Chuột đồng đuôi dài

Chuột đồng đuôi dài (danh pháp khoa học: Apodemus sylvaticus) là một loài chuột bản xứ châu Âu và Tây Bắc Phi. Đây là họ hàng gần của Apodemus flavicollis, với nét khác biệt là sự thiếu vắng vành lông vàng quanh cổ, tai hơi nhỏ hơn và kích cỡ nói chung là nhỏ hơn: dài 90 mm (3.54 in), nặng khoảng 23 g.[3] Nó là một loài phổ biến, thường gặp, sống ở hầu khắp châu Âu, hội sinh với con người và có lúc được coi là vật hại.[1] Loài này có thể mang mầm bệnh hantavirus mà có thể gây ảnh hưởng nghiệm trọng cho sức khoẻ con người.[4]

Apodemus sylvaticus
Apodemus sylvaticus (Sardinia).jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Rodentia
Họ (familia)Muridae
Chi (genus)Apodemus
Loài (species)A. sylvaticus
Danh pháp hai phần
Apodemus sylvaticus
(Linnaeus, 1758)[2]
Apodemus sylvaticus distribution.PNG
Cặp răng cửa trên của chuột đồng đuôi dài có mặt trong phẳng, khác với chuột nhắt nhà

Môi trường sống và phân bốSửa đổi

 
Tranh minh hoạ "Harvest, Wood Mouse" trong British Mammals của A. Thorburn, 1920

Chuột đồng đuôi dài sống ở rừng thưa, thảo nguyên, đồng ruộng, với xu hướng sống tại nơi rậm rạp hơn vào mùa đông.[5] Đây là động vật sống về đêm ưa nơi khô ráo, đào hang sâu, xây ổ từ thực vật và sống trong nhà khi khí hậu khắc nghiệt. Đây là một trong những loài được nghiên cứu kỹ càng nhất chi Apodemus. Tại châu Âu, phạm vi phân bố của chúng trải rộng từ Scandinavia ở phía bắc đến đến Ukraina ở phía đông. Chuột đồng đuôi dài cũng sống ở miền tây bắc Phi cùng nhiều hòn đảo trong Địa Trung Hải.[6]

Chế độ ănSửa đổi

Chuột đồng đuôi dài chủ yếu ăn hạt,[7] nhất là hạt sồi, cử, tần bì, chanh, sơn tra. Khi có nhiều hạt, chúng thường mang hạt về hang/ổ để dự trữ.[8] Chúng cũng ăn động vật không xương sống nhỏ như ốc sên hay côn trùng, nhất là vào cuối xuân-đầu hè khi có ít hạt hơn. Cuối mùa chúng còn cả ăn trái cây, quả mọng, nấm và rễ cây. Vào mùa đông, chúng săn cả dơi ngủ đông.[9]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a b Schlitter, D.; van der Straeten, E.; Amori, G.; Hutterer, R.; Kryštufek, B.; Yigit, N.; Mitsainas, G. (2021). Apodemus sylvaticus (amended version of 2016 assessment)”. Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2021: e.T1904A197270811. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
  2. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Apodemus sylvaticus”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494.
  3. ^ Alcántara, M. (1991). “Geographical variation in body size of the Wood Mouse Apodemus sylvaticus L.”. Mammal Review. 21 (3): 143–150. doi:10.1111/j.1365-2907.1991.tb00115.x.
  4. ^ Weidmann, Manfred; Schmidt, P.; Vackova, M.; Krivanec, K.; Munclinger, P.; Hufert, F. T. (tháng 2 năm 2005). “Identification of Genetic Evidence for Dobrava Virus Spillover in Rodents by Nested Reverse Transcription (RT)-PCR and TaqMan RT-PCR”. Journal of Clinical Microbiology (bằng tiếng Anh). 43 (2): 808–812. doi:10.1128/JCM.43.2.808-812.2005. ISSN 0095-1137. PMC 548048.
  5. ^ J. L. Tellería; T. Santos; M. Alcántara (1991). “Abundance and Food-Searching Intensity of Wood Mice (Apodemus sylvaticus) in Fragmented Forests” (PDF). Journal of Mammalogy. 72 (1): 183–187. doi:10.2307/1381994. JSTOR 1381994. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2018.
  6. ^ Encyclopædia Britannica. 2008. Wood mouse
  7. ^ Fedriani, J. M. (2005). “Do frugivorous mice choose where or what to feed?”. Journal of Mammalogy. 86 (3): 576–586. doi:10.1644/1545-1542(2005)86[576:dfmcwo]2.0.co;2.
  8. ^ Phil Gates (ngày 6 tháng 9 năm 2018). “Country diary: a close encounter with a wood mouse”. The Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2018.
  9. ^ Anne-Jifke Haarsma & Rutger Kaal (2016). “Predation of wood mice (Apodemus sylvaticus) on hibernating bats”. Population Ecology. 58 (4): 567–576. doi:10.1007/s10144-016-0557-y.

Tham khảoSửa đổi