Ernest Cushing Richardson

Ernest Cushing Richardson (Sinh ngày 9 tháng 2 năm 1860 - Mất ngày 3 tháng 6 năm 1939) [1] là một thủ thư, nhà thần học và học giả người Mỹ. Trong suốt cuộc đời của mình, Richardson đã cố gắng đạt được những tiến bộ trong hệ thống biên mục và tăng khả năng tiếp cận các tài liệu nghiên cứu cần thiết trong các thư viện Hoa Kỳ. Ông được bầu chọn là một trong "100 nhà lãnh đạo quan trọng nhất [Thủ thư] trong thế kỷ 20" của tạp chí American Libraries năm 1999.[2]

Ernest Cushing Richardson
Ernest Cushing Richardson ALA.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ1904 – 1905
Tiền nhiệmHerbert Putnam
Kế nhiệmFrank Pierce Hill
Thông tin chung
Quốc tịchAmerican
Sinh(1860-02-09)9 tháng 2, 1860
Woburn, Massachusetts, USA
Mất3 tháng 6, 1939(1939-06-03) (79 tuổi)
Old Lyme, Connecticut, USA
Nguyên nhân mấtAngina pectoris
Nghề nghiệpThủ thư
Học vấnAmherst College

Thiếu thời và giáo dụcSửa đổi

Richardson sinh ra trong một gia đình trung lưu ở Woburn, Massachusetts. Cha của ông, James Cushing, và mẹ, Lydia Bartlett Taylor Richardson, có nguồn gốc ở Anh. Khi còn nhỏ, Ernest được mô tả là lực lưỡng. Ông vô cùng thích các môn bóng chày, trượt băng và leo núi và tiếp tục tận hưởng đam mê này trong suốt cuộc đời.

Richardson bắt đầu học lên cao ở trường Amherst College vào tháng 9 năm 1876. Để có thêm thu nhập cho việc học, ông làm việc như một sinh viên giúp việc trong thư viện và một người xếp bowling trong một trung tâm bowling. Ông cũng đề đơn và nhận được học bổng, điều mà ông “... thấy thỏa mãn bởi thành tích học tập tốt và một múc đích nghiêm túc.” Trong suốt những năm đầu tiên của Richardson ở Amherst, Melville Dewey là một trợ lý thủ thư. Dewey được hỗ trợ bởi WS Biscoe, người đã làm việc với Dewey trên Hệ thống thập phân Dewey. Điều này đã được đề cập bởi Lewis C. Branscomb, người viết tiểu sử chính của Richardson, rằng những người thủ thư này đã ảnh hưởng đến Richardson trong sự nhiệt tình của ông đối với các phương pháp phân loại.

Richardson được chọn là trợ lý thư viện ở Amherst trong suốt năm 2 Đại học. Trong suốt sự nghiệp học thuật của mình, ông duy trì mức điểm trung bình tốt đến mức khi ông tốt nghiệp 2 tháng 7 năm 1880, ông trở thành thành viên danh dự của tổ chức Phi Beta Kappa.[1]

Chủng viện thần học HartfordSửa đổi

Sau khi tốt nghiệp tại Amherst, Richardson chấp nhận một vị trí bán thời gian tại Chủng viện Thần học Hartford với tư cách là trợ lý sinh viên dưới quyền của Tiến sĩ Chester David Hartranft, một trong những người sáng lập Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ. Khi còn ở trường Hartford Theological Seminary, Richardson được cho phép đi đến Châu Âu. Nhờ vào nhiều chuyến đi khắp Châu Âu mà Richardson có thể học, kiểm tra và thu thập nhiều cuốn sách, bản thảo và tài liệu có giá trị[SCD1]. Những nghiên cứu này giúp hỗ trợ niềm tin của Richardson rằng các thư viện Mĩ thiếu nhiều tài liệu nghiên cứu quan trọng. Ba năm trong sự nghiệp của ông ở Hartford Seminary, Richardson được tặng bằng M.A danh dự từ trường Amherst College, điều thường thực hiện cho các học viện vào thời điểm đó(được trao cho những sinh viên tốt nghiệp đã phát triển sự nghiệp hay nghiên cứu phổ thông trong hai hay nhiều năm). Richardson được chọn là thư viện viên chính năm 1884, và một lần nữa năm 1888 với chức danh trợ giảng. Ông được trao bằng Tiến sĩ danh dự từ trường Washington and Jefferson College cho công trình của ông về biên mục ngày 13 tháng 6 năm 1988

Những năm tháng ở PrincetonSửa đổi

Sau nhiều năm phục vụ thư viện tại Chủng viện Thần học Hartford, Richardson đã chấp nhận một vị trí tại Đại học Princeton, sau này được biết với tên gọi là Trường Cao đẳng New Jersey. Richardson đã được đã được mời vào nhiều vị trí trong những dịp khác nhau, tuy nhiên, lời hứa hỗ trợ của ông với trường Hartford Theological Seminary, và lời hứa với bản thân trong việc nghiên cứu tôn giáo khiến cho các công việc này không mấy hứng thú cho đến khi sự hứa hẹn về việc tăng lương không đáp ứng kì vọng. Trường Princeton University đề nghị Richardson một mức lương gấp đôi so với Thư viện Hartford Theological Seminary. Richardson chấp nhận vị trí tại Princeton năm 1890. Trong năm sau Richardson kết hôn với Grace Duncan Ely vào ngày 30 tháng 6. Cha của cô là một nhà đầu tư cà phê giàu có của New York và phần tài sản kế thừa Grace nhận được sau khi cha cô mất có thể giúp Richardson duy trì một nửa lương độc lập của ông trong suốt phần đời còn lại của ông.

Khi ở Princeton, Richardson có thể tăng bộ sưu tập và trang thiết bị của thư viện nhiều lần. Ông cũng thực hiện những thay đổi mới trong công tác biên mục. Một trong những thay đổi này là là lý luận “Title-a-Bar”, lý luận này cho rằng những cuốn sách được cung cấp trên một dọc cho nhan đề của chúng trên danh sách tác phẩm và danh sách chủ đề. Richardson tin rằng thời gian được tiết kiệm trong tìm kiếm thông qua mục lục theo một dọc và biên mục những phần mới theo một dọc tăng hiệu quả và cho phép tài nguyên vào trong hệ thống thư viện và được tìm kiếm dễ dàng hơn.[1]

Không may, không phải ai ở Princeton cũng đồng tình với phương pháp của Richardson trong việc biên mục. Hệ thống của ông, thường được gọi là “Hệ thống Princeton” dựa trên tất cả những con số và mô tả chi tiết cho việc phân loại, hình thành số biên mục khá dài.[3] Và, sau nhiều năm công tác tại Đại học Princeton, với nhân viên và sinh viên, Richardson có mâu thuẫn với một nhóm giảng viên ở đó, những người cho rằng Richardson không thực hiện đúng nhiệm vụ của mình và một số khoản đầu tư sử dụng không hiệu quả. Một hội đồng được thành lập để điều tra những cáo buộc đó, kết quả là Richardson không bị kết tội, và có lời đề nghị là trường nên cung cấp cho thư viện số tiền lớn hơn. Quan điểm lạc quan này không tồn tại lâu, và J.T. Gerould được bổ nhiệm là thư viện viên và vị trí giám đốc mới này không giúp Richardson được tăng lương. Căng thẳng lớn dần khi Richardson đi công tác nước ngoài và tiền lương bị cắt giảm, dù ông làm nhiệm vụ của thư viện và luôn ứng tiền trước. Để làm vấn đề tồi tệ hơn, Gerould thay đổi hệ thống “Title-a-Bar” và “Princeton System” của Richardson sang hệ thống biên mục “Full-form” và hệ thống biên mục của Thư viện Quốc hội Mĩ(“Library of Congress System”) khi Richardson đang công tác nước ngoài. Mâu thuẫn giữa Gerould và Richardson tiếp tục và, trong năm 1925, Richardson nghỉ hưu từ Princeton và chấp nhận một đề nghị từ Thư viện Quốc hội Mĩ với tư cách là Cố vấn danh dự về thư mục.[1]

Các thư viện Princeton dừng sử dụng phương pháp của Richardson cho những bộ sưu tập mới trong những năm 1960. Vào năm 2010, Thư viện Firestone đã bắt đầu hoàn thành việc chuyển đổi sang hệ thống Phân loại của Thư viện Quốc hội, mặc dù các cuốn sách được phân loại theo phương pháp Richardson vẫn còn trong các thư viện khác của Princeton.[4]

Những năm cuối đờiSửa đổi

Richardson làm việc cho Thư viện Quốc hội Mĩ như một cố vấn mà không có lương cho đến năm 1934, lúc mà nhiều mâu thuẫn và ông buộc phải dung hòa yêu cầu buộc ông từ chức từ các nơi Thư viện Quốc hội(Library of Congress), Hiệp hội thư viện Hoa Kì(American Library Association) trong năm 1934, Học viện American Library Institute năm 1935 và Học viện Institut Francais de Washington năm 1936. Vợ của Richardson, Grace, chết vào ngày 29 tháng 10 năm 1933, sau đó ông thuê nhà của họ ở Princeton và chủ yếu sống trong ngôi nhà nhỏ “High Pastures” ở Old Lyme, Connecticut. Ông bắt đầu đổ bệnh và phấn phát thư viện cá nhân của mình, xấp xỉ 15000 quyển, đến Thư viện Quốc hội Mĩ, Thư viện Y Học Quân đội(Army Medical Library) và tiệm sách Brick Row Bookshop tại thành phố New York. Ngày 29 tháng 6 năm 1939 Richardson chết vì đau thắt ngực và được hỏa táng tại khu đất của gia đình Ely gần Lyme, Connecticut.[1]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c Lewis Capers Branscomb (1 tháng 1 năm 1993). Ernest Cushing Richardson: Research Librarian, Scholar, Theologian, 1860-1939. Scarecrow Press. ISBN 978-0-8108-2672-4. 
  2. ^ Kniffel, Sullivan, & McCormick. "100 of the Most Important Leaders We had in the 20th Century". American Libraries, 1999, p. 38-48.
  3. ^ Richardson, Ernest C. “Classification: Theoretical and Practical”. H.W. WilsonCo, 1935.
  4. ^ Bernstein, Mark F. (17 tháng 11 năm 2010). “Firestone phasing out a uniquely Princeton way to classify books”. Princeton Alumni Weekly 111 (4).