Hà Lạc Hội (chữ Hán: 何洛會, ? - 1651), Thất Kỳ thị (失其氏), người Mãn Châu Tương Bạch kỳ, là tướng lĩnh của đầu thời nhà Thanh.

Gia thếSửa đổi

Phụ thân là A Cát Lại (阿吉赖) là tướng lĩnh dưới thời Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, theo Thái Tổ chinh chiến nhiều lần, làm đến Ngưu lục Ngạch chân. Sau khi A Cát Lại qua đời, Hà Lạc Hội thừa kế, kiêm Ba Nha Lạt Giáp Lạt Chương kinh [1][2].

Quan lộSửa đổi

Thời Hoàng Thái CựcSửa đổi

Năm Thiên Thông thứ 8 (1634), ông theo Hoàng Thái Cực phạt Minh, tấn công Cẩm Châu. 1 năm sau, chiếu miễn lao dịch cho các công thần, Hà Lạc Hội cũng có trong đó.

Năm Sùng Đức thứ 5 (1640), ông nhậm Cố sơn Ngạch chân [3] của Mông Cổ Chính Hồng kỳ, theo Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn phạt Minh, vây Cẩm Châu. Sau đó ông được điều làm Cố sơn Ngạch chân của Mãn Châu Chính Hồng kỳ.

Năm thứ 7 (1642), Cẩm Châu bị hạ, truy luận tội Hà Lạc Hội lúc vây Cẩm Châu đã che giấu công lao phá trận của Ngạc La Tắc Thần, bị nghị tội đoạt tước nhưng Hoàng Thái Cực khoan hồng tha cho.

Thời Thuận TrịSửa đổi

Từ sớm Hà Lạc Hội là tướng lĩnh dưới trướng của Túc Thân vương Hào Cách.

Sau khi Thuận Trị Đế lên ngôi, Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính, lại có hiềm khích với Hào Cách. Đa Nhĩ Cổn thu mua Hà Lạc Hội để vu cáo hãm hại Hào Cách với các đại thần Dương Thiện, Nga Mạc Khắc Đồ, Y Thành Cách Đẳng có ý ám sát Đa Nhĩ Cổn khiến cho Hào Cách bị bắt và ép tự tử trong ngục. Để ban thưởng cho việc Hà Lạc Hội "tố giác", ông được phong làm Nhị đẳng Giáp Lạt Chương kinh[2].

Năm Thuận Trị nguyên niên (1644), ông theo Đa Nhĩ Cổn suất quân nhập quan, đánh bại Lý Tự Thành, truy đuổi đến Khánh Đô. Sau đó, ông nhận lệnh từ Đa Nhĩ Cổn phụng biểu nghênh Thuận Trị Đế, nhậm Nội đại thần, lưu thủ Thịnh Kinh.

Năm thứ 2 (1645), nhờ quân công mà ông được thăng Thế chức lên Nhất đẳng, nhậm mệnh suất quân trú phòng Tây An, Hà Đạo Nam, thảo phạt Định Tây, bình định thổ khấu. Tháng 12 cùng năm, được phong làm "Định Tây Đại tướng quân", từ Định Tây tiến vào Tứ Xuyên.

Năm thứ 3 (1646), phản tướng Hạ Trân dùng 7 vạn quân xâm phạm Tây An, Hà Lạc Hội đốc quân nghênh chiến. Hạ Trân thất bại bỏ trốn, Hà Lạc Hội dẫn quân đuổi theo tiêu diệt toàn bộ. Sau đó, ông được gọi trở về kinh sư.

Năm thứ 4 (1647), ông được phong Cố sơn Ngạch chân của Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, nhậm mệnh suất quân trú phong Tuyên Phủ.

Năm thứ 5 (1648), được điều sang Tương Bạch kỳ, trợ giúp Đàm Thái bình định Giang Tây có công được phong làm Tam đẳng Tinh Kỳ Ni Cáp Phiên [4].

Sau khi Đa Nhĩ Cổn chết, Thuận Trị Đế thân chính, đã lật lại vụ án của Hào Cách, đem Hà Lạc Hội cùng với đồng đảng lăng trì xử tử.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Ba Nha Lạt (巴牙喇) dịch sang tiếng Hán là Hộ quân. Ban đầu, người Nữ Chân đều chọn ra một tổ tinh nhuệ làm nhiệm vụ bảo vệ thủ lãnh của bộ tộc, gọi là Ba Nha Lạt, đơn vị ban đầu là Giáp lạt, năm 1647 đổi là đạo
  2. ^ a ă Giáp lạt Chương kinh (甲喇額真, tiếng Mãn: ᠵᠠᠯᠠᠨ ᡳ
    ᠵᠠᠩᡤᡳᠨ
    , Möllendorff: jalan i janggin) là một chức quan trong chế độ Bát kỳ của triều đình nhà Thanh thời sơ kỳ, Hán ngữ là "Tham tướng", chuyên quản lý chiến bị, binh tịch, tranh tụng, hộ khẩu, điền trạch. "Giáp Lạt" vốn là đơn vị của Bát kỳ, hợp thành từ 5 Ngưu lộc, đứng đầu bởi "Giáp lạt Ngạch chân" hay Tham lĩnh.
  3. ^ Năm 1660, Cố sơn Ngạch chân được định danh trong Hán ngữ là Đô thống
  4. ^ Tinh Kỳ Ni Cáp Phiên (精奇尼哈番, tiếng Mãn: ᠵᡳᠩᡴᡳᠨᡳ
    ᡥᠠᡶᠠᠨ
    , chuyển tả: jingkini hafan), nguyên nghĩa là "Chính quan". Năm 1736, được định danh trong Hán ngữ là Tử tước.