Mở trình đơn chính

Diễn Châu là một huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Nghệ An, Việt Nam, là một trong những huyện có số lượng xã và dân số lớn nhất Nghệ An.

Diễn Châu

Huyện
UBND huyện Diễn Châu, Nghệ An.jpeg
UBND huyện Diễn Châu
Hành chính
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhNghệ An
Huyện lỵthị trấn Diễn Châu
Phân chia hành chính1 thị trấn, 38
Chính quyền
Chủ tịch UBNDChu Thế Huyền
Chủ tịch HĐNDTrần Văn Cương
Bí thư Huyện ủyTrần Văn Cương
Địa lý
Tọa độ: 19°00′38″B 105°35′16″Đ / 19,010618°B 105,587701°Đ / 19.010618; 105.587701 (Chợ Sỹ)Tọa độ: 19°00′38″B 105°35′16″Đ / 19,010618°B 105,587701°Đ / 19.010618; 105.587701
Diện tích331,62 km²
Dân số (2018)
Tổng cộng284.300 người
Mật độ857 người/km²
Khác
Biển số xe37-B1-B2-F1-F2
WebsiteHuyện Diễn Châu

Mục lục

Địa lýSửa đổi

Vị trí địa lýSửa đổi

Huyện Diễn Châu nằm ở phía đông tỉnh Nghệ An, có vị trí địa lý:

Huyện Diễn Châu cách thủ đô Hà Nội 260 km, cách thành phố Vinh 36 km, có đường quốc lộ 1A và Đường sắt Bắc Nam đi qua.[1]

Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Thanh Hóa – Hà Tĩnh đang được xây dựng đi qua.

Hành chínhSửa đổi

Lịch sửSửa đổi

Thời Hùng Vương, Diễn Châu nằm trong bộ Hoài Hoan. Sau đó, thuộc quận Cửu Chân rồi quận Cửu Đức, quận Nhật Nam.

Thời Nhà Đường Niên hiệu Vũ Đức, chia quận Nhật Nam thành Nam Đức châu, Lạo châu, Minh Châu và Hoan Châu. Năm Trinh Quán nguyên niên đổi Đức Châu lại làm Hoan Châu, còn Hoan Châu cũ thì đổi làm Diễn Châu. Năm thứ 16 bỏ Diễn Châu hợp vào Châu Hoan.

Thời Nhà Lý năm Cảnh Hựu thứ ba (Bính Tí - 1036). Mùa hạ, tháng 4, Đặt hình dinh ở Châu Hoan, đổi tên châu ấy thành Nghệ An. Diễn Châu tách khỏi Nghệ An thì đứng riêng làm châu; Nghệ An lúc đó là vùng đất còn lại và tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.

Thời Nhà Trần, năm Long Khánh thứ ba đổi Diễn Châu làm Diễn Châu lộ, chia Hoan Châu làm 4 lộ: Nhật Nam và Nghệ An nam, Nghệ An bắc, Nghệ An trung, cũng gọi là Nghệ An phủ. Năm Quang Thái thứ 10 đổi Nghệ An làm Lâm An trấn, Diễn Châu làm Vọng An trấn. Trong chiến tranh với Mông Cổ, vua Trần có ngâm câu thơ: Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ, Hoan Diễn kia còn tồn thập vạn binh. Ý chỉ vùng đất này có lực lượng dự bị hùng hậu, sẵn sàng huy động dùng cho việc đánh giặc.

Thời Nhà Hồ đổi Diễn Châu làm Linh Nguyên phủ, cùng với Thanh Hóa, Cửu Chân, Ái Châu gọi là tứ phủ.

Thời thuộc Minh, Diễn Châu và Nghệ An là 2 phủ riêng biệt

Thời Hậu Lê, phủ Diễn Châu thuộc Nghệ An thừa tuyên. Năm Hồng Đức thứ 21 đổi thừa tuyên Nghệ An thành xứ Nghệ, phủ Diễn Châu là một trong 8 phủ của Xứ Nghệ, quản lĩnh 2 huyện: Đông Thành (Yên Thành và Diễn Châu ngày nay) và Quỳnh Lưu.

Thời Nhà Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trấn Nghệ An chia tách thành 2 tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, phủ Diễn Châu là một trong 4 phủ của tỉnh Nghệ An, gồm: Đông Thành, Yên Thành, Nghi Lộc và Quỳnh Lưu.

Năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ: Huyện Đông Thành đổi thành phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Sau năm 1945, phủ Diễn Châu được gọi là huyện Diễn Châu, bao gồm 41 xã: Diễn An, Diễn Bích, Diễn Bình, Diễn Cát, Diễn Đoài, Diễn Đồng, Diễn Hải, Diễn Hạnh, Diễn Hoa, Diễn Hoàng, Diễn Hồng, Diễn Hùng, Diễn Kim, Diễn Kỷ, Diễn Lâm, Diễn Liên, Diễn Lộc, Diễn Lợi, Diễn Minh, Diễn Mỹ, Diễn Ngọc, Diễn Nguyên, Diễn Phong, Diễn Phú, Diễn Phúc, Diễn Quảng, Diễn Tân, Diễn Thái, Diễn Thắng, Diễn Thành, Diễn Tháp, Diễn Thịnh, Diễn Thọ, Diễn Thủy, Diễn Tiến, Diễn Trung, Diễn Trường, Diễn Vạn, Diễn viên, Diễn Xuân, Diễn Yên.

Ngày 22 tháng 5 năm 1969: giải thể xã Diễn viên, địa bàn nhập vào các xã Diễn Hoa và Diễn Hạnh; sáp nhập xã Diễn Thủy vào xã Diễn Ngọc; sáp nhập xã Diễn Tiến vào xã Diễn Thành.

Ngày 23 tháng 2 năm 1977, thành lập thị trấn Diễn Châu - thị trấn huyện lị huyện Diễn Châu - trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của các xã Diễn Phúc và Diễn Thành.

Huyện Diễn Châu có 1 thị trấn và 38 xã như hiện nay.

Dự kiến sau năm 2030, 2 xã Diễn Bình và Diễn Minh sẽ được sáp nhập thành xã Bình Minh.

Văn hóaSửa đổi

Lễ hội truyền thốngSửa đổi

Lễ hội đền thờ An Dương Vương (Nghệ An) Đền Cuông: Địa điểm: Xã Diễn An, km 30 trên đường 1A Vinh - Hà Nội. Lễ hội diễn ra trong vòng ba ngày 13-14-15 tháng 2 âm lịch hàng năm để tưởng nhớ vị Vua đã có công sáng lập nên quốc gia Âu Lạc.

  • Phần lễ: Chiều 14 tháng 2 âm lịch: Lễ yết cáo; đêm 14 tháng 2 âm lịch: Lễ yên vị; sáng 15 tháng 2 âm lịch: rước kiệu từ đình Xuân Ái, Diễn An và nhà thờ họ Cao, Diễn Thọ ra đền Cuông.
  • Phần hội: Diễn ra từ ngày 13 tháng 2 đến hết ngày 15 tháng 2 âm lịch gồm các trò chơi dân gian như chọi gà, cờ người, đánh vật, đánh đu... Cùng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao như hát chầu văn, thi nét đẹp đền cuông, bóng bàn, kéo co, leo núi...
 
Đền Cuông

Đấu vậtSửa đổi

Diễn Châu là vùng đất có rất nhiều lò vật và nhiều đô vật có tên tuổi. Hầu như ở xã nào cũng có làng có lò vật. Nho Lâm, Xuân Nho có lò vật lớn, là nơi có những lò lớn như Hậu Luật, Trung Phường, Vân Tập, Hạnh Kiều, Thư Phủ, Bút Trận, Vạn Phần, Kim Lũy, Đông Câu, Hữu Bằng, Lý Nhân, Thanh Bích, Kỳ Ngãi,...đều có lò vật. Đô vật có tiếng nhất ở Diễn Châu là ông Phó Ngà, ở làng Thư Phủ, thuộc xã Diễn Thái hiện tại. Ông ăn rất khỏe, một bữa ông ăn hết ba mươi nồi cơm và ba cái thủ lợn. Có rất nhiều giai thoại xung quanh đô vật này.

Một đô vật khác cũng có tiếng khác là Nguyễn Ngọc Chấn, quê ở làng Nho Lâm, từng làm Tri phủ Kiến Thụy nên mọi người thường gọi là ông Phủ Kiến. Ông rất khỏe, làm việc giỏi như ông Phó Ngà. Một mình ông ăn hết cả thúng cơm với rá cà muối và nhổ mạ cho dư mười người cấy. Có kẻ đi buôn mật, gánh hai chum mật để tỉ thí, khi thấy ông nâng bổng một con trâu mộng lội qua sông, liền biếu ông cả hai chum mật ấy rồi về. Có lần ông đã ôm một đô vật sừng sỏ của Nghi Lộc vứt ra khỏi đấu trường làm cho người này phải bỏ hẳn cả nghề làm đô vật.

Nhân vật dân gianSửa đổi

Nhiều nhân vật xuất xứ từ Diễn Châu được dân gian lưu truyền qua những mẫu chuyện và sự tích gắn liền với họ. Đó là những người đại diện cho dáng vóc, tâm hồn con người đất Diễn: cần cù, khỏe mạnh, lạc quan, yêu đời, yêu quê hương đất nước.

  • Truyện ông Mân Nhụy: Truyện cười của ông Mân Nhụy mang sắc thái châm biếm nhẹ nhàng, sâu sắc. Tiếng cười của ông luôn hướng mũi dùi vào tầng lớp quan tham vô lại và đứng về phía nhân dân lao động.
  • Truyện ông Cố Bợ: Ông Cố Bợ là một nhân vật thần thoại. Ông Cố Bợ tượng trưng cho thần Lửa. Tương truyền, khi màn đêm buông xuống, ông cố Bợ đi về hướng Đông, lật ngửa cái nón xuống biển làm thuyền, dùng cành cây làm mái chèo, chèo tới chỗ mặt trời mọc và lấy lửa về cho mọi người. Ông còn trừng trị những người bẩn tính, hà tiện bằng việc dùng trò chơi khăm họ với lửa.
  • Truyện ông Chẹm: Ông tên thật là Nguyễn Ngọc Thư. Cả xã Nho Lâm gọi ông là ông Chẹm. Ông Chẹm có sức khỏe hơn người. Những mẩu chuyện lưu truyền về ông thường gắn với các hành động tham gia các phong trào yêu nước của ông. Ông sống vào nửa sau thế kỷ XIX, đã từng tham gia phong trào Giáp Tuất (1874), Phong trào Cần Vương (1885).
  • Truyện ông Chắt Vạn: Ông Chắt Vạn người làng Trung Phường, nay thuộc xã Diễn Minh. Ông là người khí khái, thấy việc nghĩa thì làm, vừa có gan vừa có trí làm bao kẻ quyền thế sợ xanh mặt. Những chuyện kể về ông không ít. Có lần, ông đã đối diện với Chánh tổng người làng Sơn (tức làng Trường Sơn nay là xã Sơn Thành huyện Yên Thành) chuyên đi hiếp đáp dân lành, làm cho nó phải van lạy xin chừa.
  • Ông cố Truyền: tên thật là Phạm Luân, 1922 - 2017, người làng Đồng Tâm, Diễn Thịnh. Tương truyền ông ăn được cả rổ Khoai, nồi cơm lớn . Cày cấy cả ngày lẫn đêm, khai hoang cả vùng đất rộng lớn. Khỏe nổi tiếng cả vùng Nam Diễn Châu. Là gia đình Ngũ Đại Đồng Đường hiếm có.

Ngoài ra, nơi đây còn gắn liền với truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy: tương truyền, đây là nơi An Dương Vương dùng gươm giết Mỵ Châu trong lúc Triệu Đà cùng con trai là Trọng Thủy đang cầm quân truy đuổi.

Làng nghềSửa đổi

Diễn Châu là một huyện có rất nhiều làng nghề truyền thống. Một số làng nghề nổi tiếng như nghề đúc đồng ở Xóm Yên Thịnh, làng Cồn Cát (Diễn Tháp), nghề rèn ở Nho Lâm, Nước mắm Vạn Phần, nghề hát tuồng ở Lý Nhân,... Các làng nghề đóng cối xay, bện võng, đan bị, dệt vải, đan rổ rá, mộc, làm nón...

  • Cồn Cát (Diễn Tháp): Đúc đồng, gang đồ gia dụng và làm chiêng cồng. đồ thờ cúng.
  • Nhân Trai (Diễn Xuân): Làng trồng rau.
  • Vạn Phần: Nước mắm.
  • Phượng Lịch (Diễn Hoa): Nuôi tằm, Dệt vải, làm tơ lụa.
  • Tiền Tiến (Diễn Kim): Nuôi tằm, Dệt vải, làm tơ lụa.
  • Thanh Bích, Trang Thung: Đóng thuyền.
  • Diễn Kỷ: Chủ yếu là nghề đúc lưỡi cày
  • Văn Tập, Trung Phường: Nung vôi.
  • Đệ Nhất: Nề.
  • Nho Lâm: Luyện quặng sắt, rèn, đan rổ.
  • Tràng Thân: Đan bị, Mộc.
  • Hoàng La: Bện võng.
  • Tiền Song: Chắp gai đan lưới.
  • Phong Phú Trung: Dệt trủ.
  • Đông Xương: Đóng cối xay.
  • Đông Tháp (Diễn Hồng): Làm vàng vó, dệt vải, làm hương.
  • Yên Vinh: Làm trống.
  • No Nê: Đan bị.
  • Yên Sở: Nón, hương vàng, đồ mã...
  • Phú Hậu (Diễn Tân): Dệt chiếu.
  • Bút Trận, Thư Phủ: Mía mật.
  • Diễn Bích, Diễn Ngọc, Diễn Vạn: Làm muối.
  • Mới Nu, Diễn Mỹ, Thừa Sủng, Lý Nhân: Hát tuồng.
  • Xuân Viên, Yên Sở: Làm nón.
  • Chùa cổ am: năm trên lèn hổ lĩnh diễn minh diễn châu nghệ an.
  • Liên Dương (Diễn Quảng): Làm bún.

Thơ văn về Diễn ChâuSửa đổi

  • Thơ vè Diễn Châu:
"Hai Vai gánh vác giang san
Mộ Dạ Hiệp nghĩa gian nan coi thường
Sông Bùng chảy mãi yêu thương
Đền Cuông sừng sững tấm gương muôn đời
Hòn Ngư biển tận chân trời
Cửa Rào xanh ngát sáng ngời miền trung
Nghe bài Thăm Lúa hữu thung
Dạt dào Trọng Tạo hát cùng sông quê
Được mùa thi cử xum xuê
Thủ khoa bảng nhãn Văn Khuê lưu truyền
Cá tươi ăm ắp đầy thuyền
Sáo diều no gió chim Quyên hót mừng"

Trích thơ ông Trần Văn Hoàng - Tổng giám đốc City Group
.

Danh nhânSửa đổi

  • Trạng nguyên: Trại Trạng nguyên Bạch Liêu, đỗ trạng nguyên cùng khoa với Kinh Trạng nguyên Trần Cố khoa Bính Dần đời vua Trần Thái Tông, năm 1236. Ông quê ở làng Nguyễn Xá, phủ Diễn Châu, nay thuộc xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu.
  • Tham đốc dũng nghĩa hầu Đại tướng quân Vũ Trung Lương người làng Đông Xương - Diễn Mỹ
  • Quản lan hầu Đề đốc Vũ Phác Lược Người làng Đông xương - Diễn Mỹ là con trai cả của ông Vũ Trung lương
  • Những dòng họ có nhiều người đỗ đạt: Họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Kỷ) là một dòng họ có nhiều người đỗ đạt ở Diễn Châu, liên tiếp 4 đời đỗ 5 tiến sĩ. Ngoài ra còn có nhiều dòng họ có nhiều người đỗ đạt khác như dòng họ Đặng ở Nho Lâm (Diễn Thọ), dòng họ Cao ở Tân Bình (Diễn Bình), Cao Xá (Diễn Thọ), dòng họ Chu (Diễn Trường - Diễn Tháp), dòng họ Dương (Diễn Yên) và dòng họ Trần (Diễn Hạnh và 1 phần Diễn Xuân). Họ Nguyễn Đình Đại Tôn chi thứ 10 dòng dõi Nguyễn Xí tại (làng Đồng Tâm xã Diễn Thịnh - Diễn Tháp - Diễn An - Diễn Trung- Diễn Thành - Diễn Ngọc - Diễn Phúc - Diễn Đoài - Diễn Thái - Diễn Liên - Diễn Lâm- Diễn Hoàng- Diễn Trường). Những người được biết đến nhiều như Tướng Công Chu Phúc Cổn, Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa, Đặng Văn Thụy, Nguyễn Xuân Ôn, Cao Xuân Dục...
  • Những người nổi tiếng ngày nay gồm có:
  • Võ Nguyên Hiến – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I, Bí thư Xứ ủy Trung kỳ (1935 - 1936).
  • Võ Mai - Bí thư xứ ủy Trung Kỳ, Đảng Cộng sản Đông Dương.
  • Bộ trưởng Thương mại Tiến sĩ Trương Đình Tuyển, Người khởi xướng và có vai trò quan trọng nhất trong quá trình Việt Nam gia nhập WTO.
  • Anh hùng LLVT, cán bộ lão thành: tướng Phùng Chí Kiên
  • Giáo sư kinh tế Cao Cự Bội, Giáo sư Lê Duy Thước; Giáo sư Triết học Cao Xuân Huy
  • Giáo sư, TSKH Kinh tế Ngô Đình Giao, GS.TSKH Toán học Nguyễn Tố Như
  • Chiến sĩ anh hùng Thành cổ Quảng Trị Lê Bá Dương - Tác giả bài thơ "Bên dòng Thạch Hãn", người khởi xướng lễ hội thả hoa đăng trên dòng sông Thạch Hãn vào ngày 27 tháng 7 hàng năm tưởng nhớ những chiến sĩ Quân giải phóng hy sinh trong trận chiến 81 ngày đêm.
  • Nhà văn hóa dân gian: Giáo sư Cao Huy Đỉnh,
  • Giáo sư_nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo
  • Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc
  • Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Quang Vĩnh, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương
  • Nguyên chủ tịch tỉnh Nghệ An Chu Mạnh
  • Nguyên thứ trưởng bộ tài chính kiêm thành viên Ban Kinh tế Trung ương Đảng GS.TSKH.Chu Quý
  • Hoa hậu Đền Cuông 1994 Trần Thị Ái Liên - Hiệu trưởng Trường tiểu học Diễn Xuân
  • Hoa hậu Thế giới người Việt Ngô Phương Lan - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh (BDI)
  • Giáo sư Đặng Ngọc Long (Người Việt Nam đầu tiên đoạt giải thưởng Guitar Quốc tế - Hiệu trường âm nhạc Berlin-Đức)
  • TSKH Cao Ngọc Viễn (Bộ GD và ĐT) là người nhiều lần dẫn dắt đội tuyển Vật lý Việt Nam tham dự các kỳ thi Vật lý Quốc tế
  • Giáo sư Cao Xuân Huy, Giáo sư Cao Huy Đỉnh đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn Học Nghệ thuật
  • Nhà thơ Trần Hữu Thung, Nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, Nhà viết kịch Thanh Hương đoạt Giải thưởng Nhà nước về Văn Học Nghệ thuật
  • Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc.
  • Lê Thị Thủy, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam nhiệm kỳ 2015-2020, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Du lịchSửa đổi

Diễn Châu được ví là viên ngọc của du lịch Nghệ An. Trong số 8 cảnh đẹp của "Đông Yên Nhị Châu" thì có 6 cảnh đẹp thuộc về Diễn Châu. Đó là Dạ Sơn linh tích (Dấu thiêng núi Mộ Dạ), Cao Xá long cương (Gò rồng Cao Xá), Bùng Giang thu nguyệt (Trăng thu trên sông Bùng), Bích Hải quy phàm (Cánh buồm về cửa Bích), Thiên uy thiết cảng (Kênh sắt oai trời), Diễn Thành thạch bảo (Thành đá phủ Diễn Châu).

  • Đền Cuông: Vào năm 208 trước công nguyên, do đánh thua Triệu Đà, Thục An Dương Vương đã cùng công chúa Mỵ Châu chạy nạn. Đến bãi biển cửa Hiền, xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, thần Kim Quy hiện lên và bảo "giặc ở sau lưng nhà ngươi" ngài đã rút gươm giết chết con gái Mỵ Châu và tuẫn tiết dưới chân núi Mộ Dạ. Nhân dân đã lập đền thờ ngài ở đó. Thế núi Mộ Dạ đứng xa xa giống như một con Công khổng lồ đang múa, hai cánh giang rộng tới các dãy núi khác, đầu công chính là nơi tọa lạc của đền thờ An Dương Vương, gọi là đền Công, nhân dân gọi đền này là đền Cuông, Cuông là tiếng địa phương. Vì vậy, Đền Cuông còn được gọi là đền Công. Đền Cuông được kiến trúc theo hình chữ tam, có 3 tòa Thượng, Trung, Hạ, xung quanh có nhiều cây cổ thụ um tùm xanh tốt, trông rất cổ kính và linh thiêng. Đền nằm bên quốc lộ số 1A thuộc xã Diễn An, cách thành phố Vinh khoảng 30 km. Đền cuông hiện vẫn còn giếng nước như truyền thuyết, nước rất trong và sạch.
 
Đền Cuông
  • Cửa Hiền: Phía bắc chân núi Mộ Dạ là bãi biển cửa Hiền. Tại đây có miếu nàng Mỵ Châu. Bãi biển cửa Hiền là một bãi biển tương đối hoang sơ, có rất nhiều hòn đá nhô lên giống như con cá biển gọi là bãi đá Ngư Hải, trong đó có một phiến đá rất cao, to và bằng phẳng lưu truyền là bàn cờ tiên, dân địa phương gọi là hòn Đá Bàn. Đây là khu vực duy nhất của Nghệ An không có gió Tây Nam nóng bỏng vào mùa hè.
  • Cao Xá Long Cương: Thực chất đây là một bãi sò lớn thuộc địa phận hai làng Hương Cái và Tiên Lý, kéo dài từ Nam chân núi Mộ Dạ đến sông Ông Phùng. Sóng biển đánh vỏ sò lâu ngày chất thành đống, tạo thành những cồn bãi cao, sâu đến 4-5 thước. Gò rồng Long Cương chạy dài, cao lên ở phía gần ven biển, chiều dài chiếm khoảng 2/3 huyện Diễn Châu.
  • Biển Diễn Thành: là bãi biển nằm gần ngã ba Diễn Châu và dọc trục đường quốc lộ 1A. Đây là một bãi biển rộng, cát thoai thoải, nước trong xanh, phía trên là những dãy phi lao ngút ngàn. Bãi biển Diễn Thành cách đền Cuông cửa Hiền khoảng 5 km về phía Bắc. Tại đây có nhà thờ họ Cao Bá thuộc xóm 4, xã Diễn Thành với những truyền thuyết của ông tổ đi mây, cưỡi gió cứu vớt người đi biển, lãnh đạo nhân dân quanh vùng chống bọn xâm lược Trung Quốc.
  • Hồ Xuân Dương: hay Đập Xuân Dương (Đập Bara theo tiếng Pháp sau khi pháp xây dựng đập ngăn nước), là một hồ nước rất lớn được ngăn bởi dãy núi là Rú Dẻ và Rú Chạch (Bạch Y) và Rú Ba Chạng, thuộc xã Diễn Phú. Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các xã ở phía nam Diễn Châu. Hồ xuất phát từ xã Nghi Văn huyện Nghi Lộc. Đập chắn và hệ thống đóng mở nước được xây dựng từ thời Pháp còn có tên gọi là Cột nhà lầu. Cửa đập được xây dựng kiên cố bằng đá xanh nằm giữa 2 ngọn núi thuộc dãy núi Rú chạch và Rú Ba Chạng. Thời kháng chiến chống Mỹ khu vực này chịu không ít bom đạn. Mỹ quyết tâm phá đập chắn nhưng không được vì đập đã được 2 ngọn núi chở che.Dấu tích còn sót lại trên núi là rất nhiều hố bom. Xung quanh hồ là nhiều rừng thông và cây cổ thụ đã được nuôi giữ nhiều năm, cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, có nhiều động và khe núi quyến rũ làm rung động lòng người. Khung cảnh nơi đây rất giống Đà Lạt.
  • Lèn Hai Vai: Lèn Hai Vai thuộc địa phận ba xã: xã Diễn Bình; xã Diễn Minh, còn gọi là Lưỡng Kiên Sơn, vì đứng xa xa trông giống như một chàng dũng sĩ hiên ngang. Chúa Trịnh Tĩnh Vương gọi núi này là Di Lặc Sơn. Trong lèn có nhiều hang động như: hang Thần Đồng, hang Cố Nguyên, hang Dơi, hang Khòm, hang Chuồn Chuồn, hang Cá Chép... Ngày nay, lèn Hai Vai vẫn còn giữ được nét cổ kính và gắn với nhiều sự tích. Có tích nói rằng quan Khánh Lý Hầu Nguyễn Trung Ý, người Kẻ Dặm, làm quan Nhà Lê, sau theo Tây Sơn. Khi Gia Long lên ngôi, ông không phục, về Lèn Hai Vai dạy học trong một hang đá. Nhiều học trò của ông thành tài, sau này hang đó gọi tên là hang Thần Đồng.
  • Bùng Giang Thu Nguyệt: Sông Bùng bắt nguồn từ một cái đầm ở xã Vân Hội, chảy đến thôn Phùng Xá, xã Tiên Lý, dần dần rộng ra tạo thành dòng sông nên gọi là sông Bùng. Vào mùa thu trăng sáng, mặt sông phẳng lặng, ánh sáng tỏa trên mặt nước lăn tăn, tạo thành hàng ngàn mâm bạc sóng sánh, gợi tình.
  • Nhà thờ họ Vũ đại tôn làng Đông Xương: được công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 2013. Là nơi thò Tham đốc Dũng nghĩa hầu Đaị tướng quân Vũ Trung Lương và 11 quận công của dòng họ.
  • Sông Nhà Lê là một tuyến đường giao thông thủy cổ, được khơi thông từ thời Vua Lê Đại Hành với mục đích vận tải quân lương từ kinh đô Hoa Lư tới chân biên giới Đèo Ngang.
  • Chùa Cổ Am: Chùa Cổ Am thuộc xã Diễn Minh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An, được xây dựng vào thời hậu Lê (giữa thế kỷ XV). Ban đầu, chỉ có một am nhỏ để nhân dân đến lễ bái nên được gọi là Sơn Am Tự. Vào cuối thời Hậu Lê, Chùa được nhân dân chuyển xuống chân lèn và đổi tên là Hương Phúc Tự. Tuy nhiên, trong thời gian ấy, làng Diễn Minh gặp nhiều rủi ro về mặt tâm linh không thể lý giải, nên vào đời vua Minh Mạng thứ 11, Chùa được chuyển về vị trí cũ với tên gọi Cổ Am Tự như ngày nay.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ [1], Cổng Thông tin điện tử huyện Diễn Châu

Liên kết ngoàiSửa đổi