Mở trình đơn chính

Doãn Lễ (chữ Hán: 允禮; tiếng Mãn: ᠶᡡᠨ ᠯᡳᡳtiếng Mãn Châu:yūn lii; 24 tháng 3, 1697 - 21 tháng 3, 1738), Ái Tân Giác La, hiệu Xuân Hòa đường (春和堂), Xuân Hòa chủ nhân (春和主人) hay Tĩnh Viễn trai (静远斋), là Hoàng tử thứ 17 tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Doãn Lễ
允禮
Hoàng tử nhà Thanh
Yinli by Mang Huli.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫuNữu Hỗ Lộc thị
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La·Doãn Lễ
(爱新觉罗·允禮)
Thụy hiệu
Quả Nghị Thân vương
(果毅親王)
Thân phụThanh Thánh Tổ
Thân mẫuThuần Dụ Cần phi
Sinh(1697-03-24)24 tháng 3, 1697
Mất21 tháng 3, 1738(1738-03-21) (40 tuổi)
An tángThượng Nhạc Các trang, Hà Bắc

Tiểu sửSửa đổi

Hoàng tử Doãn Lễ, nguyên tên là Dận Lễ (胤禮), sinh ngày 2 tháng 3 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 36 (1697), là người con duy nhất của Thuần Dụ Cần phi Trần thị, xuất thân người Hán. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã bộc lộ là một người thông minh, học giỏi nhưng khác với các Hoàng tử khác ông không hề có tham vọng với ngai vàng. Ông được đánh giá là một người khôn ngoan và cẩn trọng, có nhiều đóng góp cho triều đình. Khi Ung Chính Đế lên ngôi, ông đổi tên thành [Doãn Lễ] để tránh phạm huý.

Tháng 4 năm Ung Chính nguyên niên (1723), ông được ban tước Đa La Quả Quận vương (多羅果郡王). Phong hiệu “Quả” của Doãn Lễ, Mãn văn là 「kengse」, ý là “Quyết đoán”, “Quả cảm”; phủ đệ của ông nằm ở cửa Tây của Đông Quan viên (東官園) phía thành Đông, Bắc Kinh. Phủ chia làm hai bộ phận là Tây lộ cùng Đông lộ, lấy Tây lộ làm chủ thể, cửa chính 5 gian, chính điện 7 gian, điện thờ phụ 7 gian, hậu điện 5 gian, tẩm điện cùng Hậu trảo điện đều 7 gian. Phía Đông có khu sinh hoạt, trong đó có có hoa viên.

Về sau, Doãn Lễ nhiều lần đảm nhiệm sự vụ của Võ Anh điện, Tiên phong thống lĩnh Hộ quân Thống lĩnh, rồi lần lượt đảm nhiệm chức Đô thống của Hán quân Tương Lam kỳ và Mãn Châu Tương Hồng kỳ, lại quản lý sự vụ của Lý Phương viện (理藩院). Năm thứ 3 (1725), ông được tăng bổng lộc và cận vệ lên hàng Thân vương vì sự siêng năng và trung thực.

Năm Ung Chính thứ 6 (1728), ông được thăng làm Hòa Thạc Quả Thân vương (和碩果親王) và được bổ nhiệm vào Quân cơ xứ, cơ quan quyền lực bậc nhất thời nhà Thanh lúc bấy giờ. Với cương vị Quân cơ đại thần, ông được giao các nhiệm vụ quan trong như hộ tống Đạt Lai Đạt Ma trở về Tây Tạng và kiểm tra quân đội đóng trên đường đi. Ông cũng được biết đến là một nhà bảo trợ và học giả của Phật giáo Tây Tạng. Về sau, Doãn Lễ lần lượt tổng lý sự vụ các Công bộ, Viên Minh viên Bát kỳ, Hộ bộ Tam khố và Tông Nhân phủ. Khi Ung Chính Đế băng hà, Doãn Lễ là một trong những người được mệnh phụ chính, tổng lý sự vụ giúp Càn Long Đế vừa lên ngôi.

Năm Càn Long thứ 3 (1738), ngày 2 tháng 2 (âm lịch), Quả Thân vương Doãn Lễ qua đời khi 42 tuổi, được truy phong thụy hiệuNghị (毅). Ông được táng ở Thượng Nhạc Các trang (上岳各莊) tại huyện Dễ, tỉnh Hà Bắc.

Tương quanSửa đổi

Nhìn chung, Quả Nghị Thân vương Doãn Lễ là một người em khá được trọng dụng của Ung Chính Đế, địa vị có thể tương đương một chi Di Hiền Thân vương Dận Tường và Trang Khác Thân vương Doãn Lộc. Sinh thời Doãn Lễ đặc biệt yêu thích và có tài năng trong các lĩnh vực thư pháp và thơ ca. Ngoài ra, ông cũng rất yêu thích du lịch và đã đi thăm gần hết các ngọn núi nổi tiếng ở Tứ Xuyên. Vì giỏi thư họa và thi từ, Doãn Lễ có các tác phẩm như “Tĩnh Viễn trai thi tập” (靜遠齋詩集) không phân quyển, “Xuân Hòa đường thi tập” (春和堂詩集) 2 quyển, “Phụng sứ ký hành thi” (奉使紀行詩) 1 quyển, “Xuân Hòa đường kỷ ân thi” (春和堂紀恩詩) 1 quyển, “Tuyết song tạp vịnh” (雪窗雜詠) 1 quyển cùng “Xuân Hòa đường toàn tập” (春和堂全集) 8 quyển.

Khi còn sống, Doãn Lễ chỉ có một con trai, nhưng cũng chết yểu, khi ông qua đời thì đã hoàn toàn tuyệt tự. Càn Long Đế hạ chỉ: [“Quả Thân vương hoăng thệ. Trẫm niệm tình thân, tước vị nên nối tiếp truyền đời, nhưng Vương qua đời lại không con, làm sao có thể kế tục truyền tước được. Nay mệnh Trang Thân vương, Hòa Thân vương, Thận Quận vương, Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái và Trương Đình Ngọc hội nghị cụ tấu”]. Sau, các đại thần kiến nghị đem em út của Càn Long Đế là Hoàng lục tử Hoằng Chiêm làm kế tự cho Quả vương phủ, Cao Tông ra chỉ dụ: [“Phụng vấn Hoàng thái hậu, theo Hoàng thái hậu ý chỉ, cũng như có kiến nghị từ các Vương đại thần, nay lệnh Lục a ca Hoằng Chiêm tập phong Quả Thân vương”]. Do vậy Hoằng Chiêm nhập Quả vương phủ, trở thành Kế tổ của dòng dõi này.

Quả vương phủ một chi nhập kỳ, được phân đến “Hữu dực cận chi Chính Hồng kỳ đệ nhất tộc”, cùng một kỳ tịch với Thành vương phủ (hậu duệ Vĩnh Tinh), Bối lặc Vĩnh Cơ phủ và Chung vương phủ (hậu duệ Dịch Hỗ). Về sau, Quả vương phủ nam duệ không có nhiều, trên phương diện lịch sử cũng không thấy điều gì nổi trội. Từ năm 1937, hậu duệ nam giới của Quả vương phủ lưu lại chỉ còn 10 người, sau đó cũng không thấy tung tích, có khả năng đã hoàn toàn tuyệt tự. Phủ đệ về sau cũng bị trao cho Thụy Thân vương Miên Hân, một chi Quả vương phủ phải dọn đến Mạnh Đoan hồ đồng (孟端胡同).

Gia quyếnSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

  • Đích Phúc tấn: Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏), con gái của Quả Nghị công A Linh A (阿靈阿), cháu gái của Át Tất Long.
  • Trắc Phúc tấn: Mạnh thị (孟氏), con gái của Đạt Sắc (達色).

Hậu duệSửa đổi

  • Trưởng tử (1732), sinh ngày 16 tháng 4 năm Ung Chính thứ 10, giờ Tuất. Qua đời ngày 8 tháng 10 cùng năm, khi được 6 tháng tuổi, mẹ là Mạnh thị.
  • Trưởng nữ (1734 - 1735), chết non, mẹ là Mạnh thị.
  • Thừa tự: Quả Cung Quận vương Hoằng Chiêm [弘曕], con trai thứ 10 của Ung Chính Đế.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi