Du lịch Việt Nam

ngành kinh tế mũi nhọn của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Du lịch Việt Nam được Nhà nước Việt Nam xem là một ngành kinh tế mũi nhọn vì cho rằng đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú. Năm 2019, ngành Du lịch Việt Nam lập kỳ tích lần đầu tiên đón 18 triệu lượt khách quốc tế, tăng 16,2% so với năm 2018. Giai đoạn từ 2015-2019, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng 2,3 lần từ 7,9 triệu lượt lên 18 triệu lượt, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22,7% mỗi năm. Việt Nam liên tục nằm trong nhóm những quốc gia có tốc độ tăng trưởng khách du lịch nhanh nhất thế giới. Năm 2019, du lịch Việt Nam nhận giải thưởng Điểm đến di sản hàng đầu thế giới do World Travel Awards trao tặng, Điểm đến Golf tốt nhất thế giới do World Golf Awards trao tặng. Cùng với đó, World Travel Awards cũng vinh danh Việt Nam là Điểm đến hàng đầu châu Á 2 năm liên tiếp 2018-2019, Điểm đến văn hóa hàng đầu châu Á 2019, Điểm đến ẩm thực hàng đầu châu Á 2019.[2]

Biểu trưng và khẩu hiệu của ngành Du lịch Việt Nam giai đoạn 2012-2015 do Tổng cục Du lịch Việt Nam đưa ra.[1]
Trấn Ba Đình (trái) và cầu Thê Húc bên bờ hồ Gươm, Hà Nội

Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam có những hạn chế như tỷ lệ khách quay trở lại thấp (10-40%). Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao, trung bình hơn 1.000 USD cho một chuyến 9 ngày do sản phẩm du lịch của Việt Nam chưa hấp dẫn, thiếu gắn kết, các hoạt động giải trí, mua sắm, chăm sóc khách chưa đa dạng, công tác xúc tiến quảng bá chưa thực sự hiệu quả do hạn chế về nguồn lực, cơ chế vận hành, chưa thành lập Văn phòng xúc tiến du lịch ở nước ngoài, Quỹ hỗ trợ và phát triển du lịch chưa được vận hành và đi vào hoạt động; hạ tầng sân bay có xu hướng quá tải, chưa đáp ứng được tốc độ tăng trưởng cao về số lượng khách du lịch; chính sách thị thực nhập cảnh còn hạn chế so với các điểm đến cạnh tranh trực tiếp của du lịch Việt Nam như Thái Lan.[3]

Du lịch trong nền kinh tếSửa đổi

Du lịch ngày càng có vai trò rất quan trọng tại Việt Nam. Đối với khách du lịch, họ đi khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu chiến binh Mỹ và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông Nam Á.[4]

Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. Hơn một phần ba của tổng sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các dịch vụ, trong đó bao gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp và giao thông vận tải. Nhà sản xuất và xây dựng (28 %) nông nghiệp, và thuỷ sản (20 %) và khai thác mỏ (10 %).[5]

Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thời điểm 2007). Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch. Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn.[6]

Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn [7]. Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được [7], từ năm 2011, "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 để tiếp nối.[8][9] Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, trong thực tiễn còn cần làm rất nhiều để ngành du lịch thật sự trở thành "mũi nhọn" và từ có "tiềm năng" trở thành có "khả năng".[10][11]

Năm 2015, Cục Di sản văn hóa đã công bố về số lượng khách tham quan các điểm du lịch Việt Nam, theo đó dẫn đầu là Quần thể danh thắng Tràng An đón hơn 5 triệu lượt khách, tiếp theo là vịnh Hạ Long đón trên 2,5 triệu lượt khách, cố đô Huế đứng thứ ba với hơn 2 triệu lượt khách, phố cổ Hội An đón khoảng 1,1 triệu lượt khách

Tiềm năng du lịch của Việt NamSửa đổi

 
Tượng chúa Kito vua ở Vũng Tàu

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, tiềm năng ấy thể hiện ở các thế mạnh sau:

Di tíchSửa đổi

Tính đến năm 2020, Việt Nam có hơn 41.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 4.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 9.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.[12][13] Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 56% di tích của Việt Nam.

Qua 10 đợt xếp hạng, Việt Nam hiện có 112 di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Các di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam được Thủ tướng chính phủ ra quyết định xếp hạng ở 2 đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập, Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội AnĐền Hùng.

Việt Nam có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79. Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt NamBảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.[14] Tuy nhiên, hầu hết các bảo tàng đều vắng khách tham quan, đất công đôi khi bị lạm dụng và sử dụng trái mục đích.[15]

Danh thắngSửa đổi

Hiện nay Việt Nam có 33 vườn quốc gia[16] gồm Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Xuân Thủy, Bạch Mã, Bến En, Phong Nha-Kẻ Bàng, Pù Mát, Vũ Quang, Bidoup Núi Bà, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Côn Đảo, Lò Gò-Xa Mát, Mũi Cà Mau, Núi Chúa, Phú Quốc, Phước Bình, Tràm Chim, U Minh Hạ, U Minh Thượng, Tà Đùng.

Việt Nam có 400 nguồn nước nóng từ 40-120 độ[17]. Nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá tốt như: Suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi Hòa Bình, suối nước nóng Bình Châu Bà Rịa-Vũng Tàu, suối nước nóng Kênh Gà, Ninh Bình, suối nước nóng Quang Hanh Quảng Ninh.

Hang động Việt Nam chủ yếu nằm ở nửa phía bắc của đất nước này do tập trung nhiều dãy núi đá vôi. Hệ thống hang động ở Việt Nam thường là các hang động nằm trong các vùng núi đá vôi có kiểu địa hình karst rất phát triển. Ba di sản thiên nhiên thế giới của Việt Namvịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàngquần thể danh thắng Tràng An đều là những danh thắng có những hang động nổi tiếng. Cho tới năm 2010 chỉ riêng ở Quảng Bình đã thống kê được 300 hang động thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Tỉnh Ninh Bình có 400 hang động trong đó hơn 100 hang động tập trung nhiều ở quần thể di sản thế giới Tràng An - Tam Cốc - Bích Động.[18] Hiện nay tổng số hang động ở Việt Nam được phát hiện lên tới gần 1000 hang động. Các hang động ở Việt Nam tuy nhiều nhưng số được khai thác sử dụng cho mục đích du lịch còn rất ít. Tiêu biểu nhất là: động Phong Nha (Quảng Bình), động Hương Tích (Hà Nội), hang động Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, động Địch Lộng, động Vân Trình, động Thiên Hà (Ninh Bình), hang Pác Bó (Cao Bằng), động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Sơn Mộc Hương (Sơn La), các hang động ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)...

Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp.[19] Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Longvịnh Nha Trang.

Tính đến năm 2003 Việt Nam có khoảng 3500 hồ chứa có dung tích lớn hơn 0.2 triệu m3. Chỉ có 1976 hồ có dung tích lớn hơn 1 triệu m3, chiếm 55,9% với tổng dung tích 24.8 tỷ m3. Trong số hồ trên có 10 hồ do ngành điện quản lý với tổng dung tích 19 tỷ m3. Có 44 tỉnh và thành phố trong 63 tỉnh thành Việt Nam có hồ chứa. Tỉnh có nhiều hồ nhất là Nghệ An (249 hồ), Hà Tĩnh (166 hồ), Thanh Hóa (123 hồ), Phú Thọ (118 hồ), Đắk Lăk (116 hồ) và Bình Định (108 hồ). Một số hồ nổi tiếng ở Việt Nam đã được khai thác du lịch như: Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, hồ Đại Lải, hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai (Hà Nội); Hồ Ba Bể (Bắc Kạn); Hồ Cấm Sơn (Bắc Giang); Hồ Đồng Chương, hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng, hồ Mạc (Ninh Bình); hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở (Đà Lạt,...

Danh hiệu UNESCOSửa đổi

Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam gồm danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại... đã được UNESCO công nhận tại Việt Nam. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất.[20] Thủ đô Hà Nội hiện sở hữu nhiều danh hiệu UNESCO trao tặng nhất cho các đối tượng: Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, ca trù, Hội Gióng, Kéo CoTín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Đến năm 2019, các tỉnh sở hữu từ ba loại danh hiệu UNESCO khác nhau trở lên là: Ninh Bình, Quảng Nam, Lâm ĐồngHà Nội; Các tỉnh Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thái Nguyên chưa từng sở hữu một danh hiệu UNESCO nào.

Tới năm 2017, có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt Nam[21] bao gồm: Quần thể danh thắng Tràng An, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Các di sản thế giới hiện đều là những điểm du lịch hấp dẫn.

Tính đến hết năm 2019 Việt Nam được UNESCO công nhận 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù lao Chàm, Cần Giờ.[22] Cà Mau, biển Kiên GiangKhu dự trữ sinh quyển Langbian.

Có 13 di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới tại Việt Nam như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù, Hội Gióng, Hát xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Tín ngưỡng thờ Mẫu, Đờn ca tài tử, Kéo co, Nghệ thuật Bài Chòi, Thực hành then Tày - Nùng - Thái.

Ngày 21/09/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2017/NĐ-CP [23] quy định về bảo vệ và quản lý Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam. Tại Nghị định 109 giải thích: Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (sau đây gọi chung là di sản thế giới) là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam có giá trị nổi bật toàn cầu về văn hóa và thiên nhiên, được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (sau đây gọi chung là UNESCO) ghi vào Danh mục Di sản thế giới..

Văn hóaSửa đổi

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về văn hoá, phong tục tập quán và lối sống riêng. Ngành du lịch và các địa phương đã nỗ lực xây dựng được một số điểm du lịch độc đáo, như du lịch cộng đồng Sa Pa, du lịch Bản Lát ở Mai Châu...

Sự ra đời và phát triển của sân khấu dân gian Việt Nam gắn liền với đời sống nông nghiệp, múa rối nước là nghệ thuật dân gian của người nông dân làm ruộng nước ở vùng châu thổ sông Hồng, thường được biểu diễn trong dịp hội hè, những lúc nông nhàn, múa rối nước là một nghệ thuật tổng hoà giữa các nghệ thuật điêu khắc, sơn mài, âm nhạc, hội họa và văn học. Cùng với múa rối nước là các môn nghệ thuật hát chèo, tuồng, cải lương góp phần làm phong phú nền sân khấu cổ truyền Việt Nam. Từ đầu thế kỷ 20, cùng với những ảnh hưởng của sân khấu phương Tây, nghệ thuật sân khấu hiện đại Việt Nam được bổ sung thêm các môn nghệ thuật kịch, hài kịch, xiếc, ảo thuật, múa, ballet, opera,... Hiện nay, một số đơn vị nghệ thuật đã đưa vào phục vụ khách du lịch như rối nước Hà Nội, Đờn ca tài tử Bạc Liêu, Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Chèo Ninh Bình, Nhà hát Chèo Hà Nội.

Âm nhạc dân gian Việt Nam cũng có truyền thống lâu đời, bắt đầu với chầu văn, quan họ, ca trù, hát ví, dân ca, vọng cổ, nhạc cung đình,...của người Việt và bên cạnh đó là âm nhạc dân gian của các dân tộc khác như hát lượn của người Tày, hát Sli của người Nùng, hát Khan của người Ê Đê, hát dù kê của người Khmer...Cùng với các môn nghệ thuật hiện đại khác, nền âm nhạc hiện đại Việt Nam từ những năm 1930 được hình thành và phát triển đến ngày nay được gọi là tân nhạc Việt Nam với các dòng nhạc tiền chiến, nhạc đỏ, tình khúc 1954-1975, nhạc vàng, nhạc hải ngoạinhạc trẻ. Tuy nhiên, từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam vẫn chưa có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào đủ lớn để giới thiệu đến du khách quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Ngoại trừ múa rối nước, hiện có 1 sân khấu nhỏ tại Hà Nội và sân khấu múa rối nước Rồng Vàng tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Lễ hội Việt NamSửa đổi

Theo thống kê vào 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%).[24] Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải DươngPhú Thọ.

Tính đến hết năm 2014, Việt Nam có 28 lễ hội được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gồm: Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội), Lễ hội Yên Thế (Bắc Giang), Lễ hội Đền Đô (Bắc Ninh), Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn (Hà Giang), Lễ hội Côn Sơn (Hải Dương), Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương), Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng), Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa (Khánh Hòa), Lễ hội Gầu Tào (Lào Cai, Hà Giang), Lễ hội Kỳ Yên ở đình Gia Lộc (Tây Ninh), Lễ hội Tháp Bà (Ponagar) Nha Trang (Khánh Hòa), Lễ hội Lồng Tông của người Tày (Tuyên Quang).[25]. Lễ hội Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; Hội Lim, Tiên Du,Bắc Ninh,Lễ hội Nghinh Ông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Lễ hội Roóng poọc của người Giáy (Tả Van, Sa Pa, Lào Cai) và Lễ Pút tồng của người Dao đỏ (Sa Pa, Lào Cai). Lễ hội Đền Trần Nam Định, Lễ hội Hoa Lư Ninh Bình, Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ núi Sam An Giang, Lễ hội Lồng tồng Ba Bể Bắc Kạn, Lễ hội làng Lệ Mật Hà Nội, Lễ hội Khô già của người Hà Nhì đen, Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây - Long An, Lễ hội vía Bà Ngũ hành Long An, Lễ làm chay (Long An), Lễ hội Rước cộ Bà chợ Được (Quảng Nam), Lễ hội Làng Đồng Kị(Bắc ninh)

Lịch sử ngành Du lịch Việt NamSửa đổi

Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5 Tháng Sáu, 1951.[26] Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi du lịch trong nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958.[27] Năm 1961 Nha Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương"[28] với ba chí điểm: Nha Trang, Đà LạtVũng Tàu. Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố nâng đỡ kỹ nghệ du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974.

Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09 tháng 7 năm 1960[29]

  • Ngày 16/3/1963, Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB [30] quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam.
  • Ngày 18/8/1969, Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP [31] chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý.
  • Ngày 27/6/1978, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 [32] phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính phủ.
  • Ngày 23/1/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32-CP [33] quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch Việt Nam.
  • Ngày 15/8/1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 120-HĐBT [34] về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 9/4/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT [35] thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam.
  • Ngày 31/12/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 447-HĐBT [36] về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch.
  • Ngày 26/10/1992, Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP [37] thành lập Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 27/12/1992, Chính phủ ban hành Nghị định số 20-CP [38] về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 7/8/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP [39] về cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 25/12/2002, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam.

Quy hoạch du lịchSửa đổi

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch, 46 khu du lịch quốc gia, 40 điểm du lịch quốc gia, 12 đô thị du lịch như sau:[40][41]

Vùng du lịch và trung tâm du lịchSửa đổi

Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trọng điểm du lịch:

  1. Sơn La - Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
  2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
  3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
  4. Thái Nguyên - Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
  5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng [42], Na Hang…
 
Khách du lịch nước ngoài ở Hà Nội
  1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
  2. Quảng Ninh - Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long - Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
  3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc - Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc - Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.
  1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
  2. Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng - sông Lam, Xuân Thành…
  3. Quảng Bình - Quảng Trị gắn với Phong Nha - Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng - Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
  • Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:
  1. Đà Nẵng - Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
  2. Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, mũi Đại Lãnh, vịnh Nha Trang, Cam Ranh,…
  3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…
  • Vùng Tây Nguyên: gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:
  1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia - Suối Vàng.
  2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn [44] và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
  3. Gia Lai - Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.
  1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
  2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
  3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.
  • Vùng Tây Nam Bộ: Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:
  1. Tiền Giang - Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
  2. Cần Thơ - Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
  3. Đồng Tháp - An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
  4. Cà Mau gắn với U Minh - Năm Căn - mũi Cà Mau.

Khu du lịch quốc giaSửa đổi

Việt Nam hiện có 46 khu du lịch quốc gia, là những trọng điểm để đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch.[45] Các khu du lịch đó là: Khu du lịch Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu du lịch thác Bản Giốc, Khu du lịch Mẫu Sơn, Khu du lịch Ba Bể, Khu du lịch Tân Trào Khu du lịch Núi Cốc, Khu du lịch Sa Pa, Khu du lịch Thác Bà, Khu du lịch Đền Hùng, Khu du lịch Mộc Châu, Khu du lịch Điện Biên Phủ-Pá Khoang, Khu du lịch hồ Hòa Bình, Khu du lịch Hạ Long-Cát Bà, Khu du lịch Vân Đồn, Khu du lịch Trà Cổ, Khu du lịch Côn Sơn-Kiếp Bạc, Khu du lịch Ba Vì-Suối Hai, Khu du lịch Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam, Khu du lịch Tam Đảo, Khu du lịch Tràng An, Khu du lịch Tam Chúc, Khu du lịch Kim Liên, Khu du lịch Thiên Cầm, Khu du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng, Khu du lịch Lăng Cô-Cảnh Dương, Khu du lịch Bà Nà, Khu du lịch Cù Lao Chàm, Khu du lịch Mỹ Khê, Khu du lịch Phương Mai, Khu du lịch Vịnh Xuân Đài, Khu du lịch Bắc Cam Ranh, Khu du lịch Ninh Chữ, Khu du lịch Mũi Né, Khu du lịch Măng Đen, Khu du lịch Tuyền Lâm, Khu du lịch Đan Kia-Suối Vàng, Khu du lịch Yokđôn, Khu du lịch núi Bà Đen, Khu du lịch Cần Giờ, Khu du lịch Long Hải-Phước Hải, Khu du lịch Côn Đảo, Khu du lịch Thới Sơn, Khu du lịch Phú Quốc, Khu du lịch Năm Căn, Khu du lịch Xứ sở hạnh phúc.

Điểm du lịch quốc giaSửa đổi

Việt Nam có 40 điểm du lịch quốc gia: Điểm du lịch thành phố Lào Cai, Điểm du lịch Pắc Bó, Điểm du lịch thành phố Lạng Sơn, Điểm du lịch Mai Châu, Điểm du lịch Hoàng thành Thăng Long, Điểm du lịch Yên Tử, Điểm du lịch thành phố Bắc Ninh, Điểm du lịch Chùa Hương, Điểm du lịch Cúc Phương, Điểm du lịch Vân Long, Điểm du lịch Phố Hiến, Điểm du lịch Đền Trần-Phủ Giầy, Điểm du lịch Thành nhà Hồ, Điểm du lịch Lưu niệm Nguyễn Du, Điểm du lịch Ngã ba Đồng Lộc, Điểm du lịch thành phố Đồng Hới, Điểm du lịch thành cổ Quảng Trị, Điểm du lịch Bạch Mã, Điểm du lịch Ngũ Hành Sơn, Điểm du lịch Mỹ Sơn, Điểm du lịch Lý Sơn, Điểm du lịch Trường Lũy, Điểm du lịch Trường Sa, Điểm du lịch Phú Quý, Điểm du lịch Ngã ba Đông Dương, Điểm du lịch Hồ Ya Ly, Điểm du lịch Hồ Lắk, Điểm du lịch thành phố Gia Nghĩa, Điểm du lịch Tà Thiết, Điểm du lịch TW Cục miền Nam, Điểm du lịch Cát Tiên, Điểm du lịch Hồ Trị An-Mã Đà, Điểm du lịch Củ Chi, Điểm du lịch Láng Sen, Điểm du lịch Tràm Chim, Điểm du lịch Núi Sam, Điểm du lịch Cù lao Ông Hổ, Điểm du lịch thành phố Cần Thơ, Điểm du lịch thành phố Hà Tiên, Điểm du lịch Lưu niệm Cao Văn Lầu.

Đô thị du lịchSửa đổi

Việt Nam quy hoạch 12 đô thị du lịch gồm: Đô thị du lịch Sa Pa, thuộc tỉnh Lào Cai; Đô thị du lịch Đồ Sơn, thuộc Thành phố Hải Phòng; Đô thị du lịch Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh; Đô thị du lịch Sầm Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa; Đô thị du lịch Cửa Lò, thuộc tỉnh Nghệ An; Đô thị du lịch Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế; Đô thị du lịch Đà Nẵng, thuộc thành phố Đà Nẵng; Đô thị du lịch Hội An, thuộc tỉnh Quảng Nam; Đô thị du lịch Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hòa; Đô thị du lịch Phan Thiết, thuộc tỉnh Bình Thuận; Đô thị du lịch Đà Lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng; Đô thị du lịch Vũng Tàu, thuộc tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Khẩu hiệu ngành du lịchSửa đổi

Giai đoạn Biểu trưng Khẩu hiệu Ghi chú
2001-2004 Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới
Vietnam - A destination for the new millennium
2004-2005 Hãy đến với Việt Nam
Welcome to Vietnam
Logo bị chê là xấu nhất

Logo tồn tại ngắn nhất

2006-2011   Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn
Vietnam - The hidden charm
2012-2015   Việt Nam – Vẻ đẹp bất tận
Vietnam - Timeless Charm
Logo bị đánh giá là "khó hiểu" [1]

Năm du lịch quốc giaSửa đổi

Năm Du lịch quốc gia là sự kiện kinh tế - văn hóa - xã hội quan trọng của ngành Du lịch Việt Nam, có quy mô quốc tế, được tổ chức thường niên do một địa phương đăng cai. Thông qua các hoạt động trong Năm Du lịch quốc gia, giá trị, vẻ đẹp, tiềm năng phát triển du lịch của các vùng miền nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ được giới thiệu, quảng bá đến nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế.[46]

Năm Địa phương đăng cai Chủ đề Mục đích
2003 Quảng Ninh Non nước hữu tình
2004 Điện Biên Hào hùng chiến khu
2005 Nghệ An Theo chân Bác
2006 Quảng Nam Một điểm đến - hai di sản văn hóa thế giới
2007 Thái Nguyên Về thủ đô gió ngàn - Chiến khu Việt Bắc.
2008 Cần Thơ
và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Miệt vườn sông nước Cửu Long
2009 Đắk Lắk Hủy bỏ vì địa phương đăng cai rút lui.[47]
2010 Hà Nội Thăng Long – Hà Nội, hội tụ ngàn năm chào mừng sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
2011 Phú Yên và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Du lịch biển – đảo[48] Khẳng định chủ quyền và quảng bá biển, đảo Việt Nam
2012 Thừa Thiên – Huế và các tỉnh duyên hải Bắc Trung Bộ Du lịch di sản[49] Kèm tổ chức Festival Huế
2013 Hải Phòng và các tỉnh Đồng bằng sông Hồng Văn minh Sông Hồng[50]
2014 Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên Đại ngàn Tây Nguyên[51] Khơi dậy, kết nối phát huy thế mạnh du lịch của các tỉnh Tây Nguyên
2015 Thanh Hóa Kết nối các di sản thế giới Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và của nhân dân về sự phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
2016 Phú Quốc – Đồng bằng sông Cửu Long Khám phá đất phương Nam
2017 Tây Bắc-Lào Cai Sắc màu Tây Bắc Đây là lần thứ 2 Tây Bắc Bộ đăng cai sự kiện này. Trước đó 13 năm, Điện Biên cũng đã đăng cai là vào năm 2004
2018 Quảng Ninh Hạ Long – Di sản, Kỳ quan – Điểm đến thân thiện Đây là lần thứ 2 Quảng Ninh đăng cai sự kiện này. Trước đó 15 năm, tỉnh này cũng đã đăng cai là vào năm 2003
2019 Khánh Hòa Nha Trang - Sắc màu của biển Năm Du lịch quốc gia 2019 nhấn mạnh vào du lịch biển đảo, đây là sản phẩm đặc trưng, chiến lược của du lịch Việt Nam cũng như của Khánh Hòa.
2020 Ninh Bình Hoa Lư - Cố đô ngàn năm Năm Du lịch quốc gia 2020 có phần lớn các sự kiện bị hủy hoặc hoãn sang năm 2021 do dịch Covid-19.
2021 Ninh Bình Hoa Lư - Cố đô ngàn năm Năm Du lịch quốc gia 2021 quảng bá các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, tài nguyên và sản phẩm đặc sắc của du lịch Ninh Bình.

Quảng cáo du lịch Việt NamSửa đổi

Cho đến năm 2012, mỗi năm Chính phủ Việt Nam đầu tư xúc tiến du lịch là 50 tỷ đồng (tương đương 2,5 triệu USD).[52]

Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam khẳng định, việc quảng bá của du lịch Việt Nam còn hạn chế do thiếu kinh phí.[53] Bà Hoàng Thị Điệp, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch cũng cho biết, do kinh phí hạn hẹp nên Tổng cục mới chỉ có 2 video clip quảng bá chung thị trường du lịch Việt Nam và Trung Quốc.[54] Nguyễn Văn Tình, Cục trưởng Hợp tác quốc tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng "Làm clip du lịch hấp dẫn phải mất 1 triệu USD".[52][55]

Tuy nhiên, đạo diễn chuyên làm clip quảng cáo Vũ Nam Dương cho rằng, nội dung clip phần lớn do yêu cầu của người thuê. Nhiều người chê quảng cáo trong nước xấu không hẳn do người làm không tốt mà là do người thuê có tư duy như vậy.[53] Ông Ian Lyne, Trưởng nhóm Tư vấn dự án chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội cho rằng, chi phí sản xuất video quảng bá dài 2 phút có thể từ 20.000 USD tới 2 triệu USD tùy thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên vẫn có video quảng bá rất tốt, nhưng lại chi phí thấp được sản xuất ở châu Âu.[53]

Vấn đề nan giải của ngành du lịch Việt NamSửa đổi

Du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề yếu kém như ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch, nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác xa mẫu cổ và luôn thu phí vào cửa, tình trạng chèo kéo, bắt chẹt khách, tăng giá phòng tùy tiện, chất lượng hạ tầng cơ sởgiao thông thấp, dịch vụ kém, trong khi đó công tác quản lý của các cơ quan chức năng chưa đạt hiệu quả...[56] Theo đánh giá của ngành du lịch, từ năm 2006 đến nay, hơn 70% du khách quốc tế sau khi đến Việt Nam đều có ý "một đi không trở lại".[57]

Vì những yếu kém trong những mặt khác so với các nước trong khu vực, nên ngành du lịch Việt Nam thường chỉ chú trọng khai thác quá đáng các thắng cảnh thiên nhiên như một điểm mạnh, nhưng việc "xã hội hóa" các danh thắng (cho phép các công ty đầu tư khai thác và bán vé vào cửa) dẫn đến việc hầu hết các nơi danh thắng đều thu tiền vào tham quan, thường là khá đắt, và các công ty này lại không quan tâm bảo trì đúng mức, do đó cảnh quan đang bị xuống cấp hay phá hủy, điển hình là trường hợp các di tích quốc gia như Thác Voi,[58] Thác Liên Khương.[59]

Lãnh đạo ngành du lịch hứa hẹn, năm 2010, ngành sẽ đột phá cải thiện nhà vệ sinh, sẽ phát động chiến dịch ở đâu có du lịch ở đó có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn.[60], tuy nhiên đã không đạt được.

Năm 2012, lần nữa, những tin tức tiêu cực và kinh nghiệm xấu về du lịch Việt Nam được đăng tải trên nhiều báo chí, phản ánh 'Nạn lừa đảo du khách rất đáng báo động', chất lượng dịch vụ kém và "du khách đua nhau tố các chiêu 'chặt chém' [61] ", chưa có đấu hiệu thay đổi . Thêm nữa, nạn ô nhiễm môi trường lại tăng lên, theo kết quả của báo cáo thường niên năm 2012 mang tên The Environmental Performance Index (EPI) của hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ thực hiện, về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng 132 quốc gia khảo sát, được xem là có không khí bẩn thứ 10 thế giới.[62]

Đầu năm 2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ 2017 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo: “Làm thế nào để khách du lịch quay lại VN sớm nhất có thể, chứ không để tình trạng khách một đi không trở lại”. Ông chia sẻ: “Tôi vừa lấy điện thoại thông minh thì đọc được bài 7 nỗi sợ hãi khi đến du lịch VN: chặt chém, cướp giật, mất vệ sinh...”.[63]

Thống kê lượt khách quốc tếSửa đổi

Lượt khách nước ngoài đến Việt Nam qua các năm:[64]

Năm Du khách từ nước ngoài Thay đổi
1995 1.351.300
1996 1.607.200 18.9%
1997 1.715.600 6.7%
1998 1.520.100 -11.4%
1999 1.781.800 17.2%
2000 2.140.100 20.0%
2001 2.330.800 8.9%
2002 2.628.200 12.8%
2003 2.429.600 -7.6%
2004 2.927.876 20.5%
2005 3.467.757 18.4%
2006 3.583.486 3%
2007 4.171.564 16%
2008 4.253.740 0.6%
2009 3.772.359 -10.9%
2010 5.049.855 34.8%
2011 6.014.032 19.1%
2012 6.847.678 10.8%
2013 7.572.352 10,6%
2014 7.874.312 4,0%
2015 7.943.651 0,9%
2016 10.012.735 26,0%
2017 12.922.151 29,1%
2018 15.497.791 19.9%

10 quốc gia có lượt khách đến Việt Nam nhiều nhất:[64]

Thứ hạng Quốc gia 2019 2018 2017 2016 2015 2014 2013 2012 2011
1   Trung Quốc 4,966,468 4,008,253 2,696,848 1,780,918 1,947,236 1,907,794 1,428,693 1,416,804
2   Hàn Quốc 3,485,406 2,415,245 1,543,883 1,112,978 847,958 748,727 700,917 536,408
3   Nhật Bản 826,674 798,119 740,592 671,379 647,956 604,050 576,386 481,519
4   Hoa Kỳ 687,226 614,117 552,644 491,249 443,776 432,228 443,826 439,872
5   Đài Loan 714,112 616,232 507,301 438,704 388,998 398,990 409,385 361,051
6   Nga 606,637 574,164 433,987 338,843 364,873 298,126 174,287 101,631
7   Malaysia 540,119 480,456 407,574 346,584 332,994 339,510 299,041 233,132
8   Úc 386,934 370,438 320,678 303,721 321,089 319,636 289,844 289,762
9   Thái Lan 349,310 301,587 266,984 214,645 246,874 268,968 225,866 181,820
10   Campuchia 202,954 222,614 211,949 227,074 404,159 342,347 331,939 423,440
Xếp hạng du lịch thế giới[65]
Năm 2008 2009 2010
Lượt khách quốc tế
(1000)
4.236 3.747 5.050
Tổng doanh thu du lịch quốc tế
(triệu USD)
3.930 3.050 4.450
Khách và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua 10 năm gần đây (2000–2010)

Nguồn: Tổng cục Thống kê Đơn vị: triệu người

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượt khách đến Việt Nam 2.1 2.3 2.6 2.4 2.9 3.4 3.5 4.2 4.2 3.7 5
Lượt khách đến Việt Nam du lịch 1.1 1.2 1.4 1.2 1.5 2 2 2.6 2.6 2.2 3.1

Ảnh các địa điểm du lịchSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Logo du lịch mới bị chê khó hiểu
  2. ^ Ấn tượng tăng trưởng Du lịch Việt Nam trong bối cảnh khó khăn chung của thế giới và khu vự
  3. ^ Tìm hướng đi mới cho ngành du lịch Việt Nam
  4. ^ Điểm nóng du lịch mới ở châu Á
  5. ^ “Bản sao đã lưu trữ” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  6. ^ Wirtschaftsentwicklung Vietnam 2008
  7. ^ a ă Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010
  8. ^ Phê duyệt "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"
  9. ^ Nguyên văn "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"
  10. ^ Du lịch Việt Nam bao giờ cho đến "mũi nhọn"?, SGGP, 18/03/2013
  11. ^ Du lịch Việt Nam - bao giờ "tiềm năng" mới thành "khả năng"?, Tuổi Trẻ, 29/09/2007
  12. ^ Di sản góp phần phát triển du lịch
  13. ^ Nhiều di sản, di tích cần 'tiếp sức'
  14. ^ Báo văn hóa
  15. ^ Bảo tàng vắng khách, nhà hàng 'bủa vây', VnExpress, 22/10/2012
  16. ^ Rừng đặc dụng được công nhận Vườn Quốc gia
  17. ^ “Đặc điểm của tài nguyên và môi trường nước lục địa của Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2006. 
  18. ^ Tọa đàm chương trình khảo sát sản phẩm du lịch Ninh Bình
  19. ^ Việt Nam: Sẽ khai thác hợp lý lợi thế của du lịch biển
  20. ^ Hoàng thành Thăng Long chính thức là Di sản thế giới
  21. ^ Quản lý, bảo tồn và phát triển du lịch tại các di sản thế giới ở Việt Nam
  22. ^ UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An
  23. ^ Nghị định 109/2017/NĐ-CP bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới
  24. ^ Hơn 7.000 lễ hội... đua chen
  25. ^ Công bố danh sách 33 di sản văn hóa phi vật thể
  26. ^ Giải pháp Bảo Đại
  27. ^ "Hearts and Minds: Cultural Nation-building in South Vietnam, 1954-1963
  28. ^ Lạt bước vào năm 2000
  29. ^ Chặng đường 45 năm phát triển ngành Du lịch Việt Nam
  30. ^ Quyết định 164-BNT-TCCB
  31. ^ Nghị định số 145 CP
  32. ^ Nghị quyết số 262-NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục du lịch Việt Nam
  33. ^ Nghị định 32-CP năm 1979 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục du lịch
  34. ^ Nghị định 120-HĐBT năm 1987 về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch
  35. ^ Nghị định số 119-HĐBT thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam
  36. ^ Nghị định số 447-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch
  37. ^ Nghị định 5-CP năm 1992 thành lập Tổng cục Du lịch
  38. ^ Nghị định số 20-CP
  39. ^ Nghị định số 53/CP
  40. ^ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013
  41. ^ Về việc phê duyệt "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
  42. ^ Kinh nghiệm du lịch Mèo Vạc – nơi có đèo Mã Pì Lèng nổi tiếng thời gian gần đây
  43. ^ Lập Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc đến năm 2020, tầm nhìn 2030
  44. ^ Quyết định 03/2004/QĐ-BNN Quy chế tổ chức hoạt động Vườn quốc gia Yok Đôn
  45. ^ Phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường biển
  46. ^ Lễ công bố Năm Du lịch quốc gia 2019: Nha Trang - Sắc màu của biển
  47. ^ “Không tổ chức năm du lịch quốc gia 2009”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2008. 
  48. ^ Năm Du lịch quốc gia 2011: Vực dậy tiềm năng du lịch biển đảo
  49. ^ Nâng cao hiệu quả tổ chức Năm Du lịch quốc gia giai đoạn 2012-2017
  50. ^ Lễ Công bố Năm Du lịch Quốc gia 2013, tổ chức vào ngày 06/01/2013.
  51. ^ Lâm Đồng công bố năm du lịch quốc gia 2014 Tây Nguyên - Đà Lạt
  52. ^ a ă 'Làm clip du lịch hấp dẫn phải mất 1 triệu USD', VnExpress, 25/12/2012
  53. ^ a ă â 'Người Việt Nam làm clip du lịch không thành công', VnExpress. 29/12/2012
  54. ^ Du lịch Việt Nam thiếu tiền làm clip quảng bá, VnExpress, 23/12/2012
  55. ^ Đừng làm clip quảng bá du lịch kiểu 'tô son cho gỗ mục', VnExpress, 27/12/2012
  56. ^ Tôi ngưỡng mộ du lịch Campuchia, VnExpress. 17/1/2013
  57. ^ Hơn 70% khách quốc tế "một đi không trở lại", Dân Trí, 13/08/2007
  58. ^ Thác Voi bị bán với giá 3 tỉ đồng, Người Lao động, 14/05/2008
  59. ^ Xung quanh việc 2 di tích quốc gia ở Lâm Đồng xin "khai tử" , Sài Gòn giải phóng, 28/02/2008
  60. ^ Việt Nam quảng bá du lịch tại 7 thị trường lớn
  61. ^ ‘Chặt chém du khách’: Một đi không trở lại
  62. ^ Không khí ở Việt Nam bẩn thứ 10 thế giới
  63. ^ VN phát triển mà quá trời người ung thư, có đáng không?, tuoitre.vn, 13/01/2017
  64. ^ a ă Nguồn từ Bộ Du lịch Việt Nam
  65. ^ “UNWTO Tourism Highlights, 2011 Edition” (Thông cáo báo chí). Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO. 2011. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2019. 

Liên kết ngoàiSửa đổi