Dolby Laboratories (Dolby Labs) là một công ty được sáng lập tại Anh nhưng có trụ sở tại Mỹ, nổi tiếng với công nghệ mã hóa âm thanh và bộ lọc âm thanh.

Dolby Laboratories, Inc.
Loại hình
Public
Mã niêm yếtNYSEDLB (Class A)
Russell 1000 Component
Ngành nghềAudio encoding/compression
Audio noise reduction
Thành lập18 tháng 5 năm 1965; 55 năm trước (1965-05-18) in London, England, UK
Người sáng lậpRay Dolby
Trụ sở chínhCivic Center, San Francisco, California, United States
Số lượng trụ sở
30+ (2014)
Khu vực hoạt độngWorldwide
Nhân viên chủ chốt
Peter Gotcher
(Executive chairman)
Kevin Yeaman
(President and CEO)
Sản phẩmsee Technologies
Dịch vụDolby Cinema
Doanh thuTăng US$1.082 billion (2017)[1]
Tăng US$248.64 million (2017)[1]
Tăng US$201.80 million (2017)[1]
Tổng tài sảnTăng US$2.534 billion (2017)[1]
Tổng vốn chủ sở hữuTăng US$2.137 billion (2017)[1]
Số nhân viên
1,867 (2015)[2]
Công ty conAudistry[3]
Via Licensing[4]
Khẩu hiệuEvery Bit is Amazing
Websitewww.dolby.com

Lịch sử hình thành và phát triểnSửa đổi

Dolby Labs được sáng lập bởi Ray Dolby ở Anh vào năm 1965. Sau đó, ông chuyển công ty tới San Francisco, California, Mỹ vào năm 1976.

Sản phẩm đầu tiên của ông là bộ lọc âm thanh Dolby Type A. Một trong những đặc điểm của bộ lọc này là nó có thể giảm nhiễu âm thanh tới mức thấp nhất khi không có tín hiệu âm thanh, làm tăng khoảng cách giữa âm thanh được thu và nhiễu âm thanh tới mức có thể khiến cho tai người nghe không nghe thấy nhiễu. Ông đã tiếp thị sản phẩm này tới các công ty ghi âm và sau đó nó được áp dụng rộng rãi trong những phòng thu âm chuyên nghiệp vào những năm 1970.

Henry Kloss đã thuyết phục ông sản xuất một phiên bản dành cho máy nghe nhạc trên thị trường. Ông đã làm việc rất nhiều và sau đó giới thiệu bộ lọc Type B vào năm 1968

Sau đó, ông theo đuổi việc phát triển âm thanh trong phim. Bộ phim đầu tiên sử dụng bộ lọc âm thanh Dolby là A Clockwork Orange (1971). Callan (1974) là bộ phim đầu tiên sử dụng công nghệ mã hóa âm thanh quang học.

Năm 1975, Dolby phát hành hệ thống âm thanh nổi Dolby Stereo để xử lý âm thanh cho các rạp chiếu phim, nó bao gồm bộ lọc âm thanh với 4 kênh: hai kênh trái phải cho nhạc, 1 kênh trung tâm cho lời thoại và 1 kênh surround cho các hiệu ứng âm thanh tiếng động khác. Bộ phim đầu tiên sử dụng hệ thống âm thanh này là A Star Is Born (1976). Trong vòng chưa đầy 10 năm, 6000 rạp chiếu phim trên toàn thế giới đã được trang bị hệ thống âm thanh nổi Dolby Stereo.

Cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990, Dolby đã bắt đầu áp dụng công nghệ Dolby Surround và sau đó là Dolby Pro Logic vào các hệ thống giải trí trong gia đình, sử dụng băng video và đĩa laser, với 4 kênh âm thanh như trong các rạp chiếu phim.

Khi chuyển từ công nghệ thu thanh thông thường sang kỹ thuật số, Dolby đã phát triển cách số hóa âm thanh mới AC-3, cho phép mã hóa âm thanh với tần số thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng âm thanh.

Dolby Digital và công nghệ mã hóa âm thanh AC-3 được sử dụng rộng rãi và trở thành không thể thiếu trong các thiết bị giải trí gia đình, DVD, HDTV

Cho đến nay, Dolby mang đến 6 kênh âm thanh: 2 kênh trái phải, 1 kênh trung tâm, 2 kênh surround và một kênh cho âm thanh tần số thấp Subwoofer. Vì vậy gọi là Dolby Digital 5.1

Công nghệSửa đổi

Bộ lọc âm thanh AnalogSửa đổi

  • Dolby A/B/C/S - Type NR
  • Dolby SR
  • Dolby FM
  • Dolby HX Pro

Công nghệ mã hóa âm thanhSửa đổi

Bộ xử lý âm thanhSửa đổi

  • Dolby Headphone
  • Dolby Virtual Speaker
  • Dolby Pro Logic
  • Audistry
  • Dolby Volume
  • Dolby Mobile

Hệ thống âm thanh trong rạp chiếu phimSửa đổi

Công nghệ xử lý hình ảnhSửa đổi

  • Dolby Vision là công nghệ hình ảnh cao cấp của Dolby Laboratories, bằng cách tận dụng tối đa tiềm năng của công nghệ chiếu phim rạp và khả năng hiển thị của tivi mới, Dolby Vision là sự bổ sung các siêu dữ liệu vào khả năng hiển thị vốn có của HDR mang đến trải nghiệm hình ảnh sống động hơn và có chiều sâu hơn so với HDR. Ở một khía cạnh khác, HDR cũng có một phiên bản khác đó là HDR10 + là một đối thủ của Dolby Vision. Các siêu dữ liệu của Dolby Vision sẽ tiến hành phân tích và góp phần giúp việc thể hiện các nội dung trên từng khung hình được diễn ra chính xác nhất có thể. Chúng giúp mỗi thông tin được phát ra trên màn hình sẽ nhận được sự kết hợp hoàn hảo từ độ sáng, độ tương phản và hiệu suất thể hiện màu sắc. Dolby Vision có một điểm mạnh chính là khi sản xuất các nội dung, nó tập trung vào việc đẩy HDR tới giới hạn cuối cùng nên khiến cho hình ảnh ở màn hình có thể đạt độ sáng 1000 nit với dải màu cực rộng. Mới nhất là trên chiếc điện thoại iPhone 11 Pro cũng được trang bị tính năng này. Nó cũng cung cấp độ phân giải lên tới 8K và độ sâu màu lên tới 12 bit (tương thích ngược với màn hình 8 bit và 10 bit hiện tại). Dolby Vision có thể mã hóa thông tin so màu hiển thị bằng cách sử dụng siêu dữ liệu tĩnh (SMPTE ST 2086) và siêu dữ liệu động (SMPTE ST 2094-10, định dạng Dolby) cho mỗi cảnh. Ví dụ về Ultra HD (UHD) Dolby Vision có sẵn trong TV, màn hình, thiết bị di động và rạp hát. Nội dung Dolby Vision có thể được phân phối trên các đĩa Blu-ray Ultra HD, qua các dịch vụ truyền phát trực tuyến, OTT và truyền phát trực tuyến thông thường. Siêu dữ liệu Dolby Vision có thể được mang qua giao diện HDMI phiên bản 1.4b trở lên. Nó cũng hỗ trợ không gian màu IPTPQc2, tương tự như ICtCp.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c “DLB Company Financials”. NASDAQ. 
  2. ^ “FAQ - Dolby Laboratories, Inc.”. Dolby Laboratories. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  3. ^ “Dolby Laboratories - Sound Technology, Imaging Technology, Voice Technology”. Audistry.com. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  4. ^ “ViaLicensing”. ViaLicensing. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012.