Cuộc tấn công Iraq 2003

Cuộc chiến do Mỹ cầm đầu nhằm tiêu diệt chế độ ở Iraq.

Cuộc tấn công vào Iraq năm 2003 bắt đầu từ ngày 20 tháng 3, chủ yếu bởi quân đội Hoa KỳVương quốc Anh; 98% của quân lực đến từ hai nước này, tuy nhiều quốc gia khác cũng tham gia. Cuộc xâm lược Iraq trở thành giai đoạn đầu của sự kiện thường được gọi là Chiến tranh Iraq. Theo lịch sử, nó có thể được gọi chính xác hơn là "Chiến tranh vùng Vịnh lần 3", tính từ sau chiến tranh 8 năm giữa IraqIran vào thập niên 1980. Lần này, Quân đội Iraq đã bại trận hoàn toàn, và thành phố Bagdad bị chiếm đóng ngày 9 tháng 4 năm 2003. Ngày 1 tháng 5 năm 2003, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush tuyên bố là các chiến dịch quan trọng đã kết thúc, tức là giai đoạn cầm quyền của đảng Ba'ath và nhiệm kỳ của Tổng thống Iraq Saddam Hussein đã kết thúc. Quân lực Liên hiệp cuối cùng đã bắt được Saddam Hussein ngày 13 tháng 12 năm 2003. Sau đó, thời kỳ quá độ bắt đầu, trong lúc đó tại Iraq bạo lực lan tràn do các lực lượng nổi dậy phần nhiều là người Sunni theo Hồi giáo, và cũng có cả các tay súng của mạng lưới khủng bố Al-Qaeda.

Cuộc tấn công Iraq 2003
Một phần của Cuộc xâm lược Iraq
101st Airborne Division helos during Operation Iraqi Freedom.jpg
U.S. Army Black Hawk Helicopters from the 2nd Brigade, 101st Airborne Division (Air Assault) move into an Iraqi city on ngày 5 tháng 4 năm 2003., ngày 20 tháng 3 năm 2003 – ngày 1 tháng 5 năm 2003
Địa điểm Iraq
Kết quả *Liên quân do Hoa Kỳ đứng đầu chiến thắng
  • Chính phủ Saddam Hussein bị lật đổ
  • Thành lập chính phủ mới ở Iraq
  • Liên quân do Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq
  • Continuation of violence in the form of an occupation, an insurgency, and sectarian conflicts
Tham chiến
Coalition: Iraq Iraq:
Chỉ huy và lãnh đạo
Hoa Kỳ George W. Bush

Hoa Kỳ Tommy Franks
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Brian Burridge[5]
Flag of KDP.png Massoud Barzani
Flag of KDP.png Babakir Zebari
Jalal Talabani
Nawshirwan Mustafa Iraq Ahmad Chalabi

Iraq Saddam Hussein

Iraq Qusay Hussein
Iraq Uday Hussein
Iraq Ali Hassan al-Majid
Iraq Barzan Ibrahim
Iraq Izzat Ibrahim al-Douri

Lực lượng
Hoa Kỳ US: 248,000

 UK: 45,000
 Australia: 2,000
 Poland: 194
Kurdistan thuộc Iraq Peshmerga: 70,000[7]
Iraq INC: 620

 Iraq: 375,000
  • Flag of Jihad.svg Thousands
Thương vong và tổn thất
172 killed (139 US, 33 UK)[8]

[9]
+ At least 24 Peshmerga[10]
INC Casualities: unknown

Estimated Iraqi combatant fatalities:

30,000 (figure attributed to General Tommy Franks), John Keegan Estimates: several thousand combatant deaths.[11]

7,600–10,800 (4,895–6,370 observed and reported) (Project on Defense Alternatives study)[12][13]

13,500–45,000 (extrapolated from fatality rates in units serving around Baghdad)[14]

Estimated Iraqi civilian fatalities:

7,269 (Iraq Body Count)[15]

3,200–4,300 (Project on Defense Alternatives study)[12]

Bài này chỉ nói về những chi tiết của cuộc xâm lược. Để biết thông tin tổng quát hơn, xem Chiến tranh Iraq.

Cuộc xâm lược năm 2003 là một phần của cuộc chiến chống khủng bố quốc tế do Tổng thống Mỹ George W. Bush khởi xướng sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 [16].

Vào tháng 10 năm 2002, Quốc hội Hoa Kỳ đã ủy quyền cho Tổng thống Bush sử dụng lực lượng quân sự chống lại Iraq [17]. Chiến tranh Iraq chính thức bắt đầu vào ngày 19 tháng 3 năm 2003 [18], khi Hoa Kỳ, cùng với Anh và một số nước đồng minh, bắt đầu một chiến dịch ném bom phủ đầu. Quân đội Iraq đã nhanh chóng bị áp đảo khi lực lượng liên quân do Hoa Kỳ lãnh đạo tiến vào đất nước này. Cuộc xâm lược đã dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Saddam Hussein; Saddam đã bị bắt trong Chiến dịch Bình minh đỏ vào tháng 12 cùng năm và bị tử hình 3 năm sau đó.

Mối quan hệ giữa Mỹ và Iraq đã chuyển từ đồng minh sang thù địch kể từ khi Iraq đem quân xâm lược Kuwait (một đồng minh của Mỹ) năm 1990, dẫn đến cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Trong vòng một thập kỷ sau đó, Hoa Kỳ cùng với LHQ đã áp đặt các biện pháp trừng phạt khắc nghiệt đối với Iraq, khiến kinh tế nước này rơi vào khủng hoảng. Năm 2003, Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ đã đạt được sự đồng thuận về một cuộc xâm lược Iraq. Chính quyền Bush viện dẫn lý do cho cuộc xâm lược rằng Iraq đang sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDs) [19], và chính phủ Iraq đang đặt ra mối đe dọa đối với Hoa Kỳ cũng như các đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực [20][21]. Một số quan chức Hoa Kỳ tin rằng Saddam đang chứa chấp và hỗ trợ al-Qaeda [22], bản thân Saddam Hussein cũng đã từng bày tỏ sự hả hê trên báo chí khi chứng kiến nước Mỹ bị khủng bố trong sự kiện ngày 11-9-2001 [23]). Tuy vậy nhìn chung đa số dư luận Mỹ ủng hộ cuộc chiến với mong muốn chấm dứt chế độ độc tài đàn áp và mang lại nền dân chủ cho nhân dân Iraq [24][25] (76% người Mỹ ủng hộ hành động quân sự chống lại Iraq [26]). Ước tính chế độ Saddam Hussein đã gây ra cái chết của 250.000 người Iraq thông qua các chiến dịch thanh trừng và diệt chủng trong hơn 30 năm cầm quyền [27]..

Năm 2004, Ủy ban 9/11 của Mỹ kết luận không có bằng chứng nào về mối quan hệ giữa chế độ Saddam Hussein và al-Qaeda [28] và không tìm thấy kho dự trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc chương trình sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt nào đang hoạt động ở Iraq [29]. Việc chính phủ Mỹ tin rằng Iraq đang sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt đã được chứng minh là do thông tin tình báo bị sai lệch [30].

Sau khi cuộc xâm lược diễn ra thành công và Saddam Hussein bị lật đổ, Iraq đã tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng vào năm 2005. Nouri al-Maliki trở thành Thủ tướng năm 2006 và giữ chức vụ cho đến năm 2014. Khoảng trống quyền lực sau sự sụp đổ của chính phủ Saddam và sự quản lý sai lầm của chính phủ mới đã dẫn đến bạo lực giáo phái lan rộng giữa các nhóm Hồi giáo ShiaSunni ở trong nước, cùng với đó là một cuộc nổi dậy kéo dài chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh. Nhiều nhóm nổi dậy bạo lực ở Iraq đã được Iranal-Qaeda tài trợ. Hoa Kỳ đã đáp trả bằng một đợt tăng cường quân số vào năm 2007 [31]. Sự gia tăng quân số của Mỹ đã mang lại sự an toàn cao hơn cho chính phủ cũng như quân đội và người dân Iraq, được nhìn nhận là một thành công lớn khi đất nước Iraq dần đi vào ổn định [32]. Sự can dự của Hoa Kỳ vào Iraq đã dần chấm dứt dưới thời Tổng thống Barack Obama. Hoa Kỳ chính thức rút tất cả quân đội chính quy khỏi Iraq vào tháng 12 năm 2011 [33]. Vào mùa hè năm 2014, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant (ISIS) đã phát động một cuộc tấn công quân sự ở miền bắc Iraq và tuyên bố ý định thành lập một caliphate Hồi giáo trên toàn thế giới, dẫn tới một cuộc can thiệp quân sự khác của Hoa Kỳ và các đồng minh vào Iraq để đối phó với mối đe dọa mới này.

Năm 2006, một cuộc thăm dò ý kiến cho thấy 61% người dân Iraq được hỏi tin rằng việc lật đổ Saddam Hussein là một điều đúng đắn.[34]

Bối cảnhSửa đổi

 
Tổng thống Saddam Hussein

Năm 1979, Saddam Hussein trở thành tổng thống Iraq, ông ta tiếp tục các cải cách xã hội và đàn áp các đối thủ chính trị của đảng Baath. Được Mỹ và cả Liên Xô cổ vũ, ông ta tiến hành chiến tranh chống Iran. Trong cuộc chiến này, quân đội Iraq đã rất nhiều lần thực hiện các vụ tấn công bằng vũ khí hóa học, trong đó có cả những vụ tấn công nhằm vào dân thường, chẳng hạn như ở thị trấn Sardasht [35]. Hầu hết những cuộc tấn công này đều được tiến hành theo mệnh lệnh của Saddam.

Trong nước, Saddam Hussein thực hiện chiến dịch đàn áp phong trào đòi độc lập của người Kurd. Trong vụ thảm sát được tiến hành theo chỉ đạo của Saddam Hussein tại làng Halabija, khoảng 3.200 đến 5.000 người Kurd đã thiệt mạng [36][37], đây là vụ tấn công bằng vũ khí hóa học lớn nhất nhằm vào thường dân trong lịch sử, cũng là vụ tấn công bằng vũ khí hóa học có quy mô lớn nhất trong lịch sử hiện đại [38][39]. Trong chiến dịch quân sự ở Anfal (còn gọi là “Diệt chủng Anfal”), quân đội chính phủ Iraq đã giết chết khoảng 50.000-182.000 người Kurd [40]. Ước tính chế độ Saddam Hussein đã gây ra cái chết của 250.000 người Iraq thông qua các chiến dịch thanh trừng và diệt chủng trong hơn 30 năm cầm quyền [27].

Sự phản đối mạnh mẽ của thế giới đối với chế độ độc tài của Saddam Hussein đã bắt đầu kể từ khi Iraq đem quân xâm chiếm Kuwait năm 1990 [41]. Cộng đồng quốc tế đã lên án mạnh mẽ cuộc xâm lược này, và đến năm 1991, một liên minh quân sự do Hoa Kỳ lãnh đạo đã phát động Chiến tranh vùng Vịnh và thành công trong việc đánh đuổi quân đội Iraq ra khỏi lãnh thổ Kuwait.

Sau chiến tranh vùng Vịnh, Mỹ và các đồng minh đã thực hiện nhiều biện pháp để làm suy yếu chế độ Hussein. Những biện pháp này bao gồm các lệnh trừng phạt kinh tế rất khắc nghiệt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khiến cho nền kinh tế Iraq rơi vào khủng hoảng; việc thực thi các khu vực cấm bay tại Iraq mà Mỹ và Anh tuyên bố là để bảo vệ cộng đồng người Kurd và người Hồi giáo Shia; cùng với đó là các cuộc thanh tra nhằm đảm bảo sự tuân thủ của Iraq đối với các nghị quyết của Liên Hợp Quốc liên quan đến kho vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq.

Các cuộc thanh tra này được tiến hành bởi Ủy ban Đặc biệt của Liên Hợp quốc (UNSCOM), hợp tác với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, với mục đích đảm bảo rằng chính phủ Iraq sẽ tuân thủ nghị quyết của LHQ và phá hủy tất cả các kho dự trữ cũng như các cơ sở sản xuất vũ khí hóa học, vũ khí sinh học hoặc vũ khí hạt nhân trên toàn lãnh thổ nước này [42]. Trong khoảng một thập kỷ sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã thông qua 16 nghị quyết kêu gọi Iraq loại bỏ hoàn toàn kho vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nhiều quốc gia thành viên của LHQ cáo buộc rằng chính phủ Iraq đã liên tục cản trở công việc thanh tra của Ủy ban đặc biệt và không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ giải giáp vũ khí hủy diệt hang loạt. Các quan chức chính phủ Iraq cũng đã nhiều lần quấy rối các thanh tra viên LHQ và không cho các thanh tra viên thực hiện công việc của mình [42]. Đáp trả những cáo buộc này, vào tháng 8 năm 1998 Saddam Hussein đã đình chỉ hoàn toàn việc hợp tác với các thanh tra viên LHQ và trục xuất họ về nước, ông còn cáo buộc rằng những người thanh tra viên này là “gián điệp của Mỹ” [43].

Vào tháng 10 năm 1998, lật đổ chính quyền Saddam Hussein đã trở thành trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với việc ban hành Đạo luật Giải phóng Iraq. Đạo luật này đã cung cấp 97 triệu USD cho các "tổ chức dân chủ đối lập" ở Iraq để "thiết lập một chương trình hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ ở Iraq" [44]. Đạo luật này trái ngược với các điều khoản được quy định trong Nghị quyết 687 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, vốn chỉ tập trung vào chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq mà không đề cập gì đến việc thay đổi chế độ [45]. Một tháng sau khi Đạo luật Giải phóng Iraq được thông qua, Hoa KỳVương quốc Anh đã phát động một chiến dịch ném bom lãnh thổ Iraq có tên là "Chiến dịch Cáo sa mạc". Mục tiêu của chiến dịch này là cản trở khả năng sản xuất vũ khí hóa học, vũ khí sinh học và vũ khí và hạt nhân của chính phủ Saddam Hussein, nhưng chính phủ Mỹ cũng hy vọng nó cũng sẽ làm suy giảm sức mạnh của Saddam [46].

Sau khi George W. Bush giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000, chính phủ Mỹ đã quyết tâm thực hiện một chính sách cứng rắn hơn đối với Iraq. Nền tảng chiến dịch của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 2000 đã kêu gọi "thực hiện đầy đủ" Đạo Luật Giải phóng Iraq như một điểm khởi đầu trong kế hoạch tiêu diệt Saddam [47].

Các sự kiện trước cuộc chiến tranhSửa đổi

 
Các chú thích của cuộc họp về những lý do có thể được sử dụng để biện minh cho cuộc xâm lược Iraq

Sau vụ khủng bố ngày 11/9, đội an ninh quốc gia của chính quyền Bush đã thảo luận nghiêm túc về một cuộc xâm lược Iraq. Tổng thống Bush đã bàn bạc với Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld vào ngày 21 Tháng 11 và đưa ra những chỉ đạo cho Rumsfield về việc tiến hành kế hoạch xâm chiếm Iraq có mật danh “OPLAN 1003” [48].

Tổng thống Bush bắt đầu công khai ý định của ông về một cuộc can thiệp quân sự vào Iraq trong Bản Thông điệp Liên bang tháng 1 năm 2002, trong đó ông gọi Iraq là một trong ba thành viên của “Trục Ma quỷ” (cùng với IranBắc Triều Tiên) và tuyên bố rằng "Hoa Kỳ sẽ không cho phép các chế độ nguy hiểm nhất thế giới này đe dọa chúng ta bằng thứ vũ khí nguy hiểm nhất thế giới" [49]. Bush cũng thể hiện quyết tâm lật đổ chính quyền Saddam Hussein của Hoa Kỳ với cộng đồng quốc tế trong bài phát biểu ngày 12 tháng 9 năm 2002 trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc [50].

Vào tháng 10 năm 2002, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua " Nghị quyết Iraq", cho phép Tổng thống "sử dụng mọi biện pháp cần thiết" để chống lại Iraq. Hầu hết người Mỹ tin rằng Saddam đang sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đến tháng 2 năm 2003, 64% người Mỹ ủng hộ tiến hành một chiến dịch quân sự nhằm lật đổ Saddam Hussein [51].

Vào ngày 5 tháng 2 năm 2003, Ngoại trưởng Colin Powell đã có một bài phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để đưa ra bằng chứng cho thấy chính quyền Iraq đang che giấu việc sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuy nhiên, các thông tin mà Powell nêu ra hầu hết đều dựa trên tuyên bố của Rafid Ahmed Alwan al-Janabi, mang biệt danh "Curveball", là một người Iraq đang sống lưu vong ở Đức thời điểm đó. “Curveball” kể rằng anh ta từng là một kỹ sư hóa học làm việc tại một nhà máy sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt bí mật của Iraq, và CIA đã sử dụng lời khai của “Curveball” làm cơ sở để cáo buộc chính quyền Saddam vẫn chưa từ bỏ chương trình chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuy vậy câu chuyện của Al-Janabi về sau đã được Nhóm điều tra về Iraq của chính phủ Mỹ xác nhận là không chính xác [30]. Có thể thấy việc chính phủ Mỹ một mực khẳng định rằng Iraq “sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt” hoàn toàn là do thông tin tình báo bị sai lệch, và Mỹ không hề ngụy tạo bằng chứng để làm cớ cho việc tiến hành chiến tranh.

Vào tháng 3 năm 2003, Hoa Kỳ cùng với các đồng minh của họ là Vương quốc Anh, Ba Lan, Úc, Tây Ban Nha, Đan MạchÝ đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc xâm lược Iraq với một loạt các động thái quân sự, trong khi Pháp, Đức, Canada cùng với Nga đã phản đối kế hoạch này và kêu gọi một giải pháp ngoại giao. Trong một bài phát biểu trước toàn quốc vào ngày 17 tháng 3 năm 2003, Bush yêu cầu Saddam và hai con trai của ông ta là Uday và Qusay hãy đầu hàng và rời khỏi Iraq trong vòng 48 giờ [52].

Hạ viện Anh đã tổ chức một cuộc bỏ phiếu để quyết định về việc nên hay không nên tiến hành chiến tranh vào ngày 18 tháng ba năm 2003, và kết quả là số nghị sĩ ủng hộ chiến tranh đã áp đảo với 412 phiếu [53]. Có ba bộ trưởng thuộc chính phủ Anh đã từ chức để phản đối cuộc chiến là John Denham, Lord Hunt of Kings Heath, và lãnh đạo Hạ viện Robin Cook.

Đánh giáSửa đổi

Năm 2015, Thủ tướng Anh Tony Blair trong cuộc phỏng vấn với CNN đã thừa nhận các báo cáo về việc sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Iraq là sai sự thật. Tuy nhiên ông cho rằng lật đổ Saddam là việc nên làm, bởi Saddam là một nhà độc tài tàn bạo, kẻ đã gây nên cái chết của khoảng hơn 250.000 người.[54] George W. Bush cho biết mình cảm thấy "thất vọng" về thông tin tình báo bị sai lệch, nhưng ông cũng cho rằng việc lật đổ Saddam là điều cần thiết: "Tôi hoàn toàn nhận thức được rằng cơ quan tình báo CIA đã sai, và tôi cũng thất vọng như mọi người. Nhưng những điều không thể phủ nhận được là Saddam Hussein đã từng xâm lược một đất nước, ông ta đã từng sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt, ông ta có khả năng sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt, ông ta bắn vào phi công của chúng ta. Ông ta là một nhà tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố. Tiêu diệt Saddam Hussein là điều đúng đắn để đảm bảo nền hòa bình thế giới và an ninh cho đất nước của chúng ta".[55]

Người dân Iraq chào đón lính Mỹ tiến quân vào Baghdad để lật đổ Hussein

Khi Hussein bị lật đổ, nhiều người dân Iraq đã đổ ra đường ăn mừng và còn cùng nhau kéo sập bức tượng khổng lồ của ông ta[56] Khi Saddam Hussein bị treo cổ, nhiều kẻ thù của Saddam đã nổ súng chào mừng. Năm 2006, một cuộc thăm dò ý kiến cho thấy 52% số người Iraq được hỏi tin rằng đất nước Iraq đang đi đúng hướng và 61% cho rằng việc lật đổ Saddam Hussein là một điều đúng đắn.[34]

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Graham, Bradley (ngày 7 tháng 4 năm 2003). “U.S. Airlifts Iraqi Exile Force For Duties Near Nasiriyah”. Washington Post. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ John Pike (ngày 14 tháng 3 năm 2003). “Free Iraqi Forces Committed to Democracy, Rule of Law - DefenseLink”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  3. ^ “Deploying the Free Iraqi Forces – U.S. News & World Report”. Usnews.com. Ngày 7 tháng 4 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  4. ^ a ă Kim Ghattas (ngày 14 tháng 4 năm 2003). “Syrians join Iraq 'jihad'. BBC News. 
  5. ^ “UK | Profile: Air Marshal Sir Brian Burridge”. BBC News. Ngày 8 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  6. ^ "Military Factfiles." BBC factfiles about the invasion of Iraq.
  7. ^ “Surrogate Warfare: The Role of U.S. Army Special Forces – MAJ Isaac J. Peltier, US Army – p. 2” (PDF). Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013. 
  8. ^ "Iraq Coalition Casualties: Fatalities by Year and Month" iCasualties.org. Bản mẫu:Retrieved
  9. ^ Arab media
  10. ^ Willing to face Death: A History of Kurdish Military Forces - the Peshmerga - from the Ottoman Empire to Present-Day Iraq (page 67), Michael G. Lortz
  11. ^ "Secretary of Defense Interview with Bob Woodward - 23 Oct, 2003". United States Department of Defense: News Transcript. ngày 19 tháng 4 năm 2004.
  12. ^ a ă “The Wages of War: Iraqi Combatant and Noncombatant Fatalities in the 2003 Conflict | Commonwealth Institute of Cambridge”. Comw.org. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  13. ^ “Wages of War – Appendix 1. Survey of reported Iraqi combatant fatalities in the 2003 war | Commonwealth Institute of Cambridge”. Comw.org. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  14. ^ "Body counts". By Jonathan Steele. The Guardian. ngày 28 tháng 5 năm 2003.
  15. ^ Iraq Body Count project. Source of IBC quote on undercounting by media is [1].
  16. ^ Gordon, Michael; Trainor, Bernard (ngày 1 tháng 3 năm 1995). The Generals' War: The Inside Story of the Conflict in the Gulf. New York: Little Brown & Co. 
  17. ^ Collins, Dan. “Congress Says Yes To Iraq Resolution”. CBS News. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2019. 
  18. ^ “Iraq War | 2003–2011”. Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017. 
  19. ^ “Raw Data: Text of Resolution on Iraq”. Fox News. Associated Press. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  20. ^ Center for American Progress (ngày 29 tháng 1 năm 2004) "In Their Own Words: Iraq's 'Imminent' Threat" Lưu trữ 2016-01-15 tại Wayback Machine americanprogress.org
  21. ^ Senator Bill Nelson (ngày 28 tháng 1 năm 2004) "New Information on Iraq's Possession of Weapons of Mass Destruction", Lưu trữ 2016-04-20 tại Wayback Machine Congressional Record
  22. ^ “Saddam's al Qaeda Connection”. The Weekly Standard. 
  23. ^ “Attacks draw mixed response in Mideast”. CNN. Ngày 12 tháng 9 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  24. ^ "President Discusses the Future of Iraq" Lưu trữ 2016-08-01 tại Wayback Machine The White House, ngày 26 tháng 2 năm 2003
  25. ^ "Bush Sought 'Way' To Invade Iraq?" Lưu trữ 2013-10-08 tại Wayback Machine 60 Minutes
  26. ^ “Seventy-Two Percent of Americans Support War Against Iraq”. Gallup. Ngày 24 tháng 3 năm 2003. 
  27. ^ a ă “War in Iraq: Not a Humanitarian Intervention”. Human Rights Watch. Ngày 25 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2017. Having devoted extensive time and effort to documenting [Saddam's] atrocities, we estimate that in the last twenty-five years of Ba'ath Party rule the Iraqi government murdered or 'disappeared' some quarter of a million Iraqis, if not more. 
  28. ^ “Cheney on torture report: Saddam Hussein 'had a 10-year relationship with al-Qaida'. @politifact (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  29. ^ “The Iraq War and WMDs: An intelligence failure or White House spin?”. The Washington Post. 2019. 
  30. ^ a ă Ferran, Lee (ngày 15 tháng 2 năm 2011). “Iraqi Defector 'Curveball' Admits WMD Lies, Is Proud of Tricking U.S.”. ABC News. 
  31. ^ “Timeline: Invasion, surge, withdrawal; U.S. forces in Iraq”. Reuters. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  32. ^ Hanson, Victor Davis. “Iraq and Afghanistan: A tale of two surges”. CBS News. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  33. ^ Feller, Ben (ngày 27 tháng 2 năm 2009). “Obama sets firm withdrawal timetable for Iraq”. Yahoo! News. Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2009. 
  34. ^ a ă “The Iraqi Public on the U.S. Presence and the Future of Iraq” (PDF). World Public Opinion. Ngày 27 tháng 9 năm 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  35. ^ Daraghai, Borzou. “1987 Chemical Strike Still Haunts Iran”. Los Angeles Times. 
  36. ^ “BBC ON THIS DAY | 16 | 1988: Thousands die in Halabja gas attack”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  37. ^ “Halabja, the massacre the West tried to ignore”. The Times. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  38. ^ 1988 Kurdish massacre labeled genocide, United Press International (UPI), ngày 8 tháng 3 năm 2010
  39. ^ “Chemical Weapons Programs – Iraq Special Weapons Facilities”. Federation of American Scientists. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  40. ^ The Crimes of Saddam Hussein – 1988 The Anfal Campaign PBS Frontline
  41. ^ "World Acts Against Iraqi Invasion of Kuwait." Lưu trữ 2016-09-21 tại Wayback Machine. GlobalSecurity.org.
  42. ^ a ă Zilinskas, Raymond A., "UNSCOM and the UNSCOM Experience in Iraq", Politics and the Life Sciences, Vol. 14, No. 2 (Aug. 1995), 230.
  43. ^ Robert Fisk (ngày 18 tháng 12 năm 2007). The Great War for Civilisation: The Conquest of the Middle East. Knopf Doubleday Publishing Group. ISBN 978-0-307-42871-4.  Digital copy, does not include page numbers.
  44. ^ “Iraq Liberation Act of 1998 (Enrolled as Agreed to or Passed by Both House and Senate)”. Library of Congress. Ngày 31 tháng 10 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2006. 
  45. ^ “Resolution 687 (1991)”. Ngày 8 tháng 4 năm 1991. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2006. 
  46. ^ William, Arkin (ngày 17 tháng 1 năm 1999). “The Difference Was in the Details”. The Washington Post. tr. B1. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007. 
  47. ^ “Republican Platform 2000”. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2006. 
  48. ^ Bob Woodward (2004). Plan of Attack: The Definitive Account of the Decision to Invade Iraq. Simon & Schuster. ISBN 978-0743255486. [cần số trang]
  49. ^ “President Delivers State of the Union Address”. georgewbush-whitehouse.archives.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2009. 
  50. ^ George W. Bush, "President's Remarks at the United Nations General Assembly: Remarks by the President in Address to the United Nations General Assembly, New York City", official transcript, press release, The White House, ngày 12 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2007.
  51. ^ "Poll: Talk First, Fight Later". CBS.com, ngày 24 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007.
  52. ^ “President Says Saddam Hussein Must Leave Iraq Within 48 Hours” (Thông cáo báo chí). White House Office of the Press Secretary. Ngày 17 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010. 
  53. ^ “Division No. 117 (Iraq)”. Hansard (Parliament of the United Kingdom) 401 (365). Ngày 18 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  54. ^ "War in Iraq: Not a Humanitarian Intervention". Human Rights Watch. 2004-01-25. Truy cập 2017-05-31. "Having devoted extensive time and effort to documenting [Saddam's] atrocities, we estimate that in the last twenty-five years of Ba'ath Party rule the Iraqi government murdered or 'disappeared' some quarter of a million Iraqis, if not more".
  55. ^ Bush Said to Authorize Prewar Iraq Intelligence Leak
  56. ^ Anton Antonowicz, "Toppling Saddam's Statue Is The Final Triumph For These Oppressed People", The Mirror, 10 tháng 4 năm 2003.

Liên kết ngoàiSửa đổi

  Phương tiện liên quan tới Iraq War tại Wikimedia Commons

Tin tức từ Ân xá Quốc tế: