Coban(II) oxit hay còn gọi là cobanơ oxit (công thức hóa học CoO) là một oxit của coban. Nó có khối lượng mol 74,9324 đơn vị cacbon, nhiệt độ nóng chảy 1.933°C. Nó có thể ở dạng kết tinh với màu từ xanh lục ôliu tới đỏ hay chất bột màu từ hơi xám tới đen, được sử dụng khá rộng rãi trong công nghiệp gốm sứ như là phụ gia để tạo men và nước men màu xanh lam cũng như trong công nghiệp hóa chất để sản xuất các muối coban(II). Các tinh thể CoO có cấu trúc pericla (muối đá) với hằng số lưới 4,2615Å[1].

Coban(II) oxit
Danh pháp IUPACCobalt (II) Oxide
Tên khácCoban oxit
Coban monoxit
Nhận dạng
Số CAS1307-96-6
Số RTECSGG2800000
Thuộc tính
Công thức phân tửCoO
Khối lượng mol74,9324 g/mol
Bề ngoàiBột màu đen
Khối lượng riêng6,1 g/cm3
Điểm nóng chảy1.933°C (2.206 K)
Điểm sôi
Độ hòa tan trong nướcKhông hòa tan trong nước,
hòa tan trong axít mạnh
Các nguy hiểm
Nguy hiểm chínhViêm đường hô hấp
Có thể gây ung thư
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
2
0
 
Chỉ dẫn R22 43 50-53
Chỉ dẫn S(2-)24-37-60-61
Các hợp chất liên quan
Anion khácCoban(II) clorua
Hợp chất liên quanCoban(III) oxit
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).

Coban(II) oxit là một chất tạo màu tốt, rất ổn định, được sử dụng nhiều trong thủy tinh, men, enamel và cả cho ngành sơn. Coban(II) oxit được sử dụng rộng rãi trong các loại mực đề can, màu men lót, vết màu trên thân và men màu.

Chất này có thể thu từ nguồn tự nhiên. Có nhiều dạng nguyên liệu thô và tất cả đều có thể phân hủy dễ dàng thành CoO là dạng ổn định. Các nguồn này có thể là dạng oxit màu đen Co3O4, tỉ lệ phân hủy - giải phóng ôxy và chuyển thành CoO là 93% ở 800°C; hay dạng coban(III) oxit màu xám (Co2O3) với 90% CoO; và dạng coban(II) cacbonat màu tím nhạt (CoCO3) với 63% CoO. Ngoài ra, có thể dùng coban(IV) oxit (CoO2).

Ứng dụngSửa đổi

Coban(II) oxit được sử dụng để chế tạo vật liệu điện từ, bán dẫn, chất tạo màu trong gốm sứ, chất ôxi hóa, chất xúc tác và vật liệu dương cực (anôt) cho các loại pin Ni-MH hay Ni-Cd[2][3].

Trong vật liệu gốmSửa đổi

Coban(II) oxit được sử dụng trong nhiều thế kỷ như là chất tạo màu cho các đồ gốm sứ, các ví dụ sớm nhất đã biết có từ thế kỷ 12 tại các lò sản xuất gốm tại Đức.[4] Phụ gia côban tạo ra màu xanh lam sẫm có tên gọi xanh côban.

CoO được dùng trong vật liệu gốm thuộc nhóm tạo màu. coban(II) oxit là chất tạo màu xanh côban truyền thống và đáng tin cậy ở mọi nhiệt độ nung, trong hầu hết mọi loại men. Nó là một chất tạo màu mạnh, thông thường chỉ dùng ít hơn 1% là màu đã đủ đậm. Sắc độ xanh thì có thể bị ảnh hưởng theo nhiều cách do sự hiện diện của các oxit khác. Nếu cần giảm sắc xanh, có thể dùng oxit sắt, titan, rutil hay niken.

Dù coban(II) oxit có nhiệt độ nóng chảy rất cao, nó vẫn là một chất trợ chảy mạnh, hoà tan dễ dàng trong hầu hết các loại men đặc biệt là các loại men kiềm thổbo. Cũng do hoà tan dễ dàng nên màu xanh do coban(II) oxit tạo ra dễ bị loang và khó giữ được những nét in rạch ròi, đặc biệt là khi in ở lớp men phủ. Do coban(II) oxit hoà tan khá tốt trong men nóng chảy, nó không có chức năng làm mờ.

Coban(II) oxit rất nhạy cảm với môi trường lò (ôxi hoá hay khử, nung nhanh hay nung chậm). Nó thường được nung khô với oxit nhôm và CaO để làm mực màu cho lớp men lót mềm. Các loại vết màu thường là hỗn hợp alumina, coban và kẽm để đạt được một màu xanh lam mềm hơn.

Kết hợpSửa đổi

Coban(II) oxit khi kết hợp với:

  • Oxit sắt và oxit mangan cho màu lam đá phiến.
  • Oxit bari cho màu lục lam
  • Oxit magie cho màu từ tím đến tím hoa cà.
  • Oxit crom và oxit mangan cho màu lam đen hay màu đen.
  • Oxit crom và đồng có thể cho màu từ thuần xanh coban qua lam ánh lục đến xanh lá crom (thuận lợi nhất khi hàm lượng silica không cao quá và chỉ vừa đủ alumina).
  • Silica, B2O3 và hàm lượng cao MgO có thể tạo ra các màu đỏ, tím, oải hương hay hồng.

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

Ghi chúSửa đổi