể.[125][126] Tính đến năm 2001, trong số 2.937.000 người nhập cư trong thành phố, 61,5% đến từ các vùng khác của bang Tamil Nadu, 33,8% đến từ phần còn lại của Ấn Độ và 3,7% đến từ bên ngoài đất nước.[127]

Chính phủ sửa

Hành chính sửa

 
Các phân khu của huyện Chennai

Hội đồng Đại Chennai (Greater Chennai Corporation) quản lý thành phố, tiền thân là "Hội đồng Madras" được thành lập từ năm 1688.[128] Đây là hội đồng đô thị lâu đời nhất còn tồn tại ở Ấn Độ, và là hội đồng lâu đời thứ hai còn tồn tại trên thế giới.[129] Năm 2011, thẩm quyền của Hội đồng Chennai được mở rộng từ 174 km2 (67 dặm vuông Anh) lên 426 km2 (164 dặm vuông Anh), chia thành ba khu vực Bắc, Nam và Trung và bao gồm 200 phường (ward).[130][131] Các ủy viên hội đồng bầu ra thị trưởng để lãnh đạo hội đồng, các ủy viên này do người dân bầu chọn thông qua bỏ phiếu phổ thông.[132][133]

Cơ quan phát triển đô thị Chennai (CMDA) là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm quy hoạch và phát triển vùng đô thị Chennai, vùng này có diện tích 1.189 km2 ([chuyển đổi: đơn vị bất ngờ]) và bao gồm huyện Chennai cùng một phần các huyện Tiruvallur, KanchipuramChengalpattu.[134] Vùng đô thị này bao gồm bốn hội đồng thành phố, 12 khu tự quản và các panchayat nhỏ khác.[5][135]

Chennai là thủ phủ của bang Tamil Nadu, có các trụ sở chính của cơ quan hành pháp và lập pháp của bang, chúng chủ yếu nằm trong các toà nhà văn phòng tại Pháo đài St George. Tòa án Cấp cao Madras là cơ quan tư pháp cao nhất trong bang, có thẩm quyền xét xử tại Tamil NaduPuducherry.[136] Chennai có ba khu vực bầu cử nghị viện (Bắc Chennai, Trung Chennai và Nam Chennai) và bầu 24 đại biểu vào cơ quan lập pháp bang.[137]

Pháp luật sửa

 
Toà án Cấp cao Madras

Cảnh sát Đại Chennai là cơ quan thực thi pháp luật chính trong thành phố, do một ủy viên (commissioner) cảnh sát lãnh đạo.[138] Cảnh sát Đại Chennai là một bộ phận của Cảnh sát Tamil Nadu, và quyền kiểm soát hành chính thuộc về Bộ Nội vụ của Chính phủ Tamil Nadu.[139][140] Cảnh sát giao thông thành phố Chennai, Cảnh sát giao thông Avadi và Cảnh sát giao thông Tambaram chịu trách nhiệm quản lý giao thông trong thành phố. Các vùng ngoại ô đô thị do Cảnh sát đô thị Chennai (Chennai Metropolitan Police) quản lý, đứng đầu là Ủy viên cảnh sát Chennai. Các huyện bên ngoài CMDA thuộc quyền quản lý của các sở cảnh sát tương ứng của các huyện Tiruvallur, Kanchipuram, Chengalpattu và Ranipet.[141]

Tính đến năm 2021, Đại Chennai có 135 đồn cảnh sát trên khắp bốn khu vực với 20.000 nhân viên cảnh sát.[142][143] Tính đến năm 2021, tỷ lệ tội phạm trong thành phố là 101,2 mỗi một trăm nghìn người.[144] Nhà tù Trung tâm Madras là nhà tù chính, và là một trong những nhà tù lâu đời nhất tại Ấn Độ, nhưng bị phá bỏ vào năm 2009 và các tù nhân được chuyển đến Nhà tù Trung tâm Puzhal mới được xây dựng.[145]

Chính trị sửa

 
Cơ quan lập pháp Tamil Nadu

Thành phố từng là thủ phủ của tỉnh Madras thời thuộc địa, lãnh địa của tỉnh này chiếm một phần rộng lớn của cao nguyên Deccan. Chennai là một trung tâm chính trị thời thuộc địa, là nơi sản sinh ý tưởng về Đảng Quốc đại Ấn Độ. Một cuộc họp diễn ra sau hội nghị thần trí học được tổ chức tại thành phố vào tháng 12 năm 1884 đã hình thành ý tưởng này.[146][147] Thành phố từng bảy lần tổ chức các hội nghị hàng năm của Đảng Quốc đại, đóng vai trò quan trọng trong phong trào độc lập Ấn Độ.[148] Chennai cũng là nơi sản sinh các đảng chính trị cấp khu vực như Hiệp hội Phúc lợi Nam Ấn vào năm 1916, sau này trở thành Đảng Công lýDravidar Kazhagam.[149][150] Chính trị thành phố có điểm đặc trưng là hoà trộn các đảng chính trị cấp khu vực và quốc gia.[151] Trong thập niên 1920 và 1930, Phong trào Tự trọng nổi lên tại Madras, do Theagaroya ChettyE. V. Ramaswamy dẫn đầu.[152]

Đảng Quốc đại thống trị nền chính trị thành phố trong thập niên 1950 và 1960, dưới thời C. Rajagopalachari và sau là K. Kamaraj.[153] Các cuộc khích động chống tiếng Hindi tạo điều kiện cho các đảng theo phong trào Dravida nổi lên, và Đảng Dravida Munnetra Kazhagam (DMK) thành lập chính phủ đầu tiên của họ dưới quyền C. N. Annadurai vào năm 1967. Năm 1972, do DMK chia rẽ nội bộ nên dẫn đến hình thành Anna Dravida Munnetra Kazhagam toàn Ấn (AIADMK) do M. G. Ramachandran lãnh đạo. Hai đảng Dravida này tiếp tục thống trị nền chính trị bầu cử, các đảng cấp quốc gia thường liên kết với họ trong tư cách là đối tác thứ yếu.[154][155] Nhiều nhân vật điện ảnh đã trở thành chính trị gia và sau này là các bộ trưởng, bao gồm C. N. Annadurai, M. Karunanidhi, M. G. Ramachandran, Janaki RamachandranJayalalithaa.[156]

Vùng đô thị Chennai trải rộng trên năm khu vực bầu cử Quốc hội Ấn Độ và 28 khu vực bầu cử hội đồng lập pháp bang Tamil Nadu.[157]

Văn hoá sửa

Kiến trúc sửa

 
Đền Parthasarathy là một trong những công trình cổ nhất trong thành phố

Thành phố có lịch sử từ nhiều thế kỷ, nên kiến trúc nơi đây có niên đại rộng. Các tòa nhà cổ nhất trong thành phố có niên đại từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 8, như Đền Kapaleeshwar tại MylaporeĐền Parthasarathy tại Triplicane, được xây dựng theo nhiều phong cách kiến trúc Dravida khác nhau, được phát triển dưới thời trị vì của các đế chế khác nhau.[158] Trong kiến trúc Dravida, các ngôi đền thường là những mantapa lớn, có cổng hình kim tự tháp được gọi là Gopuram tại hàng rào hình tứ giác bao quanh ngôi đền.[159][160] Gopuram là một tòa tháp hoành tráng thường được trang trí công phu tại lối vào của ngôi đền, tạo thành một đặc điểm nổi bật gọi là Koil và có nguồn gốc từ vương triều Pallava, vương triều này từng xây dựng nhóm công trình trong Khu quần thể kiến trúc Mahabalipuram.[161][162] Khu vực xung quanh các ngôi đền vẫn còn có thể thấy kiến trúc Agraharam có liên quan, như các dãy nhà liền kề truyền thống.[163] Chennai có số lượng toà nhà di sản cao thứ hai trong cả nước.[164]

 
Parry's Corner là một trong những khu vực kinh doanh lâu đời nhất với các tòa nhà theo phong cách Art Deco.

Do ảnh hưởng từ Đế quốc Mugal vào thời trung cổ và sau đó là Đế quốc Anh, kiến trúc thành phố có sự pha trộn giữa các phong cách Hindu, Hồi giáoGothic phục hưng, tạo thành kiến trúc Ấn-Saracen đặc trưng.[165] Kiến trúc của một số trụ sở cơ quan theo phong cách Ấn-Saracen, Cung điện Chepauk do Paul Benfield thiết kế nằm trong số các tòa nhà Ấn-Saracen đầu tiên tại Ấn Độ.[166] Các tòa nhà khác từ thời thuộc địa được thiết kế theo phong cách kiến trúc này bao gồm Pháo đài St. George (1640), Amir Mahal (1798), Bảo tàng Chính phủ (1854 ), Nhà Hiệu bộ Đại học Madras (1879), Hội trường công cộng Victoria (1886), Tòa án Cấp cao Madras (1892), Toà nhà Bharat Insurance (1897), Tòa nhà Ripon (1913), Trường Cao đẳng Kỹ thuật (1920) và Trụ sở Đường sắt Miền Nam (1921).[167]

 
Toà nhà LIC là tòa nhà cao nhất Ấn Độ khi hoàn thành vào năm 1959

Các tòa nhà theo phong cách Gothic phục hưng bao gồm ga Chennai Trung tâm và ga Chennai Egmore. Nhà thờ Santhome do người Bồ Đào Nha xây dựng vào năm 1523, được cho là nơi lưu giữ hài cốt của Tôma Tông đồ, và được xây dựng lại vào năm 1893 theo phong cách tân Gothic.[168] Vào đầu thế kỷ 20, trường phái Art Deco đã xâm nhập vào cảnh quan đô thị của thành phố, có các tòa nhà ở George Town như tòa nhà United India (hiện là trụ sở LIC) và tòa nhà Burma Shell (hiện nay là Tòa nhà Chennai) đều được xây dựng vào thập niên 1930, hay Tòa nhà Dare được xây dựng vào năm 1940.[169] Sau khi Ấn Độ độc lập, chủ nghĩa hiện đại trỗi dậy tại thành phố. Tòa nhà LIC được hoàn thành vào năm 1959, đây là tòa nhà cao nhất Ấn Độ vào thời điểm đó, đánh dấu bước chuyển đổi từ xây bằng gạch và vôi sang cột bê tông.[170]

Do có radar thời tiết tại cảng Chennai, thành phố đã cấm xây dựng các tòa nhà cao hơn 60 m trong bán kính 10 km đến tận năm 2009.[171][170] Điều này khiến khu thương mại trung tâm của thành phố được mở rộng theo chiều ngang, không giống như các thành phố lớn khác. Trong khi đó, các toà nhà cao hơn bắt đầu mọc lên tại khu vực ngoại vi, tòa nhà cao nhất có độ cao 161 mét (528 ft).[172]

Nghệ thuật sửa

 
Phòng trưng bày Nghệ thuật Quốc gia Chennai, một trong những phòng trưng bày nghệ thuật lâu năm nhất tại Ấn Độ

Chennai là trung tâm lớn về âm nhạc, nghệ thuật và vũ đạo tại Ấn Độ.[173] Thành phố được mệnh danh là thủ đô văn hóa của Nam Ấn Độ.[174] Học viện Âm nhạc Madras Music khởi xướng Mùa âm nhạc Madras vào năm 1927, được tổ chức vào tháng 12 hàng năm và có các buổi biểu diễn âm nhạc Carnatic truyền thống của các nghệ sĩ trong thành phố.[175] Đại học Madras mở một khóa học âm nhạc trong chương trình giảng dạy cử nhân nghệ thuật vào năm 1930.[176] Gaana là sự kết hợp của nhiều loại nhạc dân gian khác nhau, chủ yếu được hát trong khu vực tầng lớp lao động tại Bắc Chennai.[177] Chennai Sangamam là một lễ hội nghệ thuật nhằm giới thiệu nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau của Nam Ấn Độ, và được tổ chức hàng năm.[178] Chennai được đưa vào danh sách Mạng lưới thành phố sáng tạo UNESCO (UCCN) kể từ tháng 10 năm 2017 nhờ truyền thống âm nhạc lâu đời trong thành phố.[179]

 
Bảo tàng Chính phủ là bảo tàng lâu năm thứ hai tại Ấn Độ

Thành phố có nền sân khấu đa dạng, và là một trong những trung tâm quan trọng của Bharata Natyam, một hình thức múa cổ điển có nguồn gốc từ Tamil Nadu và là vũ điệu lâu đời nhất của Ấn Độ.[180] Các trung tâm văn hóa trong thành phố bao gồm Kalakshetra và Trường Âm nhạc Chính phủ.[181] Chennai cũng có một số dàn hợp xướng, trong mùa Giáng sinh họ sẽ tổ chức nhiều buổi biểu diễn thánh ca trên khắp thành phố bằng tiếng Tamil và tiếng Anh.[182]

Chennai có nhiều bảo tàng, phòng trưng bày và các tổ chức khác tiến hành nghiên cứu nghệ thuật, chúng là các điểm thu hút đông khách du lịch.[183] Bảo tàng Chính phủPhòng trưng bày Nghệ thuật Quốc gia được thành lập vào đầu thế kỷ 18, nằm trong số cơ sở nghệ thuật lâu năm nhất tại Ấn Độ.[184] Bảo tàng bên trong khuôn viên Pháo đài St. George lưu giữ một bộ sưu tập hiện vật từ thời thuộc địa Anh.[185] Sở nghiên cứu Khảo sát học Ấn Độ quản lý bảo tàng này, và nơi đây lưu giữ lá quốc kỳ Ấn Độ đầu tiên được treo tại Pháo đài St George sau tuyên bố độc lập của Ấn Độ vào ngày 15 tháng 8 năm 1947.[186]

Chennai là trung tâm của điện ảnh Tamil, ngành này có biệt danh là Kollywood do có một số xưởng phim nằm tại khu Kodambakkam.[187] Lịch sử điện ảnh tại Nam Ấn Độ bắt đầu vào năm 1897 khi một nhà triển lãm người châu Âu lần đầu trình chiếu một tuyển tập phim câm ngắn tại Hội trường công cộng Victoria của thành phố.[188] Swamikannu Vincent mua một chiếc máy chiếu phim và dựng rạp để chiếu, hoạt động này trở nên phổ biến vào đầu thế kỷ 20.[189] Keechaka Vadham được sản xuất tại thành phố và phát hành vào năm 1917, đây là bộ phim đầu tiên tại Nam Ấn Độ.[190] Các xưởng phim GeminiVijaya Vauhini được thành lập vào thập niên 1940, và nằm trong số những xưởng phim lớn nhất và sớm nhất Ấn Độ.[191] Chennai có nhiều xưởng phim lớn, bao gồm AVM Productions, xưởng phim lâu đời nhất còn tồn tại ở Ấn Độ.[192]

Ẩm thực sửa

 
Một bữa ăn chay điển hình

Ẩm thực Chennai chủ yếu mang đặc điểm miền nam Ấn Độ, có nền tảng là lúa gạo. Hầu hết các nhà hàng địa phương vẫn giữ được hương vị đồng quê, nhiều nhà hàng phục vụ món ăn trên lá chuối.[193] Ăn trên lá chuối là một phong tục lâu đời, mang lại hương vị độc đáo cho món ăn, và được cho là tốt cho sức khỏe.[194] Idlidosa là những món ăn sáng phổ biến.[195][196] Chennai có nền văn hóa ẩm thực đường phố sôi động và nhiều lựa chọn ẩm thực khác nhau, bao gồm Bắc Ấn Độ, Trung Quốc và lục địa châu Âu.[197][198] Do các ngành công nghiệp tiến vào thành phố trong đầu thế kỷ 21 nên các nền ẩm thực Nhật BảnHàn Quốc cũng đến với thành phố.[199] Chennai là thành phố Nam Á duy nhất nằm trong số "10 thành phố ẩm thực hàng đầu" của National Geographic năm 2015.[200]

Kinh tế sửa

 
Dare House là trụ sở của Murugappa Group tại Chennai

Kinh tế của Chennai luôn vượt trên tốc độ tăng trưởng trung bình quốc gia (đến năm 2004), nhờ các chính sách kinh tế theo định hướng cải cách trong thập niên 1970.[201] Thành phố có hai cảng biển lớn, một sân bay quốc tế, cùng mạng lưới đường bộ và đường sắt được hội tụ, Chennai thường được gọi là "Cửa ngõ Nam Ấn Độ".[202][203] Theo Mạng lưới nghiên cứu toàn cầu hóa và thành phố thế giới (GaWC), Chennai là một trong những thành phố hội nhập nhất với nền kinh tế toàn cầu, được phân loại là thành phố beta.[204] Chennai có nền tảng công nghiệp đa dạng hoá, gắn liền với nhiều lĩnh vực khác nhau như ô tô, dịch vụ phần mềm, phần cứng, y tếdịch vụ tài chính.[205][206]

 
Tidel Park là đặc khu kinh tế IT đầu tiên tại thành phố

Thành phố có khu phức hợp triển lãm chuyên dụng là Trung tâm Thương mại Chennai tại Nandambakkam.[207] Thành phố tổ chức Hội ngộ các nhà đầu tư toàn cầu Tamil Nadu, do Chính phủ Tamil Nadu tổ chức.[208]

 
Trụ sở của nhà sản xuất ô tô lớn Ashok Leyland tại Chennai

Chennai là một trong những trung tâm công nghệ thông tin (IT) lớn của Ấn Độ.[209] Tidel Park được thành lập năm 2000 là một trong những công viên IT đầu tiên và lớn nhất châu Á.[210] Các đặc khu kinh tế và các chính sách của chính phủ góp phần vào sự phát triển của ngành, thu hút đầu tư nước ngoài và nhân lực từ các vùng khác của đất nước.[211][212] Trong những năm 2020, thành phố trở thành nơi cung cấp chính về SaaS và được mệnh danh là "Thủ đô SaaS của Ấn Độ".[213][214]

Ngành công nghiệp ô tô tại Chennai chiếm hơn 35% tổng sản lượng ô tô và linh kiện ô tô của Ấn Độ những năm 2000, có biệt danh là "Detroit Ấn Độ".[215][216] Một số lượng lớn các công ty ô tô có cơ sở sản xuất tại thành phố.[217] Integral Coach Factory tại Chennai sản xuất toa hành khách và toa xe khác cho Indian Railways (Đường sắt Ấn Độ).[218] Khu công nghiệp Ambattur có nhiều nhà xưởng của các đơn vị sản xuất khác nhau, đây là một trong những khu công nghiệp quy mô nhỏ thuộc hàng lớn nhất cả nước.[219] Chennai từng đóng góp hơn 50% xuất khẩu hàng da thuộc của Ấn Độ (2008).[220] Chennai là nơi xuất khẩu phần cứng điện tử quy mô lớn.[221]

 
Xe tăng chiến đấu Arjun, do nhà máy Xe hạng nặng (HVF) sản xuất tại Chennai

Thành phố có trụ sở của Sở giao dịch chứng khoán Madras, có quy mô lớn thứ ba Ấn Độ tính theo khối lượng giao dịch.[222][223] Ngân hàng Madras là hệ thống ngân hàng kiểu châu Âu đầu tiên tại Ấn Độ, được thành lập vào ngày 21 tháng 6 năm 1683.[224] Ngân hàng Madras sáp nhập với hai ngân hàng cấp tỉnh khác để thành lập Ngân hàng Đế quốc Ấn Độ (IBI) vào năm 1921 và đến năm 1955 thì trở thành Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ.[225] Chennai là trụ sở chính của các ngân hàng được quốc hữu hóa là Ngân hàng Ấn ĐộNgân hàng Hải ngoại Ấn Độ.[226][227] Chennai có văn phòng khu vực phía nam của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ, tức ngân hàng trung ương của đất nước, cùng với một trong hai trường đào tạo do ngân hàng này điều hành.[228] Thành phố cũng có văn phòng hỗ trợ thường trực của Ngân hàng Thế giới.[229] Khoảng 400 doanh nghiệp công nghiệp tài chính có trụ sở tại thành phố.[230][231]

DRDO là cơ quan nghiên cứu quốc phòng hàng đầu của Ấn Độ, họ vận hành nhiều cơ sở khác nhau tại Chennai.[232] Nhà máy Xe hạng nặng (HVF) của AVANI có trụ sở tại Chennai, sản xuất các phương tiện chiến đấu bọc thép, xe tăng chiến đấu chủ lực, động cơ xe tăng và áo giáp cho Lực lượng Vũ trang Ấn Độ.[233][234] ISRO là cơ quan vũ trụ hàng đầu của Ấn Độ, họ vận hành các cơ sở nghiên cứu trong thành phố.[235] Chennai là thành phố được du khách quốc tế ghé thăm nhiều thứ ba ở Ấn Độ theo Euromonitor (2016).[236] Du lịch y tế chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế của thành phố, với hơn 40% tổng số khách du lịch y tế đến thăm Ấn Độ là đến Chennai.[237]

Quản lý nước, rác thải sửa

 
Hồ Chembarambakkam là một trong những hồ chứa nước lớn của thành phố

Việc cấp nước và xử lý nước thải của thành phố thuộc quyền quản lý của Uỷ ban Cấp thoát nước vùng đô thị Chennai. Nước được lấy từ các hồ chứa lớn trong thành phố là hồ Red Hillshồ Chembarambakkam, được xử lý tại các nhà máy xử lý nước đặt tại Kilpauk, Puzhal, Chembarambakkam và cung cấp cho thành phố thông qua 27 trạm phân phối nước.[238][239] Thành phố nhận được 530 triệu lít nước mỗi ngày từ sông Krishna qua dự án Telugu Ganga và 180 triệu lít nước mỗi ngày từ dự án hồ Veeranam.[240] 100 triệu lít nước đã qua xử lý được sản xuất mỗi ngày từ nhà máy khử muối Minjur, đây là nhà máy khử muối nước biển lớn nhất Ấn Độ[241] Chennai được dự đoán sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt 713 triệu lít nước mỗi ngày vào năm 2026, do nhu cầu dự kiến là 2.248 triệu lít và nguồn cung ước tính là 1.535 triệu lít mỗi ngày.[242] Hệ thống cống rãnh của thành phố được thiết kế vào năm 1910, có một số sửa đổi vào năm 1958.[243]

Thành phố thải ra 4.500 tấn rác mỗi ngày, trong đó có 429 tấn là rác thải nhựa.[244] Hội đồng Chennai đảm nhận việc thu gom rác thải, việc xử lý cùng thu gom ở một số phường được ký hợp đồng với các công ty tư nhân.[245][246] Tính đến năm 2023, trung bình 150 tấn rác thải được xử lý hàng ngày trong hai bãi chôn lấp tại KodungaiyurPallikaranai.[247][248] Tại các khu chợ và khu kinh doanh, công tác thu gom được thực hiện vào ban đêm.[249] Tính đến năm 2022, có nhà vệ sinh công cộng tại 943 địa điểm, do hội đồng thành phố quản lý.[250]

Viễn thông sửa

Chennai là một trong bốn thành phố của Ấn Độ được kết nối bằng cáp quang dưới biển, và là điểm đổ bộ của SMW4 (kết nối với Châu Âu, Trung ĐôngĐông Nam Á), i2i và TIC (kết nối với Singapore), BBG (kết nối với Trung Đông, Đông Nam Á và Sri Lanka), Gulf Bridge International (kết nối với Trung Đông) và BRICS (kết nối với Brazil, Nga, Trung QuốcNam Phi), trong đó i2i dài 3.175 kilômét (1.973 mi) có công suất thiết kế hàng đầu thế giới với 8,4 terabit/s.[251][252][253] Tính đến năm 2023, bốn công ty dịch vụ điện thoại di động vận hành các mạng GSM bao gồm Bharti Airtel, BSNL, Vodafone IdeaReliance Jio, cung cấp dịch vụ di động 4G5G.[254][255] Năm nhà khai thác lớn và các nhà khai thác địa phương nhỏ cung cấp dịch vụ hữu tuyến và băng thông rộng.[255] Chennai nằm trong số các thành phố có mức độ sử dụng và thâm nhập Internet cao.[256] Tính đến năm 2022, thành phố này có tốc độ băng thông rộng trung bình cao nhất trong số các thành phố của Ấn Độ, với tốc độ tải xuống được ghi nhận là 32,67 Mbit/s.[257]

Điện lực sửa

 
Nhà máy điện nguyên tử Madras tại Kalpakkam

Uỷ ban Điện lực Tamil Nadu có trụ sở tại Chennai thực hiện phân phối điện trong bang.[258] Tính đến năm 2023, thành phố tiêu thụ trung bình 2.750 MW điện mỗi ngày, chiếm hơn 18% tổng lượng điện tiêu thụ của bang Tamil Nadu, và đứng thứ hai trong số tất cả các thành phố trên toàn quốc.[259] Thành phố có hơn 248.000 đèn đường do hội đồng thành phố bảo trì.[260] Các nhà máy điện lớn sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong thành phố là Nhà máy nhiệt điện Bắc Chennai, Nhà máy điện diesel GMR Vasavi, Nhà máy nhiệt điện Ennore, Nhà máy điện tua bin khí Basin Bridge, Nhà máy điện nguyên tử Madras và Dự án nhiệt điện Vallur.[261] Nhà máy điện nguyên tử Madras nằm tại Kalpakkam, cách khoảng 80 kilômét (50 mi) về phía nam của thành phố. Đây là cơ sở sản xuất năng lượng hạt nhân toàn diện, tái xử lý nhiên liệu, xử lý chất thải, và là nhà máy điện hạt nhân nội địa hoàn toàn đầu tiên của Ấn Độ.[262]

Y tế sửa

 
Bệnh viện Đa khoa Chennai là bệnh viện công cộng chính tại Chennai

Chennai có cơ sở hạ tầng y tế phát triển tốt, bao gồm cả bệnh viện công lập và bệnh viện tư nhân. Hội đồng thành phố điều hành 138 trung tâm y tế cơ sở, 14 trung tâm y tế trung cấp, 3 bệnh viện phụ sản và 3 trung tâm thú y.[263] Hội đồng cũng điều hành sáu trung tâm chẩn đoán, 37 trạm trú ẩn và 10 trung tâm y tế dành cho người vô gia cư.[263] Thành phố thu hút nhiều khách du lịch y tế từ nước ngoài và các bang khác, và được mệnh danh là thủ đô y tế của Ấn Độ.[3] Các bệnh viện lớn do chính phủ điều hành là Bệnh viện đa khoa, Bệnh viện đa khoa chuyên khoa của chính phủ, Bệnh viện cao đẳng y tế Kilpauk, Bệnh viện Chính phủ Royapettah, Bệnh viện Cao đẳng Y Stanley, Bệnh viện Y học Chính phủ lồng ngực, Viện Ung thư Adyar, Nhà điều dưỡng bệnh lao và Viện Siddha quốc gia.[264][265] Bệnh viện Đa khoa Chính phủ được thành lập vào ngày 16 tháng 11 năm 1664 và là bệnh viện lớn đầu tiên tại Ấn Độ.[266] Các bệnh viện tư nhân lớn trong thành phố bao gồm Bệnh viện Apollo, Bệnh viện Billroth, Bệnh viện Dr. Mehta, Bệnh viện Fortis Malar, Phái đoàn Y tế Madras, Bệnh viện MIOT, Sankara Nethralaya, Bệnh viện và Trung tâm nghiên cứu Cao đẳng Y SRM, Cao đẳng và Viện Nghiên cứu Y tế Sri Ramachandra, Bệnh viện Toàn cầu, Bệnh viện Chettinad, Bệnh viện Kaauveryvà Bệnh viện Vijaya.[264] Hội đồng thành phố chịu trách nhiệm tiêm vắc xin bại liệt cho các nhóm tuổi đủ điều kiện.[267] Viện Nghiên cứu và Y tế Dự phòng King được thành lập năm 1899 là viện nghiên cứu chuyên về y tế dự phòng và tiêm chủng.[268]

Truyền thông sửa

 
Trụ sở chính của Sun Network, đài truyền hình tư nhân lớn nhất Ấn Độ

Ngành xuất bản báo chí bắt đầu tại Chennai khi tuần báo The Madras Courier được phát hành vào năm 1785.[269] Tiếp theo là các tuần báo The Madras GazetteThe Government Gazette vào năm 1795.[270][271] The Spectator được thành lập vào năm 1836, là tờ báo tiếng Anh đầu tiên tại Chennai thuộc sở hữu của một người Ấn Độ, và đến năm 1853 thì trở thành nhật báo đầu tiên của thành phố.[272] Tạp chí tiếng Telugu đầu tiên được in từ Madras là Satya Doota vào năm 1835, và tờ báo tiếng Tamil đầu tiên là Swadesamitran được ra mắt vào năm 1899.[273][274] Chennai hiện nay có báo chí được xuất bản bằng tiếng Tamil, tiếng Anh và tiếng Telugu.[275] Các nhật báo lớn có lượng phát hành hơn một trăm nghìn bản mỗi ngày trong thành phố bao gồm The Hindu, Dina Thanthi, Dinakaran, The Times of India, Dina MalarThe Deccan Chronicle (2021).[276] Một số tạp chí định kỳ và báo địa phương nổi tiếng ở một số địa phương khác cũng tạo ra các ấn bản dành cho thành phố.[277]

Trung tâm Chennai của đài truyền hình nhà nước Doordarshan được thành lập vào năm 1974, phát sóng các kênh mặt đất và vệ tinh.[278] Nhiều mạng truyền hình vệ tinh tư nhân có trụ sở tại thành phố, trong số đó Sun Network là một trong những công ty phát thanh truyền hình lớn nhất Ấn Độ.[279] Dịch vụ truyền hình cáp hoàn toàn do chính phủ bang kiểm soát, trong khi nhiều nhà khai thác tư nhân cung cấp DTHIPTV.[280][281] Câu lạc bộ Phát thanh tỉnh Madras bắt đầu phát sóng phát thanh vào năm 1924.[282] Thành phố có bốn đài phát thanh AM và 11 đài phát thanh FM của các đơn vị như Đài phát thanh toàn Ấn, Hello FM, Suryan FM, Radio Mirchi, Radio City và BIG FM.[283][284]

Khác sửa

Dịch vụ cứu hỏa và cứu hộ Tamil Nadu vận hành 33 trạm cứu hỏa trong thành phố.[285] Hội đồng còn sở hữu 52 hội trường cộng đồng trên toàn thành phố.[286] India Post xử lý dịch vụ bưu chính, điều hành 568 bưu cục, trong đó gần 460 bưu cục hoạt động tại mặt bằng thuê.[287] Bưu điện đầu tiên được thành lập vào ngày 1 tháng 6 năm 1786 tại Fort St. George.[288]

Giao thông sửa

Hàng không sửa

 
Sân bay quốc tế Chennai là một trong những sân bay bận rộn nhất tại Ấn Độ

Lịch sử hàng không của thành phố bắt đầu vào năm 1910, khi Giacomo D'Angelis chế tạo vật thể bay có động cơ đầu tiên tại châu Á và thử nghiệm nó tại Island Grounds.[289] Năm 1915, Tata Air Mail bắt đầu dịch vụ vận chuyển đường không giữa Karachi và Madras, đánh dấu khởi đầu ngành hàng không dân dụng tại Ấn Độ.[290] Vào tháng 3 năm 1930, một cuộc thảo luận do phi công G. Vlasto khởi xướng đã dẫn đến việc thành lập Câu lạc bộ bay Madras.[291][292] Vào ngày 15 tháng 10 năm 1932, J. R. D. Tata lái một chiếc máy bay Puss Moth chở bưu phẩm từ Karachi đến sân bay Juhu tại Bombay, và phi công Nevill Vintcent điều khiển chuyến bay tiếp tục đến Madras, đánh dấu chuyến bay thương mại theo lịch trình đầu tiên.[293][294] Sân bay quốc tế Chennai nằm tại Tirusulam phục vụ thành phố, cách khoảng 20 kilômét (12 mi) về phía tây nam của trung tâm thành phố.[295] Đây là sân bay bận rộn thứ tư tại Ấn Độ về lưu lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển.[296] Sân bay được mở rộng bằng việc bổ sung thêm 1.069,99 mẫu Anh (433,01 ha), nhưng có đề xuất về một sân bay mới nhằm đáp ứng lưu lượng giao thông tăng thêm.[297]

Không phận thành phố nằm dưới quyền quản lý của Bộ Tư lệnh Không quân Miền Nam của Không quân Ấn Độ. Không quân vận hành một căn cứ tại Tambaram.[298] Hải quân Ấn Độ vận hành các căn cứ hàng không tại Arakkonam và Chennai.[299][300]

Đường sắt sửa

 
Khu đường sắt miền Nam có trụ sở chính tại Chennai

Lịch sử đường sắt trong thành phố có thể cho là bắt nguồn từ năm 1832, khi có đề xuất về tuyến đường sắt đầu tiên tại Ấn Độ giữa Little MountChintadripet trong thành phố, và tuyến này đi vào hoạt động vào năm 1837.[301] Công ty Đường sắt Madras được thành lập vào năm 1845, và tuyến đường sắt chính đầu tiên tại Ấn Độ giữa Madras và Arcot bắt đầu được xây dựng vào năm 1853, bắt đầu hoạt động vào năm 1856.[302] Năm 1944, tất cả các công ty đường sắt hoạt động tại Ấn Độ thuộc Anh đều được Chính phủ tiếp quản.[303] Khu vực Đường sắt phía Nam của Đường sắt Ấn Độ được thành lập vào ngày 14 tháng 4 năm 1951, bằng cách sáp nhập ba đơn vị là Đường sắt Madras và Nam Mahratta, Công ty Đường sắt Nam Ấn Độ và Đường sắt bang Mysore, và trụ sở chính nằm tại Chennai.[304] Thành phố có bốn nhà ga đường sắt đầu cuối là Chennai Trung tâm, Egmore, Beach và Tambaram.[305] Chennai Trung tâm là ga xe lửa lớn nhất thành phố, có thể tiếp cận các ga xe lửa lớn khác trên toàn quốc, và nằm trong số những nhà ga xe lửa đông đúc nhất cả nước.[306]

 
Chennai MRTS là hệ thống MRTS đầu tiên tại Ấn Độ

Chennai có mạng lưới đường sắt ngoại ô được xây dựng tốt, do Đường sắt miền Nam vận hành, và được thành lập vào năm 1928.[307] Hệ thống vận chuyển đại chúng (MRTS) là hệ thống vận chuyển đô thị trên cao, được thành lập vào năm 1995, hoạt động trên một tuyến duy nhất từ Chennai Beach đến Velachery.[307]

Hệ thống Tuyến Nhà ga Chiều dài Khánh thành
Ngoại ô Chennai[308] 3 53 212 km (132 mi) 1928
Chennai MRTS[309] 1 17 19,715 km (12,250 mi) 1995
 
Chennai Metro là hệ thống tàu điện ngầm duy nhất hoạt động tại Tamil Nadu

Chennai Metro là hệ thống đường sắt đô thị tại Chennai, được khai trương vào năm 2015. Tính đến năm 2023, hệ thống tàu này bao gồm hai tuyến vận hành, hoạt động trên chiều dài 54,1 km (33,6 mi) với 41 ga.[310] Hệ thống Chennai Metro được đề xuất bổ sung thêm ba tuyến nữa và nâng tổng chiều dài lên 116,1 km (72,1 mi).[311] Các dự án đường sắt đô thị cho CoimbatoreMadurai cũng được đề xuất.[312][313]

Tuyến Ga cuối Khánh thành Chiều dài
(km)
Nhà ga
style="background:#Bản mẫu:Rail color; text-align: center;| Tuyến Lam Wimco Nagar Sân bay Chennai 21 tháng 9 năm 2016 32,65 26
style="background:#Bản mẫu:Rail color; text-align: center;| Tuyến Lục Chennai Trung tâm St. Thomas Mount 29 tháng 6 năm 2015 22 17
Tổng cộng 54,65 41

Đường bộ sửa

 
CMBT là bến xe buýt liên thành phố chính của thành phố

Chennai có mạng lưới đường bộ rộng khắp, với tổng chiều dài khoảng 1.780 kilômét (1.110 mi) tính đến năm 2023.[314][315] Chennai là một trong những điểm đầu của hệ thống quốc lộ Tứ giác Vàng, nối liền thành phố với MumbaiKolkata.[316] Ngoài ra, hai quốc lộ lớn khác là Quốc lộ 45Quốc lộ 205 bắt nguồn từ thành phố. Các xa lộ cấp bang giúp kết nối thành phố với các đô thị lớn khác trong bang và Puducherry.[317] Thành phố có đường phân mứccầu vượt tại các giao lộ chính, và có hai đường ngoại vi là vành đai trong và vành đai ngoài.[318] Thành phố là điểm đầu của Đường cao tốc Cảng Chennai–MaduravoyalĐường cao tốc Bangalore–Chennai.[319][320]

 
Cảng Chennai nằm trong số các cảng bận rộn nhất tại Nam Ấn

Tính đến năm 2021, có hơn 6 triệu xe cộ được đăng ký trong thành phố.[321] Vận tải xe buýt công cộng do Công ty Vận chuyển Đô thị (MTC) của Chính phủ Tamil Nadu điều hành. Công ty được thành lập vào năm 1947, khi xe buýt tư nhân hoạt động trong tỉnh Madras được chính phủ quốc hữu hóa, và vận hành khoảng 3233 xe buýt Tính đến năm 2023.[322] SETC được thành lập vào năm 1980, điều hành các dịch vụ chuyển phát nhanh đường dài từ 250 km trở lên, và liên kết thành phố với các thành phố quan trọng khác và các bang lân cận. SETC khai thác nhiều hạng dịch vụ khác nhau như bán cao cấp, siêu cao cấp, và có máy lạnh.[323] Bến xe Chennai Mofussil (CMBT) là một trong những bến xe lớn nhất tại châu Á và phục vụ các xe buýt ngoại thành.[324] Các phương tiện giao thông đường bộ khác trong thành phố bao gồm xe tải, xe lam, taxi tính giờ và taxi du lịch.[325]

Đường thủy sửa

Chennai có hai cảng chính là ChennaiEnnore, do Bộ Cảng, Vận tải và Đường thủy của Chính phủ Ấn Độ quản lý.[326] Có ba cảng nhỏ thuộc quyền quản lý của Sở Đường cao tốc và cảng nhỏ của Chính phủ Tamil Nadu.[314][327] Các tàu đánh cá sử dụng cảng cá Royapuram.[328] Hải quân Ấn Độ có một căn cứ chính tại Chennai.[329][330]

Giáo dục sửa

 
Đại học Madras là một trong những trường đại học lâu năm nhất tại Ấn Độ

Chennai là một trung tâm lớn về giáo dục, và là nơi đặt trụ sở của một số cơ sở giáo dục cao cấp trong nước.[331] Thành phố có tỷ lệ biết chữ 90,33% (2012), và đứng thứ hai trong số các trung tâm đô thị lớn của Ấn Độ.[332] Chennai có hệ thống trường công lẫn trường tư, và hệ thống trường công do Bộ Giáo dục trường học của Chính phủ Tamil Nadu quản lý. Tính đến năm 2023, Hội đồng Đại Chennai điều hành 420 trường công lập.[333] Các trường công lập do Hội đồng Chennai điều hành đều liên kết với Uỷ ban của bang Tamil Nadu, trong khi các trường tư có thể liên kết với Uỷ ban Giáo dục Trung học Tamil Nadu, Uỷ ban Giáo dục Trung học Trung ương (CBSE), Hội đồng Kiểm tra Chứng chỉ Trường học Ấn Độ (ICSE) hoặc Viện Giáo dục Mở Quốc gia (NIOS).[334] Giáo dục phổ thông bắt đầu với hai năm mầm non từ ba tuổi trở đi, và sau đó theo kế hoạch 10+2, gồm hai năm giáo dục trung học phổ thông.[335]

 
Cao đẳng Kỹ thuật, Guindy (1794) là trường cao đẳng kỹ thuật lâu đời nhất tại Ấn Độ

Đại học Madras được thành lập vào năm 1857, là một trong những trường đại học hiện đại đầu tiên của Ấn Độ.[336] Các trường về khoa học, nghệ thuật và thương mại thường được liên kết với Đại học Madras, đại học này có sáu cơ sở trong thành phố.[337] Viện Công nghệ Ấn Độ Madras là học viện kỹ thuật hàng đầu, và Trường Kỹ thuật, Guindy của Đại học Anna được thành lập vào năm 1794 là trường cao đẳng kỹ thuật lâu đời nhất tại Ấn Độ.[338] Học viện Đào tạo Sĩ quan của Lục quân Ấn Độ có trụ sở chính tại thành phố.[339] Có tám trường cao đẳng y tế do chính phủ điều hành trong thành phố, bao gồm một trường cao đẳng nha khoa, ba trường cao đẳng y học cổ truyền, và bốn trường cao đẳng y học hiện đại, cùng nhiều trường cao đẳng tư nhân hoạt động dưới quyền quản lý của Đại học Y khoa Dr. M.G.R. Tamil Nadu tại Chennai.[340] Cao đẳng Y tế Madras được thành lập vào năm 1835 và là một trong những trường cao đẳng y tế lâu đời nhất tại Ấn Độ.[341]

Chennai có nhiều thư viện, Thư viện Công cộng Connemara là một trong bốn trung tâm lưu trữ quốc gia tại Ấn Độ, tiếp nhận bản sao của tất cả các sách báo được xuất bản trong nước. Thư viện Thế kỷ Anna là thư viện lớn nhất châu Á.[342][343] Chennai có hai cơ quan nghiên cứu CSIR là Viện Nghiên cứu Da thuộc Trung ương (CLRI) và Trung tâm Nghiên cứu Kỹ thuật Kết cấu (CSIR-SERC).[344] Hội chợ sách Chennai diễn ra thường niên, do Hiệp hội các nhà xuất bản và bán sách Nam Ấn Độ (BAPASI) tổ chức, và thường được tổ chức vào tháng 12-1.[345]

Du lịch sửa

Bãi biển Marina là một trong những bãi biển đô thị dài nhất

Chennai có những ngôi đền, bãi biển và trung tâm có ý nghĩa lịch sử và văn hóa, sở hữu di sản UNESCO Mahabalipuram. Đây là một trong những thành phố đón nhiều du khách nhất tại Ấn Độ, với 11 triệu du khách nội địa và 630 nghìn du khách ngoại quốc vào năm 2020.[346] Thành phố đóng vai trò là cửa ngõ vào Nam Ấn Độ.[347] Chennai được Euromonitor xếp trong danh sách một trăm điểm đến hàng đầu.[348][349] Tính đến năm 2018, thành phố có khoảng 7.000 phòng nghỉ sang trọng thuộc hạng 4 và 5 sao, với 85% nhu cầu phòng đến từ khách doanh nhân.[350][351] Chennai có đường bờ biển dài hơn 19 km với nhiều bãi biển, trong đó có Marina trải dài 13 km (8,1 mi) là bãi biển đô thị dài thứ hai trên thế giới, và bãi biển Elliot's nằm về phía nam đồng bằng Adyar.[352][353]

 
Semmoli Poonga là một vườn bách thảo rộng 20 mẫu Anh (8,1 ha)

Tính đến năm 2023, hội đồng thành phố bảo trì 835 công viên công cộng tại Chennai.[354] Công viên lớn nhất là Thholkappia Poonga rộng 358 acre, được phát triển nhằm khôi phục hệ sinh thái mong manh của vùng cửa sông Adyar.[355] Semmoli Poonga là một vườn bách thảo rộng 20 mẫu Anh (8,1 ha) do Sở Làm vườn bảo trì.[356] Madras Crocodile Bank là một vườn động vật bò sát nằm cách 40 km (25 mi) về phía nam thành phố, và có một trong những bộ sưu tập bò sát lớn nhất toàn quốc.[357] Công viên động vật học Arignar Anna là một vườn thú đô thị lớn, đón hơn 2 triệu du khách mỗi năm.[358] Vườn quốc gia Guindy là một khu vực được bảo vệ trong địa giới thành phố, và gắn liền với nó là một công viên dành cho trẻ em và một công viên rắn .[359] Chennai cũng có một số công viên chủ đề và công viên vui chơi.[360]

Tính đến năm 2012, có 120 rạp chiếu phim và cụm rạp chiếu phim.[361] Các sân khấu trên toàn thành phố tổ chức biểu diễn các vở kịch thuộc nhiều thể loại và ngôn ngữ khác nhau.[362] Chennai cũng là nơi có nhiều trung tâm mua sắm.[363] Thành phố này là một thị trường quan trọng của ngành trang sức.[364] Anna NagarNungambakkam nằm trong số những khu bán lẻ đắt đỏ trong nước.[365]

Thể thao sửa

 
Sân vận động M. A. Chidambaram là một trong sân đấu cricket hàng đầu tại Ấn Độ

Cricket là môn thể thao phổ biến nhất tại Chennai, được đưa đến thành phố vào năm 1864 khi thành lập Câu lạc bộ cricket Madras.[366] Sân vận động M.A. Chidambaram được thành lập vào năm 1916 là một trong những sân đấu cricket lâu đời nhất tại Ấn Độ, và từng tổ chức các trận đấu trong nhiều kỳ Giải vô địch cricket thế giới ICC.[367] Các địa điểm thi đấu cricket khác bao gồm sân cricket Chemplast và sân trường Cao đẳng Guru Nanak.[368][369] Những vận động viên cricket nổi tiếng của thành phố là S. VenkataraghavanKris Srikkanth.[370][371] MRF Pace Foundation được thành lập vào năm 1987 là một học viện bowling có trụ sở tại Chennai.[372] Chennai là sân nhà của đội cricket Chennai Super Kings, đây là đội thành công nhất tại Giải Ngoại hạng Ấn Độ (IPL). Thành phố từng tổ chức các trận chung kết trong mùa giải IPL 2011 và 2012.[373][374]

 
Sân vận động Jawaharlal Nehru là một sân vận động đa năng

Sân vận động Jawaharlal Nehru là một địa điểm thể thao đa năng, có tổ chức thi đấu các môn bóng đáđiền kinh, và cũng có một khu phức hợp trong nhà đa năng dành cho các môn bóng chuyền, bóng rổ, kabaddibóng bàn.[375] Chennai từng đăng cai Đại hội Thể thao Nam Á 1995.[376] Câu lạc bộ bóng đá Chennaiyin FC thi đấu tại Giải Siêu cấp Ấn Độ (ISL), tức giải đấu bóng đá hàng đầu của Ấn Độ, và sử dụng sân vận động Nehru làm sân nhà của họ.[377] Sân vận động Mayor Radhakrishnan được gắn với môn khúc côn cầu, và từng là địa điểm tổ chức Giải vô địch nam thế giới 2005 và Giải vô địch nam châu Á 2007.[378] Các môn thể thao dưới nước được chơi trong Khu phức hợp dưới nước Velachery.[379] Chennai là nơi tổ chức sự kiện quần vợt ATP World Tour duy nhất tại Ấn Độ, Chennai Open được tổ chức tại sân vận động quần vợt SDAT từ năm 1997 đến năm 2017.[380] Vijay Amritraj, Mahesh Bhupathi, Ramesh KrishnanSomdev Devvarman là những vận động viên quần vợt chuyên nghiệp đến từ Chennai.[381] Chennai là sân nhà của đội Chennai Slam, từng hai lần vô địch giải bóng rổ chuyên nghiệp hàng đầu Ấn Độ là Giải bóng rổ UBA Pro.[382]

 
Đường đua mô tô Madras là đường đua cố định đầu tiên tại Ấn Độ

Câu lạc bộ đua thuyền Madras (thành lập năm 1846) và Câu lạc bộ du thuyền Hoàng gia Madras (thành lập năm 1911) quảng bá các môn thể thao thuyền buồm, rowingcanoeing tại Chennai.[383] Đường đua mô tô Madras được khánh thành vào năm 1990, là đường đua cố định đầu tiên tại Ấn Độ, và là nơi tổ chức các sự kiện đua xe công thức.[384] Tay đua Công thức 1 Karun Chandhok đến từ thành phố.[385] Đua ngựa được tổ chức tại Trường đua Guindy. Thành phố có hai sân golf 18 lỗ là Cosmopolitan Club và Gymkhana Club, chúng được thành lập vào cuối thế kỷ 19.[386] Chennai thường được mệnh danh là "thủ đô cờ vua của Ấn Độ" vì thành phố này là quê hương của nhiều đại kiện tướng như Viswanathan Anand.[387][388] Thành phố là nơi tổ chức Giải vô địch cờ vua thế giới 2013Olympiad cờ vua lần thứ 44 vào năm 2022.[389][390] Những vận động viên thể thao khác đến từ Chennai có thể kể đến là vận động viên bóng bàn Sharath Kamal và nhà vô địch carrom thế giới hai lần Maria Irudayam.[391][392]

Câu lạc bộ Môn thể thao Giải đấu Sân nhà Thành lập Ref
Chennai Super Kings Cricket Indian Premier League Sân vận động M.A. Chidambaram 2008 [393]
Chennaiyin FC Bóng đá Indian Super League Sân vận động Jawaharlal Nehru 2013 [377]
Chennai Slam Bóng rổ UBA Pro Basketball League Nhà thi đấu Sân vận động Jawaharlal Nehru 2015 [382]
Chennai Superstarz Bóng rổ Premier Badminton League Nhà thi đấu Sân vận động Jawaharlal Nehru 2015 [394]
Chepauk Super Gillies Cricket Tamil Nadu Premier League Sân vận động M.A. Chidambaram 2016 [395]
Tamil Thalaivas Kabaddi Pro Kabaddi League Nhà thi đấu Sân vận động Jawaharlal Nehru 2017 [396]
Chennai Lions Bóng bàn Ultimate Table Tennis Nhà thi đấu Sân vận động Jawaharlal Nehru 2019 [397]
Chennai Blitz Bóng chuyền Prime Volleyball League Nhà thi đấu Sân vận động Jawaharlal Nehru 2021 [398]

Quan hệ quốc tế sửa

Thành phố có hiện diện lãnh sự của nước ngoài từ năm 1794, khi William Abbott được bổ nhiệm làm đại diện lãnh sự Hoa Kỳ tại Nam Ấn Độ.[399][400] Tính đến năm 2022, có 60 cơ quan đại diện nước ngoài tại Chennai bao gồm 16 tổng lãnh sự quán và 28 lãnh sự quán danh dự.[401][402] Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Chennai là một trong những trung tâm xử lý thị thực lao động hàng đầu.[403] Văn phòng đăng ký khu vực cho người nước ngoài (FRRO) phụ trách các hoạt động di cư và đăng ký trong thành phố.[404]

Chennai có mối quan hệ thành phố kết nghĩa với các thành phố sau trên thế giới:

Thành phố Quốc gia Bang/Tỉnh Kể từ Ref.
Volgograd   Nga Tỉnh Volgograd 1966 [405]
Denver   Hoa Kỳ Colorado 1984 [405]
San Antonio   Hoa Kỳ Texas 2008 [406]
Kuala Lumpur   Malaysia Lãnh thổ Liên bang Kuala Lumpur 2010 [407]
Trùng Khánh   Trung Quốc 2015 [408]
Ulsan   Hàn Quốc 2016 [409]

Ghi chú sửa

  1. ^ a b Khu vực đô thị Chennai cũng bao gồm một phần của các huyện Kanchipuram, Chengalpattu, Tiruvallur tiếp giáp với huyện Chennai
  2. ^ /məˈdrɑːs/ hay /-ˈdræs/[9]
  3. ^ Thuật ngữ Chennai thường được sử dụng để chỉ vùng đô thị Chennai. Việc sử dụng thuật ngữ này với quy mô rộng hơn được ghi nhận có từ năm 1639, khi thành lập Hội đồng thành phố Madras

Tham khảo sửa

  1. ^ Sharma, Reetu (23 tháng 8 năm 2014). “Chennai turns 375: Things you should know about 'Gateway to South India'. One India. Chennai. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2021.
  2. ^ Business America (bằng tiếng Anh). U.S. Department of Commerce. 1997. tr. 14.
  3. ^ a b Hamid, Zubeda (20 tháng 8 năm 2012). “The medical capital's place in history”. The Hindu. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  4. ^ a b c “Chennai city just got bigger”. The Times of India. 30 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  5. ^ a b “CMDA, about us”. CMDA. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  6. ^ Cities having population 1Lakh and above (PDF) (Bản báo cáo). The Registrar General & Census Commissioner, Government of India. 2011. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011.
  7. ^ a b c Census 2011: Population of cities in India (Bản báo cáo). Government of India. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012.
  8. ^ a b c “About Chennai district”. Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  9. ^ Jones, Daniel (2003) [1917], Roach, Peter; Hartmann, James; Setter, Jane (biên tập), English Pronouncing Dictionary, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 3-12-539683-2
  10. ^ a b “District Profile, Chennai”. Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2023.
  11. ^ C S Srinivasachari (1939). History of the City of Madrae third-largest economys. P Varadachary and co. tr. 63–69.
  12. ^ S. Muthiah (2008). Madras, Chennai: A 400-year Record of the First City of Modern India. Palaniappa Brothers. ISBN 978-81-8379-468-8.
  13. ^ Muthiah, S. (4 tháng 3 năm 2012). “The 'Town Temple' resurrected”. The Hindu. Chennai, India. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2012.
  14. ^ Krishnamachari, Suganthy (21 tháng 8 năm 2014). “Madras is not alien”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021.
  15. ^ Krishnamachari, Suganthy (21 tháng 8 năm 2014). “Madras is not alien”. The Hindu (Friday Review). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2015.
  16. ^ The Geography of India: Sacred and Historic Places. Britannica Educational Publishing. 2011. ISBN 978-1-61530-202-4.
  17. ^ a b c d “Origin of the Name Madras”. Corporation of Madras. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2023.
  18. ^ Tharoor, Shashi (6 tháng 9 năm 2002). “In India's name game, cities are the big losers”. International Herald Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  19. ^ “Madras nalla Madras!”. The Hindu. 9 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  20. ^ “Road workers stumble upon ancient grinding stone in Pallavaram”. The Times of India. 19 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  21. ^ Awakening Indians to India (Hard Bound). Central Chinmaya Mission Trust. 2008. tr. 215. ISBN 978-81-7597-433-3.
  22. ^ a b c “Chennai, history”. Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  23. ^ Daniélou, Alain; Hurry, Kenneth (2003). A brief history of India. Alain Daniélou. tr. 173. ISBN 978-1-59477-794-3.
  24. ^ “Chola, Vijayanagara period copper coins found on riverbed”. The Times of India. 9 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2023.
  25. ^ Rao, Velcheru Narayana; Shulman, David; Subrahmanyam, Sanjay (1998). Symbols of substance : court and state in Nayaka period Tamilnadu. Oxford : Oxford University Press, Delhi. tr. xix, 349 p., [16] p. of plates : ill., maps ; 22 cm. ISBN 0-19-564399-2.
  26. ^ Thilakavathy, M.; Maya, R. K. (5 tháng 6 năm 2019). Facets of Contemporary history (bằng tiếng Anh). MJP Publisher. tr. 583.
  27. ^ Frykenberg, Robert Eric (26 tháng 6 năm 2008). Christianity in India: From Beginnings to the Present (bằng tiếng Anh). OUP Oxford. ISBN 978-0-1982-6377-7.
  28. ^ Roberts J. M. (1997). A short history of the world. Helicon publishing Ltd. tr. 277. ISBN 978-0-1951-1504-8.
  29. ^ Wagret, Paul (1977). Nagel's encyclopedia-guide. India, Nepal. Geneva: Nagel Publishers. tr. 556. ISBN 978-2-8263-0023-6. OCLC 4202160.
  30. ^ Tucker, Spencer C. (2010). A global chronology of conflict. ABC—CLIO. tr. 756. ISBN 978-1-85109-667-1.
  31. ^ S., Muthiah (21 tháng 11 năm 2010). “Madras Miscellany: When Pondy was wasted”. The Hindu. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  32. ^ Radhey Shyam Chaurasia (2002). History of Modern India:1707 A.D. to 2000 A.D. Atlantic Publishers and Distributors. tr. 94. ISBN 978-81-269-0085-5.
  33. ^ “Madras Presidency”. Britannica. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  34. ^ Marshall Cavendish Corporation (2007). World and Its Peoples: Eastern and Southern Asia. Marshall Cavendish. tr. 442. ISBN 978-0-7614-7645-0.
  35. ^ Gill, B. (2001). Surveying Sir George Everest (PDF). Professional Surveyor Magazine (Bản báo cáo). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
  36. ^ Wallach, Bret (2005). Understanding the cultural landscape. The Guilford Press. tr. 195. ISBN 978-1-59385-119-4.
  37. ^ “Madras Renamed Tamil Nadu”. Hubert Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  38. ^ Murthy, Chippada Suryanarayana (1984). Andhra Martyr Amarajeevi Potti Sriramulu (bằng tiếng Anh). International Telugu Institute.
  39. ^ V. Shoba (14 tháng 8 năm 2011). “Chennai says it in Hindi”. The Indian Express. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  40. ^ “Madras renamed Chennai”. mapsofindia.com. 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  41. ^ Altaff, K; J Sugumaran, Maryland S Naveed (10 tháng 7 năm 2005). “Impact of tsunami on meiofauna of Marina beach, Chennai, India”. Current Science. 89 (1). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  42. ^ “Tamil Nadu government pegs flood damage at Rs 8,481 crore, CM Jayalalithaa writes to PM Modi”. DNA. 23 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2020.
  43. ^ Human Development Report, Chennai (PDF) (Bản báo cáo). Government of Tamil Nadu. tr. 4. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2023.
  44. ^ Pulikesi, M; P. Baskaralingam; D. Elango; V.N. Rayudu; V. Ramamurthi; S. Sivanesan (25 tháng 8 năm 2006). “Air quality monitoring in Chennai, India, in the summer of 2005”. Journal of Hazardous Materials. 136 (3): 589–596. doi:10.1016/j.jhazmat.2005.12.039. PMID 16442714. Chennai is fairly low–lying, its highest point being only 300 m (980 ft) above sea level is a rugged barren hill opposite to the Airport called Pallavapuram Hill.
  45. ^ “Practices and Practitioners”. Centre for Science and Environment. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  46. ^ “Quality of groundwater better this year”. The Times of India. 29 tháng 1 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  47. ^ Lakshmi, K. (28 tháng 8 năm 2012). “Tardy monsoon: Chennai water table rises only marginally”. The Hindu. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  48. ^ Lopez, Aloysius Xavier (31 tháng 8 năm 2018). “A Rs. 228-cr. project to take city's green cover to 20%”. The Hindu. Chennai: Kasturi & Sons. tr. 4. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018.
  49. ^ “Welcome to University of Madras – 154 years of Excellence”. UNOM. 2 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
  50. ^ “Residents along Otteri Nullah complain of pollution, health risk and flooding”. The Hindu. 3 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  51. ^ Raghavan, Susheela; Narayanan, Indira (2008). “Chapter 1: Geography”. Trong S.Muthiah (biên tập). Madras, Chennai: A 400-year Record of the First City of Modern India, Volume 1. Palaniappa Brothers. tr. 13. ISBN 978-81-8379-468-8.
  52. ^ Lakshmi, K. (10 tháng 11 năm 2018). “T.N. lost 41% shoreline to erosion: study”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2018.
  53. ^ John, Ekatha Ann (29 tháng 9 năm 2012). “Disaster body for panel to monitor highrises in Chennai”. The Times of India. Chennai. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  54. ^ Yadav, Priya (10 tháng 1 năm 2013). “Soon, power from ancient rocks”. The Times of India. Chennai. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2023.
  55. ^ a b “About Chennai” (PDF). Chennai Metropolitan Development Authority. tr. 28. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  56. ^ “Heat may gradually relent over most parts of the State after June 18, says IMD”. The Hindu. 15 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2023.
  57. ^ “Climatology tables:Extremes till 2012” (PDF). India Meteorological Department. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
  58. ^ “Climatology tables:Normal 1981-2010” (PDF). India Meteorological Department. tr. 279. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
  59. ^ “Ground Water Brochure, Chennai” (PDF). Central Ground Water Board. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  60. ^ “Northeast monsoon dumps 57% excess rainfall in Tamil Nadu in 2021”. Deccan Herald. 31 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2022.
  61. ^ “Easterly, southeasterly winds keep city cool”. The Times of India. 1 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  62. ^ Northeast Monsoon, 2022 (PDF) (Bản báo cáo). India Meteorological Department Regional Meteorological Center. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2023.
  63. ^ “NE monsoon sets in, brings in copious rains”. Rediff.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020.
  64. ^ “Chennai Flooded, 2015 All Over Again! Cyclonic Storm Michaung to blame or infrastructure”. Times Now. 4 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2023.
  65. ^ “Station: Chennai (Nungambakkam) Climatological Table 1981–2010” (PDF). Climatological Normals 1981–2010. India Meteorological Department. tháng 1 năm 2015. tr. 185–186. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2020.
  66. ^ “Extremes of Temperature & Rainfall for Indian Stations (Up to 2012)” (PDF). India Meteorological Department. tháng 12 năm 2016. tr. M192. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2020.
  67. ^ “Table 3 Monthly mean duration of Sun Shine (hours) at different locations in India” (PDF). Daily Normals of Global & Diffuse Radiation (1971–2000). India Meteorological Department. tháng 12 năm 2016. tr. M-3. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2020.
  68. ^ “Chennai Climatological Table 1981–2010”. India Meteorological Department. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2020.
  69. ^ “Normals Data”. Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2020.
  70. ^ “Climate and monthly weather forecast Chennai, India”. Weather Atlas. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2022.
  71. ^ S. Theodore Baskaran (2008). “Chapter 2: Wildlife”. Trong S. Muthiah (biên tập). Madras, Chennai: A 400-year Record of the First City of Modern India, Volume 1. Palaniappa Brothers. tr. 55. ISBN 978-81-8379-468-8. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  72. ^ G. Thirumalai and S. Krishnan (tháng 7 năm 2005). Pictorial Handbook: Birds Of Chennai. Kolkata: Zoological Survey of India.
  73. ^ “Wetlands in Tamil Nadu” (PDF). Tamil Nadu State Dept. of Environment and Related Issues. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  74. ^ “Good nesting season of Olive Ridley turtles ends along Chennai's coast”. The Hindu. 23 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  75. ^ “Wildlife centre at Vandalur zoo replaces safari”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  76. ^ “Madras Crocodile Bank Trust and its partner NGOs in India working to raise awareness on snakebites”. The Hindu. 22 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
  77. ^ “Tree cover in city is only around 15%”. The Hindu. Chennai. 11 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  78. ^ Fisheries policy note (PDF) (Bản báo cáo). Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
  79. ^ “Species persistence: a re-look at the freshwater fish fauna of Chennai, India”. Journal of Threatened Taxa. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2023.
  80. ^ “Vanishing wetlands”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  81. ^ Lakshmi, K. (1 tháng 4 năm 2018). “The vanishing waterbodies of Chennai”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2018.
  82. ^ “Next time by water”. The Economist. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015.
  83. ^ K., Lakshmi (20 tháng 1 năm 2019). “Indigenous flora in city wetlands under threat”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019.
  84. ^ “Adyar River pollution”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  85. ^ “Couvum River pollution”. The Times of India. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  86. ^ V, Jinoy Jose P (18 tháng 6 năm 2019). “Living without water in Chennai”. The Hindu (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  87. ^ Nagarajan, Ganesh; Megson, Jody; Wu, Jin (3 tháng 2 năm 2021). “How One of the World's Wettest Major Cities Ran Out of Water”. Bloomberg News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2021.
  88. ^ “Muck in Chennai rivers to turn into manure”. The Times of India. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  89. ^ “More citizens initiative for restoring water bodies”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  90. ^ “Water security mission to watch out for city's needs”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  91. ^ H. D. Love (1913). “Population of Madras”. Vestiges of Old Madras, Vol 3. tr. 557.
  92. ^ Imperial Gazetter of India, Volume 16. Clarendon Press. 1908.
  93. ^ Mary Elizabeth Hancock (2008). The politics of heritage from Madras to Chennai. Indiana University Press. tr. 220. ISBN 978-0-253-35223-1.
  94. ^ Muthiah, S. (2004). Madras Rediscovered. East West Books (Madras) Pvt Ltd. tr. 22. ISBN 81-88661-24-4.
  95. ^ Srivastava, Sangya (2005). Studies in Demography. Anmol Publications PVT. LTD. tr. 251. ISBN 978-81-261-1992-9.
  96. ^ Statistical handbook 2017 – 2018 (PDF) (Bản báo cáo). Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  97. ^ “2011 Census results” (PDF). Government of India. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  98. ^ Lakshmi, C. S. (1 tháng 1 năm 2004). The Unhurried City: Writings on Chennai. Penguin Books India. tr. 11. ISBN 978-0-14-303026-3.
  99. ^ Bergman (2003). Introduction to Geography. Pearson Education. tr. 485. ISBN 978-81-317-0210-9.
  100. ^ Smart Cities Mission (PDF) (Bản báo cáo). Government of India. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  101. ^ “Chennai Corporation is re-christened Greater Chennai Corporation”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016.
  102. ^ “Number of people below the poverty line to increase in city”. The Hindu. Chennai: Kasturi & Sons. 13 tháng 5 năm 2019. tr. 3. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  103. ^ Xavier Lopez, Aloysius (26 tháng 8 năm 2017). “The shelter stalemate”. The Hindu. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2017.
  104. ^ “Slum Clearance plan” (PDF). Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  105. ^ Siddique, Zahra (2008). Ethnicity, Race and Gender in the Labor Market. tr. 30. ISBN 978-0-549-50781-9.
  106. ^ Getter, Joseph; B.Balasubrahmaniyan (29 tháng 9 năm 2008). “Tamil Film Music: Sound and Significance”. Trong Slobin, Mark (biên tập). Global Soundtracks: Worlds of Film Music. Wesleyan University Press. tr. 119. ISBN 978-0-8195-6882-3.
  107. ^ Census India Catalog (Bản báo cáo). Government of India. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  108. ^ Smirnitskaya, Anna (tháng 3 năm 2019). “Diglossia and Tamil varieties in Chennai”. Acta Linguistica Petropolitana (3): 318–334. doi:10.30842/alp2306573714317. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2022.
  109. ^ Vijayakrishnan, K. G. (1995). “Compound Typology in Tamil”. Theoretical perspectives on word order in South Asian languages. Centre for Study of Language. tr. 263–264. ISBN 9781881526490.
  110. ^ a b “Population By Religious Community – Tamil Nadu” (XLS). Office of The Registrar General and Census Commissioner, Ministry of Home Affairs, Government of India. 2011. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2015.
  111. ^ “The magic of melting pot called Chennai”. The Hindu. 19 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  112. ^ “A different mirror”. The Hindu. 25 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  113. ^ 'Telugu Speaking People in TN are Not Aliens'. New Indian Express. 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  114. ^ “From Rajasthan with love”. New Indian Express. 6 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  115. ^ “Go Gujrati this navratri”. New Indian Express. 20 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  116. ^ “The Parsis of Madras”. Madras Musings. XVIII (12). 15 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  117. ^ “Sindhis to usher in new year with fanfare”. The Times of India. 24 tháng 3 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  118. ^ “Why Oriyas find Chennai warm and hospitable”. The Times of India. 12 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  119. ^ “Goan spirit in Chennai”. The Hindu. 18 tháng 12 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  120. ^ “Chennai's Kannadigas not complaining”. The Times of India. 5 tháng 4 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  121. ^ “The Anglo-Indians of Chennai”. Madras Musings. XX (12). 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  122. ^ “A slice of Bengal in Chennai”. The Times of India. 22 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  123. ^ B.R., Madhu (16 tháng 9 năm 2009). “The Punjabis of Chennai”. Madras Musings. XX (12). Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012.
  124. ^ “Chennai Malayalee Club leads Onam 2023 celebrations”. Media India. 1 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  125. ^ “When Madras welcomed them”. Deccan Chronicle. 27 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  126. ^ “Deepavali, the expat edition”. New Indian Express. 24 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
  127. ^ “Demography of Chennai” (PDF). Chennai Metropolitan Development Authority. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  128. ^ S.Muthiah (2008). Madras, Chennai: A 400-year Record of the First City of Modern India, Volume 1. Palaniappa Brothers. tr. 217. ISBN 978-81-8379-468-8.
  129. ^ “Chennai, the 2nd oldest corporation in the world”. The Hindu. Chennai. 29 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  130. ^ “Scope of digital mapping exercise in city likely to be enlarged”. The Hindu. 24 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  131. ^ “Chennai ward map”. Chennai Corporation. 12 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  132. ^ “Executive Chart” (PDF). Corporation of Chennai. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  133. ^ “Chennai to get its youngest and first Dalit woman as mayor; meet R Priya”. Hindustan Times (bằng tiếng Anh). 3 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2022.
  134. ^ Srivathsan, A (19 tháng 9 năm 2013). “Indecisiveness keeps urban projects on hold”. The Hindu. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2013.
  135. ^ “About Corporation of Chennai”. Greater Chennai Corporation. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  136. ^ “Madras High Court”. Government of India. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  137. ^ “List of TN Assembly constituencies”. Election Commission of India. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  138. ^ “Tamil Nadu police, history”. Tamil Nadu Police. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  139. ^ “Home, Prohibition and Excise Department”. Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013.
  140. ^ “Chennai Metro Police”. Tamil Nadu Police. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  141. ^ The Tamil Nadu Town and Country Planning Act, 1971 (Tamil Nadu Act 35 of 1972) (PDF) (Bản báo cáo). Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015.
  142. ^ “Greater Chennai Police may be bifurcated”. The Hindu. 14 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
  143. ^ “Greater Chennai Corporation”. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
  144. ^ “With 2nd rank, Chennai at Delhi's heels in crime rate among major Indian metro cities, reveals NCRB data”. Times Now. 16 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
  145. ^ “150-yr-old Central prison closed for good”. The Times of India. 19 tháng 1 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  146. ^ Sitaramayya, Pattabhi (1935). The History of the Indian National Congress. Working Committee of the Congress.
  147. ^ Bevir, Mark (2003). “Theosophy and the Origins of the Indian National Congress”. International Journal of Hindu Studies. University of California, Berkeley. 7 (1–3): 14–18. doi:10.1007/s11407-003-0005-4. S2CID 54542458.
  148. ^ Irschick, Eugene F. (1969). Political and Social Conflict in South India; The non-Brahmin movement and Tamil Separatism, 1916–1929. University of California Press. ISBN 978-0-8364-1918-4. OCLC 249254802.
  149. ^ Taylor, Richard Warren (1982). Religion and Society: The First Twenty-five Years, 1953–1978. Christian Literature Society (for the Christian Institute for the Study of Religion and Society, Bangalore). tr. 242. OCLC 9007066.
  150. ^ Rajaraman, P. (1988). The Justice Party: a historical perspective, 1916–37. Poompozhil Publishers. ch. 4 (Ideology, Organisation and Programme of the Justice Party). OCLC 20453430.
  151. ^ Ralhan, O.P. (2002). Encyclopedia of Political Parties. Print House. tr. 180–199. ISBN 978-8-1748-8287-5.
  152. ^ “A century of reform”. The Indian Express. 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  153. ^ Gopal, Madan (1990). K.S. Gautam (biên tập). India through the ages. Publication Division, Ministry of Information and Broadcasting, Government of India. tr. 164. ASIN B003DXXMC4.
  154. ^ Wyatt, A.K.J. (2002). “New Alignments in South Indian Politics: The 2001 Assembly Elections in Tamil Nadu”. Asian Survey. University of California Press. 42 (5): 733–753. doi:10.1525/as.2002.42.5.733. hdl:1983/1811.
  155. ^ S. Viswanathan (7 tháng 12 năm 2009). “Language issue again: the need for a clear-headed policy”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  156. ^ Ellens, Dan; Srinivas, Lakshmi (2005). A Time for India. Vantage Press. ISBN 978-0-533-15092-2.
  157. ^ “Chennai Metropolitan Area – Profile”. Chennai Metropolitan Development Authority. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  158. ^ Kamath, Rina (2000). Chennai. Chennai: Orient Longman Limited. tr. 31–33. ISBN 978-81-250-1378-5.
  159. ^ Fergusson, James (1997) [1910]. History of Indian and Eastern Architecture (ấn bản 3). New Delhi: Low Price Publications. tr. 309.
  160. ^ Ching, Francis D.K.; và đồng nghiệp (2007). A Global History of Architecture. New York: John Wiley and Sons. tr. 762. ISBN 978-0-4712-6892-5.
  161. ^ Lochtefeld, James G. (2002). The Illustrated Encyclopedia of Hinduism: A-M. The Rosen Publishing Group. tr. 399. ISBN 978-0-8239-3179-8.
  162. ^ “Group of Monuments at Mahabalipuram”. UNESCO World Heritage Centre. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
  163. ^ Sujatha, R. (29 tháng 4 năm 2012). “Agraharam – time virtually stands still here”. The Hindu. Chennai. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  164. ^ Ravishankar, Sandhya (6 tháng 9 năm 2007). “No fire safety norms at Chennai heritage buildings”. IBN Live. Chennai: CNN-IBN. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  165. ^ Bản mẫu:Citel journal
  166. ^ “Indo-saracenic Architecture”. Henry Irwin, Architect in India, 1841–1922. higman.de. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  167. ^ Jeyaraj, George J. “Indo Saracenic Architecture in Channai” (PDF). CMDA. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  168. ^ “Santhome Cathedral”. Tamil Nadu tourism. Chennai Magic. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  169. ^ “Art Deco Style Remains, But Elements Missing”. The New Indian Express. 2 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  170. ^ a b “Chennai looks to the skies”. The Hindu. Chennai. 31 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  171. ^ Koshy, Jacob P. (13 tháng 12 năm 2007). “Doppler radar may put cap on building heights”. Livemint. New Delhi. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  172. ^ “Living in a city within a city: How is SPR City redefining the residential market?”. The Times of India. Chennai. 30 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020.
  173. ^ Slobin, Mark (2008). Global Soundtracks: Worlds of Film Music. Wesleyan University Press. tr. 140. ISBN 978-0-8195-6882-3.
  174. ^ Kamath, Rina (2000). Chennai. Orient Blackswan. tr. 66. ISBN 978-81-250-1378-5.
  175. ^ Knight, Douglas M. Jr. (2010). Balasaraswati: Her Art and Life. Wesleyan University Press. tr. 78. ISBN 978-0-8195-6906-6.
  176. ^ Subramanian, Lakshmi (2008). New Mansions for Music: Performance, Pedagogy and Criticism. Berghahn Books. tr. 121–122. ISBN 978-81-87358-34-3.
  177. ^ G, Ezekiel Majello (10 tháng 10 năm 2019). “Torching prejudice through gumption and Gaana”. Deccan Chronicle (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  178. ^ “Chennai Sangamam 2011”. The official website. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  179. ^ “Chennai is now part of UNESCO's 'creative cities network'. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017.
  180. ^ Fletcher, Peter (29 tháng 4 năm 2004). World Musics in Context: A Comprehensive Survey of the World's Major Musical Cultures. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-816636-8.
  181. ^ “Kalakshetra”. Incredible India. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  182. ^ “Of choirs and carols”. Business Standard. 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  183. ^ “CM moots a global arts fest in Chennai”. The Times of India. 16 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  184. ^ “For a solid grounding in arts”. The Hindu. 3 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  185. ^ “Fort St. George museum”. Archaeological Survey of India. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2023.
  186. ^ “Indian tri-colour hoisted at Chennai in 1947 to be on display”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015.
  187. ^ Hiro, Dilip (2010). After Empire: The Birth of a Multipolar World. Public Affairs. tr. 248. ISBN 978-1-56858-427-0.
  188. ^ Muthukumaraswamy, M. D; Kaushal, Molly (2004). Folklore, public sphere, and civil society. NFSC. tr. 116. ISBN 9788190148146.
  189. ^ Rajmohan, Joshi (2006). Encyclopaedia of Journalism and Mass Communication: Media and mass communication. Isha Books. tr. 68. ISBN 9788182053663.
  190. ^ Velayutham, Selvaraj (2008). “'India' in Tamil silent era cinema”. Tamil Cinema: The Cultural Politics of India's Other Film wenr Industry. Routledge. tr. 156. ISBN 978-0-415-39680-6.
  191. ^ “The true tinsel town”. The Hindu. 5 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2023.
  192. ^ “Heritage walk around old studios”. The Hindu. Chennai. 22 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  193. ^ “Serving on a banana leaf”. ISKCON. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2023.
  194. ^ “The Benefits of Eating Food on Banana Leaves”. The Times of India. 9 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016.
  195. ^ “Snack Street combines taste of street food with hygiene of restaurant”. The Hindu. 19 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2016.
  196. ^ Achaya, K.T. (1 tháng 11 năm 2003). The story of our food. Universities Press. tr. 80. ISBN 978-81-7371-293-7.
  197. ^ “Clean street food hubs to be established in Chennai and five districts”. The Hindu. 3 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2023.
  198. ^ “Chennai Street food”. The Times of India. 8 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  199. ^ “How carmakers brought new cuisine to Chennai”. BBC. 12 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  200. ^ “Top 10 food cities”. National Geographic. 22 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2023.
  201. ^ Krishna, K.L. (tháng 9 năm 2004). “Economic Growth in Indian States” (PDF). ICRIER. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
  202. ^ Grover, Amar (17 tháng 9 năm 2019). “Chennai unwrapped: Why the city is the great international gateway to South India”. The National (bằng tiếng Anh). Chennai. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2021.
  203. ^ Sharma, Reetu (23 tháng 8 năm 2014). “Chennai turns 375: Things you should know about 'Gateway to South India'. One India (bằng tiếng Anh). Chennai. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2021.
  204. ^ “GaWC - The World According to GaWC 2020”. www.lboro.ac.uk. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2022.
  205. ^ “Making Tamil Nadu future ready”. Times of India. 15 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  206. ^ Industrial potential in Chennai (Bản báo cáo). Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  207. ^ “Chennai Trade Centre:A Profile”. India Trade Promotion Organisation. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  208. ^ “TN GIM - Brochure New - 13 Nov - TN-GIM-Brochure-2019.pdf” (PDF). Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
  209. ^ Chandramouli, Rajesh (1 tháng 5 năm 2008). “Chennai emerging as India's Silicon Valley?”. The Economic Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  210. ^ “PM opens Asia's largest IT park”. CIOL. 4 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  211. ^ “Maharashtra tops FDI equity inflows”. Business Standard. 1 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
  212. ^ “Tamil Nadu: A small step in inclusivity, a giant leap in India”. Times of India. 2 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  213. ^ “Here's why Chennai is the SAAS capital of India”. Crayon. 24 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  214. ^ “A silent SaaS revolution is brewing in Chennai”. Times of India. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  215. ^ “Madras, the Detroit of South Asia”. Rediff. 30 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
  216. ^ U.S. International Trade Commission (2007). Competitive Conditions for Foreign Direct Investment in India, Staff Research Study #30. DIANE Publishing. tr. 2–10. ISBN 978-1-4578-1829-5.
  217. ^ “Chennai: The next global auto manufacturing hub?”. CNBC-TV18. CNBC. 27 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  218. ^ “Profile”. Integral Coach Factory. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  219. ^ “IT parks in Ambattur Estate wallow with space abegging”. The Hindu. 9 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013.
  220. ^ “Development Plan for Chennai Metropolitan Area” (PDF). Government of India. tr. 13. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  221. ^ “TN tops in electronic goods' export”. Hindustan Times. 5 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  222. ^ “Investors told to go in for long term investment, index funds”. The Hindu. 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  223. ^ “List of Stock exchanges”. SEBI. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  224. ^ Mukund, Kanakalatha (3 tháng 4 năm 2007). “Insight into the progress of banking”. The Hindu. Chennai. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  225. ^ Kumar, Shiv (26 tháng 6 năm 2005). “200 years and going strong”. The Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  226. ^ “Indian Bank Head Office”. Indian Bank. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  227. ^ “IOB set to takeover Bharat Overseas Bank”. Rediff. 28 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  228. ^ “RBI staff college”. Reserve Bank of India. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  229. ^ “World Bank expands footprint in city, adds 70k sqft back office”. Times of India. 5 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  230. ^ Shivakumar, C. (28 tháng 2 năm 2018). “Chennai Finance City taking shape”. New Indian Express. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2019.
  231. ^ Shivakumar, C. (8 tháng 6 năm 2019). “State-of-the-art commerce hub likely on Anna Salai”. New Indian Express. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2020.
  232. ^ “CVRDE invites applications”. DRDO. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2023.
  233. ^ Roche, Elizabeth (15 tháng 10 năm 2021). “New defence PSUs will help India become self-reliant: PM”. Mint (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2021.
  234. ^ “Seven new defence companies, carved out of OFB, dedicated to the Nation on the occasion of Vijayadashami”. Ministry of Defence (India) (Thông cáo báo chí). Press Information Bureau. 5 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2021.
  235. ^ “Indian Space Research Organisation-IITM research cell”. ISRO. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2023.
  236. ^ Bremner, Caroline. “Top 100 City Destinations Ranking” (PDF). Euromonitor International. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2016.
  237. ^ Connell, John (2011). Medical Tourism. tr. 71. ISBN 978-1-84593-660-0.
  238. ^ Second Master Plan (PDF). Chennai Metropolitan Development Authority. tr. 157–159. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  239. ^ Second Master Plan (PDF). Chennai Metropolitan Development Authority. tr. 163. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  240. ^ “Water Supply System”. Chennai Metro Water. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  241. ^ “India's biggest desalination plant opens in Chennai”. Hindustan Times. 1 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  242. ^ Seetharam Sridhar, Kala; Kashyap, Nivedita (2012). State of India's Cities: An Assessment of Urban Conditions in Four Mega Cities. Public Affairs Centre. tr. 102. ISBN 978-8-1888-1617-0.
  243. ^ Infrastructure (PDF) (Bản báo cáo). Chennai Metropolitan Development Authority. tr. 15. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  244. ^ Ramkumar, Pratiksha (4 tháng 4 năm 2013). “Chennai stares at a plastic disaster”. Times of India. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2013.
  245. ^ “New firm to begin conservancy work next week”. The Hindu. 4 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  246. ^ “New garbage collection, street cleaning mechanism”. The Hindu. 27 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  247. ^ “Solid Waste Management”. Corporation of Chennai. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2023.
  248. ^ Madhavan, D. (7 tháng 4 năm 2012). “Cluster-based solid waste mgmt may ease pressure on dump yards”. The Times of India. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016.
  249. ^ Ramakrishnan, Deepa H (25 tháng 1 năm 2012). “SMS fillip for garbage collection”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  250. ^ “GCC pilots 3 maintenance models for public toilets in Chennai”. The Hindu. 21 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2023.
  251. ^ “Bharti and SingTel Establish Network i2i Limited”. Submarine network. 8 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2022.
  252. ^ “India's 1st undersea cable network ready”. Economic Times. Singapore. 8 tháng 4 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  253. ^ “BRICS Cable Unveiled for Direct and Cohesive Communications Services Between Brazil, Russia, India, China and South Africa”. Business Wire. 16 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2022.
  254. ^ “Coimbatore, Madurai, Hosur & Trichy gets ultrafast Airtel 5G Plus services in addition to Chennai”. Airtel. 24 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  255. ^ a b TRAI report, August 2023 (PDF) (Bản báo cáo). TRAI. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  256. ^ “After losing 6 lakh internet connections, Tamil Nadu adds”. Times of India. 24 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  257. ^ “City tops in broadband speed”. Hindustan Times. 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2023.
  258. ^ “TANGEDCO, contact”. Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  259. ^ “Chennai ranks second among big cities in power usage”. New Indian Express. 1 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  260. ^ “LED lights on roads in added city areas soon”. The Hindu. Chennai. 3 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2013.
  261. ^ “TANGEDCO, about us”. Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  262. ^ Chetal, SC (tháng 1 năm 2013). “Beyond PFBR to FBR 1 and 2” (PDF). IGC Newsletter. Indira Gandhi Centre for Atomic Research. 95: 2. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
  263. ^ a b “Health department”. Greater Chennai Corporation. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  264. ^ a b De, Barun Kumar (2006). Public System Management. New Delhi: New Age International Publishers. tr. 39. ISBN 978-81-224-1767-8.
  265. ^ “Hospitals in Chennai”. Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  266. ^ Amarjothi JMV; Jesudasan, J.; Ramasamy, V.; Jose, L. (2020). “History of Medicine: The origin and evolution of the first modern hospital in India”. The National Medical Journal of India. 33 (3): 175–179. doi:10.4103/0970-258X.314010. PMID 33904424. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2021.
  267. ^ “5.67 lakh kids get polio vaccines at 1,647 camps in Chennai”. Times of India. 28 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  268. ^ Kannan, Ramya (7 tháng 12 năm 2010). “King Institute looking to revive anti-snake venom serum production”. The Hindu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  269. ^ “The first newspaper of Madras Presidency had a 36-year run”. The Hindu. 25 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  270. ^ A. Ganesan (tháng 1 năm 1988). The Press in Tamil Nadu and the Struggle for Freedom, 1917-1937. South Asia Books. tr. 4. ISBN 978-8-1709-9082-6.
  271. ^ Reba Chaudhuri (22 tháng 2 năm 1955). “The Story of the Indian Press” (PDF). Economic and Political Weekly.
  272. ^ “The Mail, Madras' only English eveninger and one of India's oldest newspapers, closes down”. India Today (bằng tiếng Anh). 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  273. ^ Muthiah, S. (2004). Madras Rediscovered. East West Books (Madras) Pvt Ltd. ISBN 978-8-1886-6124-4.
  274. ^ Narayana, Velcheru; Shulman, David (2002). Classical Telugu Poetry: An Anthology (bằng tiếng Anh). University of California Press. ISBN 978-0-5202-2598-5.
  275. ^ Press in India 2021-22, Chapter 9 (PDF) (Bản báo cáo). Government of India. tr. 32. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  276. ^ Press in India 2021-22, Chapter 6 (PDF) (Bản báo cáo). Government of India. tr. 8. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  277. ^ Press in India 2021-22, Chapter 7 (PDF) (Bản báo cáo). Government of India. tr. 5. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  278. ^ “DD Podighai”. Prasar Bharti. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  279. ^ “Sun Group”. Media Ownership Monitor. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  280. ^ “Arasu Cable to launch operations from September 2”. The Hindu. 30 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  281. ^ “BSNL launches IPTV services to its customers in Tamil Nadu”. The Hindu. 25 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  282. ^ Muthiah, S. (21 tháng 5 năm 2018). “AIR Chennai's 80-year journey”. The Hindu. Chennai: Kasturi & Sons. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2018.
  283. ^ Gilbert, Sean biên tập (2006). World Radio TV Handbook 2007: The Directory of International Broadcasting. London: WRTH Publications Ltd. tr. 237–242. ISBN 0-8230-5997-9.
  284. ^ IRS survey, 2019 (PDF) (Bản báo cáo). MRUC. tr. 46. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  285. ^ “List of fire stations”. Tamil Nadu Fire and Rescue Service. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  286. ^ “Residents to soon have free use of community halls”. The Hindu. Chennai. 31 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  287. ^ Lakshmi, K. (28 tháng 6 năm 2018). “Iconic General Post Office to finally get a makeover”. The Hindu. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  288. ^ “=History, Tamil Nadu circle”. India Post. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  289. ^ History of Indian Air Force (PDF) (Bản báo cáo). Government of India. tr. 2. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  290. ^ “100 years of civil aviation”. Government of India. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  291. ^ Saraogi, R.L. (1952). Indian Aviation. tr. 192.
  292. ^ Janardanan, Arun (14 tháng 6 năm 2011). “Madras Flying Club: High on quality”. Times of India (bằng tiếng Anh). Chennai. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2022.
  293. ^ Higham, Robin (1961). Britain's Imperial Air Routes, 1918 to 1939 (bằng tiếng Anh). Shoe String Press. tr. 168. ISBN 978-0-2080-0171-9.
  294. ^ De Havilland Gazette (Bản báo cáo) (bằng tiếng Anh). De Havilland Aircraft Company. 1953. tr. 103.
  295. ^ “From atop this hill in Chennai, you can watch airplanes fly by”. The Hindu. 4 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2022.
  296. ^ Airports by Passenger Traffic, 2022-23 (PDF) (Bản báo cáo). Airports Authority of India. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2023.
  297. ^ Janardhanan, Arun; Ayyappan, V (3 tháng 5 năm 2012). “Chennai's aero dreams take wing”. The Times of India. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013.
  298. ^ “Indian Air Force Commands” (bằng tiếng Anh). Indian Air Force. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2010.
  299. ^ “Organisation of Southern Naval Command” (bằng tiếng Anh). Indian Navy. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023.
  300. ^ “ENC Authorities & Units” (bằng tiếng Anh). Indian Navy. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2015.
  301. ^ “Chennai: The track record”. New Indian Express. 16 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2023.
  302. ^ “On Forgotten Road”. Times of India. 31 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2023.
  303. ^ “Evolution of Indian Railways-Historical Background”. Ministry of Railways. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  304. ^ “Southern Railways, about us”. Southern Railway. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2023.
  305. ^ Southern Railway stations (PDF) (pdf). Indian Railways. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2023.
  306. ^ “Central station to shut down on December 13”. Times of India. 2 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  307. ^ a b Brief History of the Division (PDF) (Bản báo cáo) (bằng tiếng Anh). Indian Railways—Southern Railways. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2012.
  308. ^ List of Stations, Chennai (PDF) (Bản báo cáo) (bằng tiếng Anh). Southern Railway. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2023.
  309. ^ “About MRTS” (bằng tiếng Anh). Chennai Metropolitan Development Authority. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2023.
  310. ^ “Project status of Chennai Metro” (bằng tiếng Anh). Chennai Metro Rail Limited. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2023.
  311. ^ “Metro's second phase to go up to Poonamallee”. The Hindu. 20 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2017.
  312. ^ Rajkumar, Varun Venkatesan and Surya. “Signal remains red for Coimbatore metro rail project”. The Hindu (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  313. ^ Sampath, Nirupa (13 tháng 11 năm 2023). “Madurai metro rail will cover 29km with 17 stations in phase 1”. DT next. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2022.
  314. ^ a b Highway policy (PDF) (Bản báo cáo). Highways Department, Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
  315. ^ Review of Chennai's Second Master Plan: Through the lens of Sustainable Transport (Bản báo cáo). Citizen, consumer and civic action group. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
  316. ^ Joshi, Sandeep (7 tháng 4 năm 2012). “Hitches on the highways”. The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  317. ^ “GIS database for Chennai city roads and strategies for improvement”. Geospatial World. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  318. ^ “Chennai's Game-changing Infra Upgrade”. Times Now. 2 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  319. ^ “PM's adviser to meet CM for talks on pending projects”. The Hindu. 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012.
  320. ^ “Chennai-Bangalore Expressway work to start in six months: Nirmala Sitharaman”. The New Indian Express (bằng tiếng Anh). 2 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2023.
  321. ^ “Personal vehicles cross 70L mark in Greater Hyderabad”. Times of India. 30 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  322. ^ Tamil Nadu STUs (PDF) (Bản báo cáo). TNSTC. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2023.
  323. ^ History of SETC (PDF) (Bản báo cáo). TNSTC. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2023.
  324. ^ “Clogged way to filthy Koyambedu bus terminus”. The Times of India. 22 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  325. ^ “Airport taxis, a law unto themselves”. The Hindu. Chennai. 8 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  326. ^ Ports of India (PDF) (Bản báo cáo). Ministry of Ports, Shipping and Waterways, Government of India. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2023.
  327. ^ “Jayalalithaa inaugurates Kattupalli port”. The Hindu. Chennai. 31 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
  328. ^ “Kasimedu Harbour to be spuruced up”. The Times of India. Chennai. 6 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2023.
  329. ^ “Basic Organization”. Indian Navy. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2023.
  330. ^ “Southern naval command”. Indian Navy. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2016.
  331. ^ “City home to some of the best educational institutions in India”. The Hindu. Chennai. 9 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  332. ^ “Indian metro cities with the highest literacy rates”. Yahoo!. 23 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014.
  333. ^ “History of the Education Department”. Corporation of Chennai. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  334. ^ “TN private schools told to teach Tamil for students till Class 10”. DT Next. 23 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  335. ^ “Educational structure”. Civil India. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  336. ^ “A brief history of the modern Indian university”. Times Higher Education. 24 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  337. ^ “List of colleges, UNOM”. University of Madras. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2022.
  338. ^ “Some colleges, schools in Chennai oldest in country”. The Hindu. 23 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  339. ^ “Pranab Mukherjee to review passing-out parade at Chennai OTA”. The Hindu (bằng tiếng Anh). Chennai. 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2016.
  340. ^ “Affiliated colleges”. Dr MGR university. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  341. ^ “Institution History”. Madras Medical College. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2018.
  342. ^ Venkatsh, M. R. (15 tháng 9 năm 2010). “Chennai now boasts South Asia's largest library”. Deccan Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  343. ^ “Connemara library's online catalogue launched”. The Hindu. 23 tháng 4 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  344. ^ “CSIR labs”. CSIR. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  345. ^ “Edu minister says 2nd int'l book fair in Jan 2024”. Times of India. 8 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  346. ^ Tourism handbook (PDF) (Bản báo cáo). Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  347. ^ “Silk road: Chennai”. UNESCO. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  348. ^ Bremner, Caroline. Top 100 City Destinations Ranking (PDF) (Bản báo cáo). Euromonitor International. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2016.
  349. ^ Top 100 city destinations (PDF) (Bản báo cáo). Euromonitor International. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021.
  350. ^ Chandramouli, Rajesh (27 tháng 4 năm 2018). “Hotels full as Chennai turns into wedding destination”. Times of India. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
  351. ^ Siva Prasanna Kumar, J. V. (29 tháng 4 năm 2019). “Chennai emerges top among Indian cities in hotel room addition”. Deccan Chronicle. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
  352. ^ EARSeL (2002). Observing our environment from space: new solutions for a new millennium. A. A. Balakema. ISBN 90-5809-254-2.
  353. ^ “Elliot's Beach”. chennai.org. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  354. ^ “Parks of Chennai”. Greater Chennai Corporation. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  355. ^ Adyar eco park (Bản báo cáo). Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  356. ^ Sivan, Jayraj (11 tháng 10 năm 2011). “Collector refutes MK's charge, says property on Cathedral Rd not govt's”. Times of India. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  357. ^ Kinzer, Stephen (3 tháng 2 năm 1998). “Saving the Crocodile and Putting on a Spectacular Show”. New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2011.
  358. ^ “Wandering down Chennais wild side”. New Indian Express. IBN Live. 3 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  359. ^ “Guindy National Park”. Tamil Nadu Forest Department. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2022.
  360. ^ T, Madhavan (16 tháng 6 năm 2012). “Amusement parks: a preferred destination”. The Hindu. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  361. ^ RamaKrishnan, Deepa H. (24 tháng 2 năm 2012). “Cinema halls oppose service tax, stay shut”. The Hindu. chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  362. ^ “All for a laugh”. India Today. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  363. ^ Varghese, Nina (7 tháng 8 năm 2006). “Mall activity picks up in Chennai IT hubs”. The Hindu. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  364. ^ “South India accounts for 40 percent gold purchases”. Times of India. 29 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  365. ^ “How much does it cost to rent space in top retail streets”. Financial Times. 12 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  366. ^ Kaminsky, Arnold P; Long, Roger D (2011). India Today: An Encyclopedia of Life in the Republic. Abc-Clio. tr. 618. ISBN 978-0-313-37462-3.
  367. ^ “MA Chidambaram stadium”. ESPNcricinfo. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  368. ^ “Guru Nanak College Ground”. ESPNCricinfo. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  369. ^ “Chemplast Ground”. ESPNCricinfo. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  370. ^ Ramchand, Partab. “Srinivas Venkataraghavan”. ESPNcricinfo. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  371. ^ Ramchand, Partab. “Kris Srikkanth”. ESPNcricinfo. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  372. ^ “McGrath takes charge of MRF Pace Foundation” (bằng tiếng Anh). ESPNcricinfo. 2 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2021.
  373. ^ “RCB vs CSK: Chennai Super Kings beat Royal Challengers Bangalore to reach IPL 4 final”. Times of India. 24 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  374. ^ “Chennai home to IPL final again in 2012”. Times of India. 30 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  375. ^ “Jawaharlal Nehru Stadium, Chennai”. SDAT, Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2023.
  376. ^ “From sleepy Madras to sporting Chennai: How SAF Games helped put city on international athletics map”. Times of India. 31 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  377. ^ a b “Dhoni becomes ISL team Chennaiyin FC co-owner”. Deccan Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014.
  378. ^ “Mayor Radhakrishnan Stadium”. SDAT, Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2023.
  379. ^ “Velachery Aquatic Complex”. SDAT, Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2023.
  380. ^ “SDAT Tennis Stadium”. SDAT, Government of Tamil Nadu. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2023.
  381. ^ Basu, Arundhati (19 tháng 3 năm 2005). “Off-court ace”. The Telegraph. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  382. ^ a b “UBA Pro Basketball League: Delhi Capitals, Chennai Slam set up final clash”. Indian Sports News. 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017.
  383. ^ Pletcher, Kenneth (2010). The Geography of India:Sacred and Historic Places. The Rosen Publishing Group. tr. 184. ISBN 978-1-61530-142-3.
  384. ^ “The view from the fast lane”. The Hindu. 10 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  385. ^ “Karun Chandhok goes the Endurance way”. Times of India. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  386. ^ “Survivors of time: Madras Race Club - A canter through centuries”. The Hindu. 21 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012.
  387. ^ Ninan, Susan (6 tháng 6 năm 2020). “Back in Chennai, Viswanathan Anand looks forward to home food and bonding with son”. ESPN.
  388. ^ Shanker, V. Prem; Pidaparthy, Umika (27 tháng 11 năm 2013). “Chennai: India's chess capital”. Aljazeera. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2022.
  389. ^ “Chennai to host first ever Chess Olympiad in India from July 28”. Sportstar. 12 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2022.
  390. ^ Nandanan, Hari Hara (21 tháng 8 năm 2011). “Fide offers 2013 World Chess C'ship to Chennai”. The Times of India. Chennai. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  391. ^ “Sharath Kamal Achantha”. Olympics.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  392. ^ TK, Smitha (21 tháng 1 năm 2020). “Meet Maria, Chennai's 'Carrom Man' & A Two-Time World Champion”. The Quint. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2021.
  393. ^ “Chennai Super Kings”. CSK. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  394. ^ “Smashers latch on to CSK identity”. The Hindu. 25 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  395. ^ “Chepauk Super Gillies”. ESPNcricinfo. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  396. ^ “Tamil Thalaivas”. Prokabbadi. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2023.
  397. ^ “Flawless Chennai Lions are new UTT champions”. Times of India. 3 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  398. ^ “Chennai Blitz Prime Volleyball League Team”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
  399. ^ “History”. US Consulate Chennai. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  400. ^ Clark, Mike. “Abbott Family Genealogy”. mikesclark.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  401. ^ “Did you know that...”. Embassy Pages. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012.
  402. ^ “Who are honorary consul generals and what do they do?”. The Economic Times. 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018.
  403. ^ “U.S. Consulate in Chennai among top 10 visa issuers”. The Hindu. Chennai. 9 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  404. ^ “Foreigners Regional Registration Office, Chennai” (PDF). Bureau of Immigration, Ministry of Home Affairs, India. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2023.
  405. ^ a b “Chennai has six sister cities”. The Times of India. 23 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  406. ^ “What is it?”. Official Website of the City of San Antonio. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  407. ^ “Sister cities best buddies, but pacts yield little”. The Times of India. 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012.
  408. ^ “Agreement between PRC and India”. Ministry of external affairs, India. 15 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015.
  409. ^ “Another Sister City pact, this time with South Korea's Ulsan”. The Hindu. 3 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.

Liên kết ngoài sửa