Dục Thu (chữ Hán: 毓橚; 22 tháng 6 năm 1858 - 19 tháng 12 năm 1918), Ái Tân Giác La, là một Tông thất của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đờiSửa đổi

Dục Thu sinh vào giờ Tý, ngày 12 tháng 5 (âm lịch) năm Hàm Phong thứ 8 (1858), trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai trưởng của Nhàn tản Tông thất Phổ Trăn (溥蓁) - con trai thứ bảy của Thành Cung Quận vương Tái Duệ , mẹ ông là Thứ thiếp Quách thị (郭氏).

Năm Đồng Trị thứ 11 (1872), tháng 4, Bối lặc Phổ Trang qua đời mà không có con nối dõi, nên ông được cho làm con thừa tự của Phổ Trang. Đến tháng 11 cùng năm, ông được tập tước Thành Thân vương (成親王) đời thứ 6, nhưng Thành vương phủ không phải thừa kế võng thế, nên ông chỉ được phong làm Bối tử (貝子).

Năm Quang Tự nguyên niên (1875), tháng 12, ông nhận mệnh trông coi Thanh Đông lăng.

Năm thứ 15 (1889), tháng giêng, ông nhậm chức Tán trật đại thần. Tháng 10 cùng năm, thăng làm Nội đại thần (內大臣).

Năm thứ 16 (1890), tháng giêng, ông được vào Càn Thanh môn hành tẩu.

Năm thứ 23 (1897), tháng 12, trở thành Tổng tộc trưởng của Tương Hồng kỳ (鑲紅旗總族長) [1].

Năm thứ 24 (1898), tháng giêng, ông nhận mệnh trông coi Thanh Tây lăng.

Năm thứ 28 (1902), tháng 8, ông bị điều tra để tra xét vụ đàn miếu.

Năm Dân Quốc nguyên niên (1912), tháng 9, ông phụng ý chỉ cho phép Vương công phủ đệ, ruộng đất, ân thưởng trở thành tài sản cá nhân.

Năm thứ 7 (1918), ngày 17 tháng 11 (âm lịch), ông qua đời, thọ 61 tuổi.

Gia quyếnSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

Đích Phu nhânSửa đổi

  • Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), con gái của Cống Tang Trữ Nhĩ Mục Đặc (貢桑著爾穆特).

Thứ thiếpSửa đổi

  • Lưu thị (劉氏), con gái của Bảo Thái (保泰).
  • Trương thị (張氏), con gái của Trương Hỉ (張喜).
  • Liễu thị (柳氏), con gái của Liễu Đại (柳大).
  • Hàn thị (韓氏), con gái của Hàn Đại (韓大).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Hằng Hi (恒喜; 1881 - 1888), mẹ là Đích Phu nhân Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị. Chết yểu.
  2. Hằng Chiếu (恒照; 1887 - ?), mẹ là Thứ thiếp Lưu thị. Có một con trai.
  3. Hằng Yến (恒燕; 1893 - ?), mẹ là Thứ thiếp Trương thị. Năm 1918 được tập tước Thành Thân vương (成親王) và được phong Phụng ân Trấn quốc công (奉恩鎮國公).
  4. Hằng Liệt (恒煭; 1903 - ?), mẹ là Thứ thiếp Liễu thị.
  5. Hằng Hưu (恒烋; 1912 - ?), mẹ là Thứ thiếp Trương thị.
  6. Hằng Dương (恒𤋁; 1912 - ?), mẹ là Thứ thiếp Liễu thị.
  7. Hằng Phong (恒㶻; 1916 - ?), mẹ là Thứ thiếp Liễu thị.
  8. Hằng Hạ (恒𤈕; ? - ?).

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Những năm Ung Chính, kỳ tịch của Tông thất (Cận chi) được chia theo "Tả dực" (gồm Tương Hoàng, Chính Bạch, Tương Bạch, Chính Lam) cùng "Hữu dực". Mỗi "dực" sẽ được chia làm 20 "Tộc" (như Tả dực có Tương Hoàng 1 tộc, Chính Bạch 3 tộc, Tương Bạch 3 tộc, Chính Lam 13 tộc). Vậy tổng cộng là 40 tộc với 40 Tộc trưởng. Đến những năm Càn Long, tất cả 40 tộc này được xếp vào "Viễn chi", thiết lập 16 "Tổng tộc trưởng". Mỗi Tổng tộc trưởng đều do đích thân Hoàng Đế bổ nhiệm, có thể không thuộc kỳ mình quản lý.