Mở trình đơn chính
Lễ khai giảng ngày 15 tháng 11 năm 1945Trường Đại học Quốc gia Việt Nam, cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền giáo dục dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nền giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức có mặt từ năm 1945 nhưng đến năm 1946 vì phải sơ tán trước cuộc phản công của Pháp nên mãi đến năm 1954 sau khi chính phủ Việt Minh về tiếp thu thủ đô Hà Nội và tiếp quản các cơ cấu hành chính, trong đó có Tổng nha Học chính của Liên bang Đông Dương cũ, thì mới có cơ sở vững vàng để thực hiện. Với chính thể mới, hệ thống giáo dục này tồn tại cho đến năm 1985 khi nền giáo dục hai miền Nam Bắc thống nhất, dù rằng việc thống nhất chính trị giữa hai miền đã diễn ra từ năm 1976.[1]

Một đặc điểm của giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là có tính định hướng chính trị và giáo dục được xem là một công cụ để tuyên truyền quan điểm, mục tiêu của nhà nước.[2] Nền giáo dục đó vận hành theo nguyên tắc "dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá", về quy mô thì chú trọng công tác phổ cập cơ bản cho toàn bộ người dân, về nội dung thì chú trọng bồi dưỡng đạo đức và kiến thức khoa học, lý tưởng chính trị và tinh thần ái quốc[3]

Những quy định trong hiến phápSửa đổi

Điều 15, Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946: "Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước."

Điều 33, Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959: "Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường học và cơ quan văn hoá, phát triển các hình thức giáo dục bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó."

Giáo dục tiểu học và trung họcSửa đổi

Ngay từ năm 1946 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho áp dụng chương trình học của Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời Đế quốc Việt Nam dưới chính phủ Trần Trọng Kim) ở cấp tiểu học và trung học. Nỗ lực của thập niên 1940 và 1950 cũng là phải xóa nạn mù chữ với sự đóng góp của Nha Bình dân Học vụ.[4] Năm 1950, hai bậc tiểu họctrung học được quy hoạch lại tổng cộng có 9 lớp:[5]

  1. tiểu học (cấp I), bốn năm;
  2. trung học cơ sở (cấp II), ba năm;
  3. trung học phổ thông (cấp III), hai năm.

Năm 1956, chính quyền lại ra nghị quyết cải tổ giáo dục phổ thông, đổi lại thành 10 năm:[2][5]

  1. tiểu học (cấp I), bốn năm;
  2. trung học gồm cấp II và cấp III, mỗi cấp có ba năm.

Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Giáo dục đã dùng hệ thống giáo dục của Cộng hòa Nhân dân Trung QuốcLiên Xô làm mẫu với sự giúp đỡ của cố vấn Liên Xô. Chủ trương của hệ thống giáo dục mới đặt trọng tâm ở mặt thực dụng.[5] Xong năm lớp 10 học sinh thi lấy bằng trung học phổ thông.[1]

Học sinhSửa đổi

Số liệu học sinh trung tiểu học[6]
Niên học Cấp I Cấp II Cấp III
1958-59[7] 964.855 116.922 15.140
1964-65 2.160.000 670.000 80.000
1966-67 2.410.000 810.000 100.000

Số liệu vào giữa thập niên 1960 cho biết tổng cộng cả ba cấp có 10.150 trường sở, trong đó có 242 trường cấp III. Số học sinh lên gần ba triệu và khoảng 80-85% trẻ em ở lứa 7 đến 10 tuổi đi học. Số học sinh từ cấp I lên cấp II rất thấp, chỉ khoảng 15%; từ cấp II lên cấp III xuống chỉ còn 10%.[8] Cũng khoảng thời gian đó có 90.000 giáo viên.[6]

Trường dạy nghềSửa đổi

Học sinh đậu cấp II có thể ghi danh học nghề thay vì lên cấp III. Khoảng 20% học sinh xong cấp II được chuyển sang trường nghề. Loại trường huấn nghệ có chương trình 2 năm, 2,5 năm và 3 năm. Cả nước có 106 trường (1962) đào tạo hơn 55.000 học sinh trong số đó 75% thuộc thành phần giai cấp công nông.[8]

Giáo dục đại họcSửa đổi

Bậc đại học thì vì lúc đầu phải sơ tán nên chủ yếu vẫn dùng chương trình thời Pháp thuộc kể cả tiếng Pháp để giảng dạy đến năm 1950 mới đổi sang tiếng Việt. Viện Đại học Đông Dương (tiếng Pháp: Université Indochinoise) phải đóng cửa nhưng rồi tái khai giảng vào cuối năm 1945 với tên mới: Trường Đại học Quốc gia Việt Nam với hơn 1.100 sinh viên ghi danh. Lúc đó trường có năm ban: Y khoa, Khoa học, Văn khoa, Chính trị xã hội, và Mỹ thuật.[9] Trường này sau đó chuyển lên Việt Bắc và được sắp xếp lại. Trường Đại học Luật bị bỏ hẳn, thay thế bởi Trường Đại học Chính trị Xã hội, đến năm 1948 thì gọi là Trường Pháp chính. Trong khi đó Văn khoa dạy thêm ngoại ngữ: Anh, NgaHoa.[2]

Sau khi trở về Hà Nội, Chính phủ ký nghị định ngày 6 tháng 3 năm 1956 tổ chức lại cấp đại học và lập ra năm trường đại học: Bách khoa, Nông lâm, Sư phạm, Tổng hợp (Văn khoa và Khoa học), và Y dược. Cũng kể từ đó giáo trình đại học bỏ mô hình của Pháp và theo chương trình học của Liên Xô, chú tâm đến mặt thực dụng.[2][5] Học sinh phải chọn một chuyên môn rất sớm và rẽ theo học trình đó. Cũng theo mô hình của Liên Xô thì mỗi trường cũ đứng riêng thành trường độc lập, giao cho từng bộ quản lý. Bộ Xây dựng nắm Đại học Kiến trúc, Bộ Nông lâm quản lý Đại học Nông lâm... Hệ thống giáo dục đại học bị phân tán cho nhiều cơ quan quản lý. Bộ Giáo dục không giữ vai trò quản lý mà chỉ là cơ quan liên lạc giữa các trường sở.[5] Bậc đại học của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian hơn 20 năm không đào tạo tiến sĩ nên sinh viên cần học kiến thức cao hơn thì phải đi du học ở Liên XôĐông Âu theo chỉ tiêu và sự tuyển chọn của nhà nước.[1]

Bắt đầu từ niên học 1959-1960, tuyển viên muốn nhập học đại học bị chia thành ba nhóm với những điều kiện căn cứ trên giai cấp và lý lịch như sau đây:[5]

  • Thành phần cán bộ kháng chiến, thanh niên giai cấp công nông, cán bộ dân tộc thiểu số: 40%
  1. Lý lịch sạch
  2. tư tưởng chính trị vững chắc
  3. xong lớp 10, nếu không thì có thể phải thi thêm một kỳ thẩm định nhưng vẫn được ưu tiên nhập học
  • Thành phần cán bộ: 35%
  1. đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam
  2. con em bần nông, cố nông, hoặc trung nông
  3. con em liệt sĩ
  • Thành phần khác: 25%
  1. chọn theo điểm
  2. thành phần "giai cấp bóc lột" không được quá 3%.

Vì quan niệm giáo dục phải phục vụ mục tiêu của Nhà nước, bồi dưỡng ý thức chính trị của sinh viên nên bất kể học ở chuyên ngành nào, sinh viên đại học đều phải học triết học Mác-Lê và lý thuyết đấu tranh giai cấp.[1] Ngay trường Y khoa Hà Nội cũng phải tham gia chỉnh huấn Cải cách ruộng đất cùng "học tập công nông". Sinh viên khi tốt nghiệp không trình luận án mà chỉ thi hai phần: Chuyên môn và Chính trị.[10]

Trong niên học năm 1975-76 thì lối học tập chính trị được đem áp dụng triệt để ở miền Nam và cả năm học đó được dành cho "công tác chính trị tư tưởng" cho các sinh viên và giảng viên.[11]

Các cơ sở giáo dục đại họcSửa đổi

  • Trường Đại học Y khoa Hà Nội: trước thuộc Viện Đại học Hà Nội nhưng theo nghị định năm 1956 thì tách riêng. Trường Y khoa bị cắt khỏi Bộ Giáo dục và chuyển sang Bộ Y tế và học trình rút bỏ từ bảy năm thành sáu năm, loại bỏ ngoại trú, nội trú và luận án. Ngoài ra Bộ Y tế mở một chương trình hai năm học bắt đầu từ năm 1960 ở Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông và Phú Thọ để đào tạo hàng ngàn y sĩ trung cấp trong khi học trình bác sĩ y khoa rút xuống còn bốn năm. Việc này diễn ra được hai năm nhưng vì thấy không hiệu quả nên sau đó lại trở lại học trình sáu năm cho y khoa.[12]
  • Trường Đại học Bách khoa Hà Nội: thành lập năm 1956 với bốn ngành, Cơ khí, Điện & Mỏ, Luyện kim & Hóa học, và Thực phẩm & Xây dựng.[13]
  • Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: thành lập năm 1956, tập trung vào các ngành khoa học cơ bản. Năm 1993, trường này sáp nhập với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội để hình thành Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: thành lập năm 1951, ban đầu với tên gọi Trường Đại học Sư phạm Khoa học (1951–1956), sau đó là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (1966–1993), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1993–1999) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, và trở lại tên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 10 năm 1999.
  • Trường Đại học Nông lâm Hà Nội: thành lập năm 1956. Các tên gọi khác: Học viện Nông Lâm (từ 1958), Trường Đại học Nông nghiệp (từ 1963), Trường Đại học Nông nghiệp I (từ 1967), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (từ 2007), và Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam (từ 2014).

Số sinh viênSửa đổi

Vào năm 1962 có 8.087 sinh viên đại học.[14] Đến năm 1964 thì tăng lên khoảng 27.000 sinh viên cấp đại học, trong số đó khoảng 20.000 theo học ở Hà Nội.[8]

Nhận xétSửa đổi

Năm 1956 chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu chính phủ Pháp gửi một số giáo viên sang bổ túc việc giảng dạy ở Lycée Albert Sarraut, tức trường trung học Chu Văn An ở Hà Nội. Một số người tình nguyện sang Bắc Việt, trong đó có vợ chồng giáo sư Gérard Tongas. Tongas khi về Pháp có ghi lại rằng ngành giáo dục ở Miền Bắc hoàn toàn bị chính trị chi phối. Trong trường thường tổ chức những buổi mít tinh chính trị và tuyên truyền kéo dài đến 2 giờ đồng hồ; mở đầu mỗi buổi thường là đề tài trích trong báo Nhân dân theo đường lối của Đảng Cộng sản. Những buổi học này ăn vào thời gian đúng ra phải dùng học hành. Ngay cả những lớp căn bản dạy người mù chữ, giáo viên chủ yếu dạy học sinh lặp đi lặp lại và viết 20 khẩu hiệu chính trị như "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm", "Đảng Lao động muôn năm"...[15]

Ông Vương Trí Nhàn nhận xét nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền giáo dục hình thành trong chiến tranh do dó "luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng". Giáo dục miền Bắc sinh ra trên cơ sở kế thừa các cơ sở mà Pháp để lại cộng thêm các cơ sở tự phát trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nó chưa đủ các bộ phận cần thiết. Phương châm của giáo dục là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần thì vẫn viện ra đủ lý do để thực hiện. Tính phi chuẩn bao trùm trong mọi lĩnh vực, từ trường sở, sách giáo khoa, cách cho điểm, cách tổ chức thi cử cho tới chất lượng dạy và học. Người phụ trách giáo dục các cấp hoàn toàn do Ủy ban Nhân dân cử sang, hiệu trưởng cũng phải do Ủy ban thông qua. Bộ máy tổ chức cán bộ địa phương thường hoạt động theo nguyên tắc là ai tài giỏi cho đi phụ trách các ngành chính trị, kinh tế còn văn hóa, giáo dục sẽ phân công cho những người kém hơn. Chính quyền có quyền can thiệp vào mọi hoạt động của nhà trường. "Tính dân tộc được giải thích là việc người Việt tự tạo ra nền giáo dục của riêng người Việt, không còn liên hệ gì nhiều với nền giáo dục mà người Pháp đã mang lại, thậm chí đôi khi cố ý làm ngược với những bài bản thời thuộc địa. Để tự trấn an, người ta biện hộ rằng sự luộm thuộm, chắp vá của giáo dục miền Bắc là đang trở lại với nền giáo dục thời trung đại chỉ cốt phát huy tinh thần hiếu học của con người. Dân tộc trong trường hợp này đồng nghĩa với việc từ chối những đổi mới hiện đại. Trên giấy tờ văn bản, giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phủ nhận tính nhân bản nhưng trong thực tế người ta rất ngại nói tới. Họ xem chủ nghĩa nhân đạo cao nhất là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu chống lại mọi áp bức bất công, còn cá tính của mỗi cá nhân là một chuyện quá phiền phức, giá có công nhận là đúng thì hoàn cảnh hiện thời không cho phép người ta tuân thủ. Nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có nhiệm vụ đào tạo con người thành những công cụ đắc lực cho các mục đích trước mắt trước mắt. Giống như xã hội, sự phát triển giáo dục ở miền Bắc đi theo một phương hướng không giống như nước khác, có những khía cạnh như trở lại thời tiền hiện đại. Trong khi phải làm giáo dục một cách mò mẫm, những người làm giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn tự nhủ rằng họ đang làm một cuộc cách mạng trong giáo dục và nền giáo dục của họ là một nền giáo dục tiên tiến. Đó là một ý nguyện chính đáng, vì trong hoàn cảnh chiến tranh và phải đóng cửa cách ly với thế giới, không thể có chuyện hội nhập theo đúng nghĩa của nó.[16]

Tuy có những khuyết điểm, hệ thống giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại có ưu thế ở việc các chính sách được Nhà nước đảm bảo thi hành rất nhanh chóng và triệt để, có thể động viên toàn dân tham gia chỉ trong thời gian ngắn. Nền giáo dục có tính phổ cập đại chúng rất cao, không có sự phân biệt giữa các tầng lớp nhân dân[3]. Với sự chỉ đạo của Nhà nước, phong trào bình dân học vụ thực sự trở thành phong trào quần chúng rộng rãi, đã hoàn thành kế hoạch thanh toán nạn mù chữ vào cuối năm 1958, tức là chỉ ít lâu sau khi chiến tranh với Pháp kết thúc. Để so sánh, tại miền Nam, giáo dục Việt Nam Cộng hòa tồn tại suốt 20 năm nhưng tới năm 1975 vẫn chưa thanh toán xong nạn mù chữ. Sau năm 1975, phong trào bình dân học vụ tiếp tục được chỉ đạo tiến hành ở miền Nam và chỉ trong 3 năm đã thanh toán xong nạn mù chữ[17].

Ông Ngô Đăng Tri thì cho rằng: Đặt trong thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, những chủ trương, quan điểm, nhất là ba nguyên tắc (ba tính chất) của nền giáo dục là "về hình thức thì dân tộc, về nội dung thì khoa học, về đối tượng thì đại chúng" đã trực tiếp xóa bỏ tính chất phản dân tộc, phản khoa học, phản đại chúng của chính sách giáo dục thực dân Pháp và phong kiến cũ, đặt nền móng cho sự ra đời của nền giáo dục Việt Nam mới mà theo Hồ Chí Minh là “một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nên giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em". Nền giáo dục đã xác định được những quan điểm, phương châm cho nền giáo dục với mục đích nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thực hiện quyền được học tập của mọi người dân, vận hành theo nguyên tắc "dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá", và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ. Thứ hai, đã xây dựng được phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa với sự hưởng ứng sôi nổi của quảng đại nhân dân, làm cho số người biết chữ tăng lên đáng kể. Đội ngũ giáo viên, học sinh đã gia tăng khá đông đảo, chất lượng ngày càng cao, nhất là các ngành học phổ thông. Thứ 3, việc xây dựng các quy chế quản lý, xây dựng đoàn thể chính trị và giáo dục tư tưởng trong nhà trường đã đảm bảo tốt việc bổi dưỡng các thế hệ học sinh giàu lý tưởng và tinh thần ái quốc, phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến của dân tộc,. Dù có những khuyết điểm và hạn chế, song nền giáo dục mới đã có tác dụng tích cực, góp phần tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng cao, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ mới, thúc đẩy cuộc kháng chiến kiến quốc đi tới thắng lợi và chuẩn bị cơ sở cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo của đất nước tiếp tục phát triển ở các thời kỳ sau[3]

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b Giáo dục và Thi cử 1954-1975: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
  2. ^ a ă â b Nền giáo dục Việt Nam dưới chế độ Cộng sản từ 1945 đến 1975
  3. ^ a ă â https://vnu.edu.vn/home/?C1635/N4193/Giao-duc-Viet-Nam-thoi-ky-1945-%E2%80%93-1954:-Dien-trinh,-thanh-tuu-va-kinh-nghiem.htm
  4. ^ Nghị định Bộ Giáo dục về nạn mù chữ
  5. ^ a ă â b c d Ninh, Kim. A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam, 1945-1965. Ann Arbor, MI: The University of Michigan Press. tr 204-236.
  6. ^ a ă Salisbury, Harrison. Behind the Lines--HanoiNew York: Harper & Row, 1967. tr 127-132.
  7. ^ Foreign Areas Studies Division.U. S. Army Area Handbook for Vietnam. Washington, DC: Department of the Army, 1962. Tr 123
  8. ^ a ă â Smith, Harvey H et al. Area Handbook for North Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967. tr 137-152.
  9. ^ Đại học Quốc gia Hà Nội
  10. ^ "Trăm năm dạy ứng xử nghề nghiệp ở đại học Y Hà Nội"
  11. ^ Lịch sử hình thành khoa Kỹ thuật Hóa học
  12. ^ Lịch sử Trường Đại học Y Hà Nội
  13. ^ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
  14. ^ Foreign Areas Studies Division.U. S. Army Area Handbook for Vietnam. Washington, DC: Department of the Army, 1962. Tr 124
  15. ^ Dommen, Arthur J. The Inodchinese Experience of the French and the Americans: Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Indiana University Press, 2001. tr 341-2.
  16. ^ Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc, Vương Trí Nhàn, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 7-8 (114-115).2014
  17. ^ http://tuyengiao.vn/tuyen-truyen/bac-ton-voi-cong-tac-xoa-nan-mu-chu-va-bo-tuc-van-hoa-478

Liên kết ngoàiSửa đổi