Doãn Thì (chữ Mãn:ᠶᡡᠨ ᡷᡳ, âm Mãn: Yvn Jy, chữ Hán: 允禔, bính âm: Yūn Jy; 12 tháng 3 năm 1672 - 7 tháng 1 năm 1735), là Hoàng trưởng tử tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. [1]

Dận Thì
胤禔
Hoàng tử nhà Thanh
Thông tin chung
Phối ngẫuxem văn bản
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Dận Thì
(爱新觉罗胤禔)
Ái Tân Giác La Doãn Thì
(爱新觉罗允禔)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụThanh Thánh Tổ Khang Hi Đế
Thân mẫuHuệ phi
Sinh(1672-03-12)12 tháng 3, 1672
Mất7 tháng 1, 1735(1735-01-07) (62 tuổi)

Tiểu sửSửa đổi

Doãn Thì nguyên danh là Bảo Thanh (保清), sau đổi thành Dận Thì (chữ Mãn:ᡳᠨ ᡷᡳ, chữ Hán: 胤禔, bính âm: In Jy) sinh vào giờ Ngọ ngày 14 tháng 2 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 11 (1672) [2][3]. Sau khi 4 người con trai đầu tiên chết yểu, theo quy định không xếp thứ tự [4], ông được chỉ định là "Hoàng trưởng tử", là người con trai cả tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành của Khang Hi Đế. Sinh mẫu của ông là Huệ phi, là một trong những phi tần đầu tiên của Khang Hi Đế.

Theo lệ, Hoàng tử lúc nhỏ sẽ được dưỡng ngoài cung nên ông được nuôi dưỡng ở phủ Nội vụ phủ Tổng quản Cát Lộc (噶禄), thúc bá của Thành phi.

Năm Khang Hi thứ 29 (1690), Khang Hi Đế mệnh ông làm phó tướng cho Dụ Thân vương Phúc Toàn cùng chống cự Mông Cổ Cát Nhĩ Đan, nhưng vì hai người không chịu phối hợp mà ông bị gọi trở về. Năm thứ 35 (1696), ông lại theo Khang Hi Đế thân chinh đánh Cát Nhĩ Đan.

Năm thứ 37 (1698), ông được phong Trực Quận vương (直郡王) [5].

Năm thứ 47 (1708), vì hành vi ở tái ngoại, Khang Hi Đế phế ngôi vị Thái tử của Dận Nhưng (胤礽). Khang Hi Đế đã lệnh ông giám sát Dận Nhưng, suốt quãng đường từ tái ngoại về Kinh đều do ông trông chừng. 

Đoạt đíchSửa đổi

Dận Thì một lòng muốn đoạt đích kế thừa đại thống, ông tỉ mỉ chú ý thái độ của Khang Hi Đế đối với Hoàng Thái tử Dận Nhưng. Bắt đầu từ năm Khang Hi thứ 29 (1690) đến năm thứ 47 (1708), gần 20 năm trở lại, giữa Khang Hi Đế và Dận Nhưng phát sinh rất nhiều sự kiện dẫn đến quan hệ thay đổi. Cho đến khi sự kiện phế Thái tử lần đầu tiên xảy ra, ông cho rằng cơ hội cùng thời cơ để ông giành được Trữ vị đã đến.

Dận Thì có rất nhiều lợi thế trong việc tranh đoạt trữ vị: vị trí Trưởng tử, Đại học sĩ Nạp Lan Minh Châu là thúc tổ của ông, ông lại được Khang Hi Đế rất sủng ái. Vì có thể đoạt đích thành công, ông đã bỏ ra rất nhiều công sức

Ông cho rằng Khang Hi Đế lập đích bất thành ắt phải lập trưởng. Nhưng Khang Hi Đế đã phát hiện ra dã tâm của ông. Năm thứ 47 (1708), ngày 4 tháng 9, sau khi tuyên bố giam giữ Dận Nhưng, Khang Hi Đế tuyên dụ:

Dận Thì chỉ nhìn được cái lợi trước mắt, lại khuyên Khang Hi Đế xử tử Dận Nhưng, nói rằng: "Hôm nay (ta) muốn giết Dận Nhưng, không cần đợi Hoàng phụ ra tay" [6], Khang Hi Đế nghe được cực kì sửng sốt, ý thức được Dận Thì vì mưu đoạt trữ vị đã muốn giết Dận Nhưng, nếu thực hiện được thì hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Khang Hi Đế lần nữa phê bình Dận Thì:

Biết bản thân mình khó lòng tranh đoạt trữ vị, ông liền muốn đề cử Dận Tự, người có quan hệ mật thiết với mình nhất (thuở nhỏ Dận Tự do sinh mẫu của ông là Huệ phi nuôi dưỡng).

Ông lợi dụng việc Trương Minh Đức xem tướng, vì Dận Tự chế tạo dư luận, nói rằng: "Tương diện nhân Trương Minh Đức tằng tương Dận Tự, hậu tất đại quý"[7].Khang Hi Đế phái người truy xét, không chỉ tra ra sự tình xem tướng còn tra ra việc ông từng muốn mưu sát Hoàng Thái tử.

Tư liệu nguyên văn ghi chép:

Về sau, Hoàng tam tử Dận Chỉ tố giác ông cùng với một Vu thuật sư (Mông Cổ Lạt ma Ba Hán Cách Long) đi lại rất thân thiết, sau khi điều tra phát hiện ông sử dụng tà thuật hãm hại Dận Nhưng, âm mưu ám hại huynh đệ, còn có vật chứng. Mẹ ông là Huệ phi tuyệt vọng, tấu xưng với Khang Hi Đế rằng Dận Thì bất hiếu, xin Khang Hi xử trí. Khang Hi Đế tức giận, nhưng không nỡ giết nhi tử thân sinh, lệnh tước bỏ hết phong hiệu của ông (1708) và giam lỏng ông ngay tại phủ đệ, trông coi chặt chẽ. [8]

Năm thứ 48 (1709), tháng 4, lúc đang Tuần du Tái ngoại, Khang Hi Đế hạ xuống một đạo dụ chỉ:

Vương đại thần vội vàng thương nghị, quyết định phái 8 Hộ quân Tham lĩnh, 8 Hộ quân giáo, 18 Hộ quân của Bát kỳ vào phủ Dận Thì canh giữ. Khang Hi Đế vẫn chưa yên tâm, lại phái thêm Bối lặc Duyên Thọ (延寿), Bối tử Tô Nỗ (苏努), Công Ngạc Phi (公鄂飞), Đô thống Tân Thái (辛泰), Hộ quân Thống lĩnh Đồ Nhĩ Hải (图尔海), Trần Thái (陈泰) cùng 11 Chương kinh của Bát kỳ luân phiên theo dõi, còn dặn dò những quan viên này: "Nếu người nào bỏ rơi nhiệm vụ, gặp phải chính là tai ương diệt cửu tộc". [8]

Sau khi Ung Chính Đế lên ngôi đã đổi tên ông thành Doãn Thì để tránh kỵ huý. Doãn Thì qua đời vào năm Ung Chính thứ 12 (1735) [9], hưởng thọ 64 tuổi và được táng theo nghi lễ dành cho Bối tử (贝子).

Ung Chính Đế đã từng đánh giá về Dận Thì: [10]

"大阿哥残暴横肆, 暗行镇魇, 冀夺储位.

.

Đại a ca tàn bạo hoành tứ, ám hành trấn yểm, ký đoạt trữ vị"

Những lần xuất cungSửa đổi

Năm Tháng Mục đích Người đồng hành
1683 6 Nghỉ mát Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu, Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tam tử Dận Chỉ
1685 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng
1686 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tam tử Dận Chỉ, Hoàng tứ tử Dận Chân
1687 8 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tam tử Dận Chỉ, Hoàng tứ tử Dận Chân, Hoàng ngũ tử Dận Kì, Hoàng thất tử Dận Hựu, Hoàng bát tử Dận Tự
1692 2 Tuần du ngoại ô Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tứ tử Dận Chân
10 Yết lăng Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tam tử Dận Chỉ, Hoàng tứ tử Dận Chân
1693 2 Tuần du ngoại ô Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tam tử Dận Chỉ, Hoàng tứ tử Dận Chân, Hoàng ngũ tử Dận Kì, Hoàng thất tử Dận Hựu, Hoàng bát tử Dận Tự
8 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tam tử Dận Chỉ, Hoàng tứ tử Dận Chân, Hoàng ngũ tử Dận Kì, Hoàng thất tử Dận Hựu, Hoàng bát tử Dận Tự
1701 2 Tuần du ngoại ô Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tứ tử Dận Chân, Hoàng thập tam tử Dận Tường
5 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tam tử Dận Chỉ, Hoàng tứ tử Dận Chân, Hoàng ngũ tử Dận Kì, Hoàng thất tử Dận Hựu, Hoàng bát tử Dận Tự,

Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập tứ tử Dận Trinh, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc

1702 6 Nghỉ mát Tái ngoại Hiếu Trang Thái Hoàng Thái hậu, Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tứ tử Dận Chân,

Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập tứ tử Dận Trinh, Hoàng thập lục tử Dận Lộc

1703 5 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập tứ tử Dận Trinh, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc
1704 6 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng bát tử Dận Tự,

Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập tứ tử Dận Trinh, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc

1705 5 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc, Hoàng thập thất tử Dận Lễ
1706 2 Tuần du ngoại ô Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng tứ tử Dận Chân, Hoàng cửu tử Dận Đường, Hoàng thập tam tử Dận Tường
5 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc
Yết lăng Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng thập tam tử Dận Tường
1707 1 Nam tuần Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc
6 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng,

Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc, Hoàng thập thất tử Dận Lễ, Hoàng thập bát tử Dận Giới

1708 2 Tuần du ngoại ô Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc, Hoàng thập bát tử Dận Giới
5 Tuần du Tái ngoại Hoàng Thái tử Dận Nhưng, Hoàng thập tam tử Dận Tường, Hoàng thập tứ tử Dận Trinh, Hoàng thập ngũ tử Dận Vu, Hoàng thập lục tử Dận Lộc,

Hoàng thập thất tử Dận Lễ, Hoàng thập bát tử Dận Giới

Gia quyếnSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Nguyên phối: Y Nhĩ Căn Giác La thị (伊爾根覺羅氏), con gái của Thượng Thư Khoa Nhĩ Khôn (科爾坤), tằng tôn nữ của Mục Kỳ Nạp Cát Cáp (穆奇纳噶哈).
  • Kế thất: Trương Giai thị (張佳氏), con gái của Tổng binh quan Trương Hạo Thượng (張浩尚).

Thứ thiếpSửa đổi

  • Ngô Nhã thị (吳雅氏), con gái của Lang trung Ba Kỳ Nạp (巴奇納)
  • Quan thị (關氏), con gái của Ma Sắc (麻色)
  • Tiền thị (錢氏), không rõ xuất thân.
  • Nguyễn thị (阮氏), con gái của Nhã Đồ (雅圖)
  • Quách thị (郭氏), con gái của Quách Vĩnh (郭永)
  • Tấn thị (晉氏), con gái của Đạt Sắc (達色)
  • Phạm thị (范氏), con gái của Nhị Cách (二格)
  • Vương thị (王氏), con gái của Vương Trung (王忠)
  • Cao thị (高氏), con gái của Cao Đăng Khoa (高登科)
  • Lý thị (李氏), con gái của Lý Hạo Sơn (李浩山)
  • Triều thị (晁氏), không rõ xuất thân.

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Hoằng Dục (弘昱; 16961718), không con, mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị.
  2. Hoằng Phưởng (弘昉; 17041772), mẹ là Vương thị, thụ phong Phụng ân Trấn quốc công (1735). Có 9 con trai.
  3. Hoằng Vĩ (弘暐; 17051710), chết yểu, mẹ là Trương Giai thị.
  4. Hoằng Diệu (弘曜; 17071710), chết yểu, mẹ là Trương Giai thị.
  5. Ngũ tử (17091711), chết yểu, mẹ là Quan thị.
  6. Hoằng Hàm (弘晗; 17091755), mẹ là Tiền thị, thụ phong Nhị đẳng Thị vệ. Có 2 con trai.
  7. Hoằng Chước (弘旳; 17091741), mẹ là Nguyễn thị, thụ phong Tam đẳng Thị vệ. Có 7 con trai.
  8. Bát tử (17101711), chết yểu, mẹ là Trương Giai thị.
  9. Cửu tử (17151720), chết yểu, mẹ là Quách thị.
  10. Thập tử (17161720), chết yểu, mẹ là Ngô Nhã thị.
  11. Thập Nhất tử (17161719), chết yểu, mẹ là Tấn thị.
  12. Hoằng Thưởng (弘晌; 17181781), thụ phong Phụng ân Tướng quân (1773), mẹ là Trương Giai thị. Có 7 con trai.
  13. Hoằng Đồng (弘晍; 17231760), mẹ là Trương Giai thị, thụ phong Tam đẳng Thị vệ. Có 4 con trai.
  14. Hoằng Minh (弘明; 17321806), mẹ là Trương Giai thị, có 1 con trai.
  15. Hoằng Đồn (弘旽; 17321805), mẹ là Trương Giai thị, có 6 con trai.

Con gáiSửa đổi

  1. Trưởng nữ (16881711), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị. Năm 1706 hạ giá lấy Thai cát Đa Nhĩ Tể Sắc Lăng (多尔济色棱) của Khoa Nhĩ Thấm bộ.
  2. Nhị nữ (16911718), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị. Năm 1707 hạ giá lấy Lý Thục Ngao (李淑鰲).
  3. Tam nữ (16931725), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị, được phong Huyện quân. Năm 1704 hạ giá lấy Khách Thải thị Lạt Bố Thản (喇布坦).
  4. Tứ nữ (16941713), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị, được phong Huyện quân. Năm 1710, hạ giá lấy Nhất đẳng nam Tôn Thừa Ân (孙承恩), cháu ngoại của Cố Luân Ngao Hán Công chúa và là con trai của danh tướng Tôn Tư Khắc.
  5. Ngũ nữ (17031768), mẹ là Ngô Nhã thị, được phong Huyện quân. Năm 1722 hạ giá lấy Thai cát Tắc Lăng Nạp Mặc Trát Nhĩ (塞楞纳穆扎尔) của Khoa Nhĩ Thấm bộ .
  6. Lục nữ (17101715), chết yểu, mẹ là Lý thị.
  7. Thất nữ (17101729), mẹ là Triều thị. Năm 1734 hạ giá lấy Thai Cát Lạp Tích (拉锡) thuộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị của Ngao Hán bộ.
  8. Bát nữ (17121778), mẹ là Trương Giai thị, được phong Huyện quân. Năm 1733 hạ giá lấy La Bặc Tàng Đôn Đa Bặc (罗卜藏敦多卜) thuộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị Khoa Nhĩ Thấm bộ.
  9. Cửu nữ (17151750), mẹ là Quách thị, được phong Huyện quân. Năm 1734 hạ giá lấy Cát Nhĩ Đệ (吉尔第) thuộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị Khoa Nhĩ Thấm bộ.
  10. Thập nữ (17171756), mẹ là Quách thị, được phong Huyện quân. Năm 1733 hạ giá lấy Uông Trát Nhĩ (汪扎尔) thuộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị của Ngao Hán bộ.
  11. Thập Nhất nữ (17211722), chết yểu, mẹ là Quách thị.
  12. Thập Nhị nữ (17231724), chết yểu, mẹ là Quách thị.
  13. Thập Tam nữ (17241793), mẹ là Tấn thị, được phong Quận chúa. Từ năm 1737 được Càn Long Đế nuôi dưỡng trong cung. Đính hôn với Tăng Cổn Trát Thanh (僧滚扎青) thuộc Châu Lang Hán Tể Lạp Mã thị của Khoa Nhĩ Thấm bộ, chưa thành hôn thì Tăng Cổn Trát Thanh mất, Quận chúa thủ tiết cả đời.
  14. Thập Tứ nữ (17251751), mẹ là Quách thị, được phong Huyện quân, Năm 1746 hạ giá lấy Cát Lạt Lý Thế (吉喇里达) thuộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị Khoa Nhĩ Thấm bộ.

Phả hệ Trực Quận vươngSửa đổi

Dĩ cách
Trực Quận vương
Bối tử
Dận Thì
1672 - 1698 - 1708 - 1735
Phụng ân Trấn quốc công
Hoằng Phưởng (弘昉)
1704 - 1735 - 1772
Phụng ân Tướng quân
Hoằng Hưởng (弘晌)
1718 - 1773 - 1781
Vĩnh Thiên (永𤣳)
1728 - 1760
Dĩ cách
Phụng ân Phụ quốc công
Vĩnh Dương (永揚)
1747 - 1773 - 1777
Vĩnh Thác (永𤣯)
1727 - 1780
Vĩnh Bằng (永㺸)
1723 - 1771
Phụng ân Tướng quân
Vĩnh Đa (永多)
1740 - 1781 - 1809
Miên Nãi (綿鼐)
1748 - 1780
Miên Bỉ (綿比)
1762 - 1824
Miên Hạo (綿灝)
1747-1807
Miên Dong (綿蓉)
1752 - 1804
Miên Lượng (綿亮)
1750 - 1774
Miên Tuyên (綿亘)
1761 - 1803
Miên Khang (綿康)
1796 - 1845
Dịch Giang (奕江)
1793 - 1872
Dịch Quý (奕貴)
1768 - 1799
Dịch Tỷ (奕璽)
1777 - 1836
Phụng ân Tướng quân
Dịch Chương (奕章)
1796 - 1809 - 1848 - 1850
Dịch Chiêm
1839 - 1885
Tái Chấn (載振)
1824 - 1856
Tái Mưu (載謀)
1795 - 1854
Tái Mã (載禡)
1813 - 1841
Bối lặc
Tái Chú (載澍)
1870 - 1878 - 1897 - ?
Thừa tự Phu Kính Quận vương
Dịch Huệ
Phổ Giai (溥佳)
1845 - 1876
Phổ Kỳ (溥麒)
1825 - 1878
Phổ Lân (溥麟)
1822 - 1895
Phụng ân Tướng quân
Phổ Thụy (溥瑞)
1828 - 1848 - 1862
Dục Bảo (毓葆)
1874 - ?
Phụng ân Tướng quân
Dục Anh (毓英)
1870 - 1889 - 1915
Phụng ân Tướng quân
Dục Thuyên (毓荃)
1871 - 1862 - 1889
Phụng ân Tướng quân
Hằng Nguyên (恆元)
1911 - 1917 - ?

Trong văn hóa đại chúngSửa đổi

Năm Tác phẩm Diễn viên
1988 Mãn Thanh thập tam hoàng triều

(满清十三皇朝)

Đàm Vinh Kiệt

(谭荣杰)

1995 Cửu vương đoạt vị

(九王夺位)

Hoàng Duẫn Tài

(黄允材)

1997 Giang hồ kỳ hiệp truyện

(江湖奇侠传)

Trương Hồng Anh

(张洪英)

1999 Ung Chính vương triều

(雍正王朝)

Trương Ngạn Xuân

(张彦春

2001 Khang Hi vương triều

(康熙王朝)

Cao Điền Hạo

(高田昊)

2003 Hoàng Thái tử bí sử

(皇太子秘史)

Trần Chi Huy

(陈之辉)

2011 Bộ bộ kinh tâm Dương Hiểu Ba

(杨晓波)

2012 Thâm cung điệp ảnh

(深宫谍影)

Ngô Vũ Phong

(吴雨枫)

2017 Hoa Lạc Cung Đình Thác Lưu Niên

(花落宫廷错流年)

Hình Thành

(邢城)

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “(清)(愛新覺羅)允禔 中曆生卒:康熙11年-雍正12年”. 中研院史語所明清檔案工作室. 中央研究院歷史語言研究所. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016. 
  2. ^ 《中國考古集成》第2篇,第1卷,第20期,第928頁「為聖祖仁皇帝玄燁與惠妃納喇氏所生,按照封建禮法稱為庶出。在成年諸子中他年齡最大,生於康熙十一年壬子二月十四日午時,死於雍正十二年甲寅十一月初一日卯刻。依固山貝子品級治喪。康熙三十七年三月封為直郡王。允提深受康熙寵愛。」
  3. ^ 王思治,《清代人物傳稿》第1卷第5篇,第54頁,換算為「1672年4月12日」,漏算閏月,應為「1672年3月12日」
  4. ^ 宋史·卷三一三·文彥博傳》:「用白居易九老會故事,置酒賦詩相樂,序齒不序官。」
  5. ^ 《Thanh Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế thực lục》, Quyển 187 (tham kiến《Thanh thực lục》,或《Khang Hi triều thực lục》)
  6. ^ Nguyên văn: 今欲诛胤礽, 不必出自皇父之手
  7. ^ “Thanh Sử Cảo, Quyển 220, Liệt truyện thất”. 四十七年九月, 皇太子允礽既废, 允禔奏曰: "允礽所行卑污, 失人心. 术士张明德尝相允禩必大贵. 如诛允礽, 不必出皇父手." 上怒, 诏斥允禔凶顽愚昧, 并戒诸皇子勿纵属下人生事 
  8. ^ a ă “Thanh Sử Cảo, Quyển 220, Liệt truyện thất”. 允禔用喇嘛巴汉格隆魇术魇废太子, 事发, 上命监守. 寻夺爵, 幽於第. 四月, 上将巡塞外, 谕: "允禔镇魇皇太子及诸皇子, 不念父母兄弟, 事无顾忌. 万一祸发, 朕在塞外, 三日後始闻, 何由制止?" 下诸王大臣议, 於八旗遣护军参领八, 护军校八, 护军八十, 仍於允禔府中监守. 上复遣贝勒延寿, 贝子苏努, 公鄂飞, 都统辛泰, 护军统领图尔海, 陈泰, 并八旗章京十七人, 更番监守, 仍严谕疏忽当族诛. 
  9. ^ 《清史稿校註》第10卷,國史館,1986
  10. ^ 《大义觉迷录》