Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Thiền sư Giác Lãng Đạo Thịnh (zh: 覺浪道盛, ja: Kakurō Dōsei, 1592-1659), thiền sư Trung Quốc thuộc Tông Tào Động, từng sống vào cuối thời nhà Minh đầu nhà Thanh. Sư là đệ tử nối pháp của Thiền sư Hối Đài Nguyên Cảnh, dưới sự hoằng hóa của sư có 29 đệ tử ngộ đạo và được nối pháp, ghóp phần phát triển và duy trì thiền thống Thiền Tông Trung QuốcTông Tào Động trong lúc đang dần bị phai mờ.

họ Trương, hiệu là Trượng Nhân, quê ở Phổ Thành, Kiến Ninh, Phúc Kiến. Người ta kể lại nhân duyên đến với Phật Pháp của sư là khi ông nội sư già yếu và qua đời trong tư thế ngồi và vì thấy thế làm cho sư khởi nghi tình. Đến năm 19 tuổi, sư xuất gia tại chùa Thoại Nham(瑞巖) và sau đó đến tham học Thiền với Thiền sư Vô Minh Huệ Kinh ở Thọ Xương Tự. Một hôm, khi sư đang đi trên đường và chợt nghe tiếng mèo kêu và làm cho sư đạt kinh nghiệm giác ngộ đầu tiên và từ đó thôi thúc sư nỗ lực quyết chí tu tập hơn. Sư từng thọ giới cụ túc với Thiền sư Bác Sơn Nguyên Lai tại chùa Bác Sơn.

Sau đó, sư đọc quyển Bá Trượng Thiền sư Pháp Ngữ và chuyên tâm tham công án thì liền đại ngộ. Khi trên đường đến gặp Thiền sư Vô Minh Huệ Kinh trình sở ngộ thì sư vô tình dừng lại tại chùa Đông Uyển ở Thư Lâm và tham vấn với pháp tử của Thiền sư Huệ Kinh là Thiền sư Hối Đài Nguyên Cảnh. Một hôm, Thiền sư Nguyên Cảnh hỏi: ”Ta nghe Thọ xương đề xướng kinh Duy- ma phải không?” Sư đáp: ”Bạch hoà thượng! Có nghe”. Ngài hỏi:” Di – lặc được thọ ký một đời là thế nào?”. Sư thưa: ”Thưa có rất nhiều người hoài nghi ”, Ngài hỏi: ”Còn ông đã tới đâu rồi?”.Tới đây sư không đáp được và tự khởi nghi tình.

Một hôm nhân lúc sưởi ấm, sư bèn nêu lại công án tăng hỏi Đức Sơn về kiếp lửa cháy sạch và hỏi Thiền sư Nguyên Cảnh: ”Có người nói hoại, có người nói không hoại. Ý này thế nào?”. Ngài hỏi lại: ”Còn ông thì sao?”. Sau đó, sư tiếp tục tham Thiền và đại ngộ triệt để, được Thiền sư Hối Đài Nguyên Cảnh ấn chứng và nói kệ truyền pháp cho sư nối Tông Tào Động.

Năm 1619, sư bắt đầu khai đường thuyết pháp và tiếp dẵn người học tại Quốc Hoàn Tự. Ngoài ra, sư cũng từng trú trì tại nhiều ngôi chùa khác như Linh Cốc Tự ở Kim Lăng, Long Hồ Tự ở Ma Thành, Thọ Xương Tự ở Tân Thành... Và sư từng xây dựng hơn 50 ngôi đạo tràng ở La Sơn để truyền bá Phật Pháp, sư cũng là tác giả của nhiều tác phẩm Thiền học:

  1. Lẫm Sơn Trung Công Truyện, 廩山忠公傳, 1 quyển.
  2. Phật Tổ Nguyên Lưu Tán,佛祖源流贊.
  3. Truyền Đăng Chính Tông,傳燈正宗.
  4. Tôn Chính Quy, 尊正規.
  5. Động Tông Tiêu Chánh, 洞宗標正...

Hành trạng và cuộc đời của sư do đệ tử nối pháp là Thiền sư Trúc Am Đại Thành ghi lại. Sư thuyết pháp độ chúng hơn 40 năm làm cho tông Tào Động phát triển, môn đệ đến tham học rất đông và có người được khai ngộ. Các bài giảng trong suốt cuộc đời thuyết pháp của sư được môn đệ chép lại trong Thiên Giới Giác Lãng Thịnh Thiền Sư Toàn Lục...

Cuối đời, sư đến trụ trì tại Thiên Ninh Tự ở Giang Nam, tỉnh Giang Tô. Ngày 7 tháng 9 năm thứ 16 (1659) niên hiệu Thuân Trị nhà Thanh, sư an nhiên tọa Thiền thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi và 49 năm hạ lạp. Đồ chúng xây tháp thờ xá lợi tại núi Nhiếp Sơn.

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh, quyển 2, Thiền Sư Hư Vân biên soạn, đệ tử Đại Sư Tuyên Hóa hiệu đính.