Dịch Khuê (chữ Mãn:ᡳ ᡴᡠᡳ, phiên âm: I Kui, chữ Hán: 奕奎; 26 tháng 12 năm 1803 - 2 tháng 2 năm 1841), Ái Tân Giác La, là một Tông thất của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đờiSửa đổi

Dịch Khuê sinh vào giờ Thìn, ngày 13 tháng 11 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 8 (1803), trong gia tộc Ái Tân Giác La (爱新觉罗). Ông là con trai thứ hai của Phụng ân Trấn quốc công Miên Tung (綿崧), mẹ ông là Thứ thiếp Lý thị (李氏).[1]

Năm Gia Khánh thứ 16 (1811), tháng 8, Trấn quốc công Miên Cương (綿疆) qua đời, ông được triều đình cho làm con thừa tự của Miên Cương và được tập tước Hằng Thân vương (恆親王) đời thứ 7, nhưng Hằng vương phủ không phải thừa kế võng thế, nên ông chỉ được phong làm Phụng ân Trấn quốc công (奉恩鎭國公).

Năm Đạo Quang thứ 15 (1835), tháng 6, do duyên sự mà ông bị cách tước, được trả lại làm con của Miên Tung.

Năm thứ 21 (1841), tháng giêng, ông qua đời, thọ 39 tuổi.

Gia quyếnSửa đổi

Đích Phu nhânSửa đổi

  • Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏).

Thứ thiếpSửa đổi

  • Vương thị (王氏).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Tái Kính (載敬).
  2. Tái Mại (載邁).
  3. Tái Xuân (載春).

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Ái Tân Giác La tông phổ”.