Chủ nghĩa Trung Quốc trung tâm

Chủ nghĩa trung hoa trung quốc.
(đổi hướng từ Dĩ Hoa vi Trung)

Chủ nghĩa Trung Quốc trung tâm đề cập tới một hệ tư tưởng cho rằng Trung Quốc là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của thế giới.

Tổng quan và bối cảnhSửa đổi

Tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử, chủ nghĩa Trung Quốc trung tâm có thể đề cập đến chủ nghĩa vị chủng xã hội và văn hóa Hán, hoặc khái niệm hiện đại về Trung Hoa dân tộc, phổ biến trong giới tinh hoa Trung Quốc cho tới tận cuối thời nhà Thanh. Khái niệm này dần biến mất vào thế kỷ 19, chịu thêm một vài đòn tác động mạnh vào thế kỷ 20, và kết quả là không còn được phổ biến rộng rãi với người Trung Quốc ngày nay.

Trong thời tiền hiện đại, người ta thường coi Trung Quốc là nền văn minh tân tiến nhất trên thế giới, và các nhóm dân tộc bên ngoài hoặc các quốc gia khác đều không được văn minh ở nhiều mức độ khác nhau, một kiểu phân biệt gọi là Hoa Di chi biện.

Hệ thống Trung Quốc trung tâmSửa đổi

Hệ thống Trung Quốc trung tâm là một hệ thống thứ bậc các mối quan hệ quốc tế rất phổ biến ở Đông Á trước khi hệ thống Westphalian được áp dụng trong thời hiện đại. Các quốc gia láng giềng như Nhật Bản (đã cắt đứt quan hệ chư hầu với Trung Quốc vào thời kỳ Asuka, vì tự coi mình là một nền văn hóa bình đẳng, riêng biệt), Hàn Quốc, Vương quốc Lưu Cầu và Việt Nam được coi là nước chư hầu của Trung Quốc. Mối quan hệ của Đế quốc Trung Quốc với các nước chư hầu được hiểu là mối quan hệ triều cống mà theo đó mỗi nước chư hầu đều phải dâng cống phẩm cho Hoàng đế Trung Quốc. Những khu vực không chịu ảnh hưởng của hệ thống Trung Quốc trung tâm thì được gọi là Hoa ngoại chi địa.

Trung tâm của hệ thống Trung Quốc trung tâm là Trung Quốc, được cai trị bởi một triều đại giành được Thiên mệnh, gọi là "Thiên triều". Thiên triều, đặc trưng bởi đạo lý và phép tắc Nho giáo, được coi là nền văn minh nổi bật nhất thế giới; Hoàng đế Trung Quốc là hoàng đế hợp pháp duy nhất trên khắp thiên hạ.

Theo cách sắp xếp mối quan hệ ngoại giao trên, chỉ có Trung Quốc mới được sử dụng tước hiệu hoàng đế còn các quốc gia khác thì được cai trị bởi những vị quốc vương. Hoàng đế Trung Quốc được coi là Thiên tử. Nguyên tắc này bị phá bỏ khi người Nhật dùng từ Thiên hoàng để gọi nhà cai trị Nhật Bản. Trong suốt chiều dài lịch sử, người Hàn Quốc từng gọi nhà cai trị của họ là Thái vương, phù hợp với tín ngưỡng Thiên tôn.

Việc xác định miền đất trung tâm và tính kế tục triều đại hợp pháp đều là những khía cạnh thiết yếu trong hệ thống Trung Quốc trung tâm. Ban đầu miền đất trung tâm này đồng nghĩa với vùng Trung Nguyên, một khu vực được mở rộng thông qua các cuộc xâm lược và chinh phục trong nhiều thế kỷ. Tính kế tục của triều đại đôi khi phải chịu những thay đổi căn bản trong cách giải thích, chẳng hạn như vào thời Nam Tống khi triều đại cai trị đánh mất miền đất trung tâm truyền thống vào tay rợ phương bắc. Bao quanh miền đất trung tâm là một số vòng tròn đồng tâm. Các dân tộc thiểu số địa phương không được tính là "ngoại quốc". Tuy nhiên, chúng được quản lý bởi những nhà lãnh đạo bản xứ gọi là thổ ty, được triều đình Trung Quốc công nhận và được miễn trừ khỏi hệ thống quan liêu Trung Quốc.

Bên ngoài vòng tròn đầu tiên là các nước chư hầu phải dâng triều cống cho Hoàng đế Trung Quốc. Qua hoạt động triều cống, Trung Quốc thể hiện quyền bá chủ khu vực của mình. Dưới thời nhà Minh, khi hệ thống triều cống đạt tới đỉnh cao, các nước triều cống được phân thành nhóm. Nhóm nước chư hầu đông nam thứ nhất bao gồm một số nước lớn ở Đông Á và Đông Nam Á, như Triều Tiên, Nhật Bản, Vương quốc Lưu Cầu, Việt Nam, Thái Lan, Champa và Java. Nhóm nước chư hầu đông nam thứ hai gồm các nước như Sulu, Malacca và Sri Lanka. Nhiều nước trong số này là các quốc gia độc lập thời hiện đại.

Ngoài ra, còn nhóm nước chư hầu phía bắc, đông bắc, và hai nhóm lớn phía tây (từ Sơn Tây, phía tây Lan Châu, và Tân Cương ngày nay). Không có quốc gia nào trong các nhóm kể trên tồn tại tới thời hiện đại với tư cách là một chính thể độc lập hoặc riêng biệt.

Tình hình phức tạp do chính một số nước triều cống lại có các chi lưu triều cống của riêng họ.