Mở trình đơn chính

Hòa Bình, Bạc Liêu

huyện thuộc tỉnh Bạc Liêu

Hòa Bình là một huyện nằm ở trung tâm của tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam.

Hòa Bình

Huyện
Chợ Hòa Bình, Bạc Liêu.jpg
Chợ Hòa Bình nhìn từ cầu Hòa Bình
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhBạc Liêu
Huyện lỵThị trấn Hòa Bình
Trụ sở UBNDQuốc Lộ 1A, ấp thị trấn A, thị trấn Hòa Bình
Phân chia hành chính1 thị trấn, 7 xã
Thành lập26/07/2005
Đại biểu quốc hội
Chính quyền
Chủ tịch UBNDDương Văn Thới
Chủ tịch HĐNDLong Quang Dũng
Chủ tịch UBMTTQHứa Ngọc Thoanh
Chánh án TANDTào Ngọc Phượng
Viện trưởng VKSNDLê Hồng Quân
Bí thư Huyện ủyHồ Thanh Thuỷ
Địa lý
Tọa độ: 9°12′B 105°36′Đ / 9,2°B 105,6°Đ / 9.2; 105.6Tọa độ: 9°12′B 105°36′Đ / 9,2°B 105,6°Đ / 9.2; 105.6
Diện tích426,49 km²
Dân số (2018)
Tổng cộng111.899 người
Thành thị22.162 người (20%)
Nông thôn89.737 người (80%)
Mật độ262 người/km²
Dân tộcKinh, Khmer, Hoa
Khác
Mã hành chínhVN-55
Mã bưu chính96xxxx
Mã điện thoại291
Biển số xe94-G1
WebsiteHuyện Hòa Bình

Địa lýSửa đổi

Vị trí địa lýSửa đổi

Huyện Hòa Bình nằm ở trung tâm của tỉnh Bạc Liêu, giáp với tất cả các huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Bạc Liêu (trừ huyện Hồng Dân). Địa giới hành chính:

Trung tâm của huyện là thị trấn Hòa Bình nằm trên tuyến Quốc lộ 1A, đây là đầu mối giao thông giữa huyện Hòa Bình với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các huyện, thị xã, thành phố khác trong tỉnh. Với lợi thế này, huyện Hòa Bình có điều kiện để phát huy tiềm năng về đất đai cũng như các nguồn lực khác cho phát triển tổng hợp các ngành kinh tế - xã hội như nông, lâm nghiệp, thuỷ hải sản và du lịch - dịch vụ trên địa bàn huyện nói riêng và toàn tỉnh Bạc Liêu nói chung.

Điều kiện tự nhiênSửa đổi

Địa hình

Huyện Hòa Bình thuộc miền đồng bằng ven biển. Phần lớn diện tích đất của huyện có độ cao tuyệt đối dưới 1,0 m; nơi có độ cao tuyệt đối thấp nhất là 0,5 m; nơi cao nhất là 2,5 m. Với đặc điểm như vậy đã gây ra hiện tượng xâm nhập mặn từ biển, làm cho phần lớn diện tích của huyện bị nhiễm mặn ở các mức độ khác nhau, nếu không tiến hành lên líp hoặc áp dụng một biện pháp kê đất thì phần lớn diện tích đất của huyện chỉ có thể bố trí các loại cây chịu ngập như: lúa nước, rừng ngập mặn hay thực hiện nuôi trồng thuỷ sản hoặc kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với các loại cây nói trên.

Bờ biển

Vùng bờ biển được bồi đắp gặp điển hình ở ven biển thuộc các xã Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A, Vĩnh Thịnh,... Theo các kết quả khảo sát từ năm 1968 đến năm 1998, bờ biển huyện Hòa Bình đã mở rộng từ 0,36 đến 0,73 km.

Khí hậu

Huyện Hòa Bình mang đặc tính khí hậu của vùng bán đảo Cà Mau, chịu ảnh hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, một năm phân chia làm 2 mùa rõ rệt:

  • Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11
  • Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26,5 °C, thấp nhất khoảng 18,8 °C, cao nhất khoảng 36 °C.

Thuỷ văn

Huyện Hòa Bình có hệ thống kênh rạch chằng chịt với kênh trục chính là Bạc Liêu - Cà Mau. Chế độ thuỷ văn của hệ thống kênh rạch trên địa bàn huyện chịu ảnh hưởng giao thoa của thuỷ triều biển Đông, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn của các sông khá phức tạp.

Thuỷ triều biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Nam Quốc lộ 1A của huyện là chế độ bán nhật triều không đều, biên độ triều và chênh lệch đỉnh triều lớn (30 - 40 cm). Trong một tháng có 2 lần nước cường, tốc độ truyền triều khoảng 15km/h. Do kênh rạch có hệ số nhám lớn nên khi truyền vào nội đồng biên độ triều giảm khoảng 2 cm/km.

Hàng năm trên địa bàn huyện còn chịu ảnh hưởng của nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu. Mùa khô hiện tượng xâm nhập sâu hơn tương ứng với sự tăng mực nước biển.

Chế độ thuỷ văn cũng ảnh hưởng khá rõ đến chế độ nước của các kênh rạch thông qua hệ thống công trình dẫn ngọt. Nguồn nước từ các kênh mang hàm lượng phù sa lớn, nhất là vào mùa lũ (đạt 1,4 kg/m³ khi nước lên, 1,2 kg/m³ khi nước xuống). Lượng phù sa của các kênh đổ ra biển qua kênh Chùa Phật… hàng năm bồi lấn ra biển khoảng 30 - 40 m.

Tuy nhiên hàm lượng phù sa lớn cùng với các hiện tượng giáp nước, dâng nước làm bồi lắng các kênh rạch đòi hỏi phải nạo vét thường xuyên. Huyện Hòa Bình có hệ thống kênh rạch chằng chịt với kênh trục chính là Bạc Liêu - Cà Mau. Chế độ thuỷ văn của hệ thống kênh rạch trên địa bàn chịu ảnh hưởng giao thoa của thuỷ triều biển Đông, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn của các sông khá phức tạp.

Thuỷ triều biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Nam quốc lộ 1A của huyện là chế độ bán nhật triều không đều, biên độ triều và chênh lệch đỉnh triều lớn (30 - 40 cm). Trong một tháng có 2 lần nước cường, tốc độ truyền triều khoảng 15km/h. Do kênh rạch có hệ số nhám lớn nên khi truyền vào nội đồng biên độ triều giảm khoảng 2 cm/km.

Hàng năm trên địa bàn huyện còn chịu ảnh hưởng của nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu. Mùa khô hiện tượng xâm nhập sâu hơn tương ứng với sự tăng mực nước biển.

Chế độ thuỷ văn cũng ảnh hưởng khá rõ đến chế độ nước của các kênh rạch thông qua hệ thống công trình dẫn ngọt. Nguồn nước từ các kênh mang hàm lượng phù sa lớn, nhất là vào mùa lũ (đạt 1,4 kg/m³ khi nước lên, 1,2 kg/m³ khi nước xuống). Lượng phù sa của các kênh đổ ra biển qua kênh Chùa Phật… hàng năm bồi lấn ra biển khoảng 30 - 40 m. Tuy nhiên hàm lượng phù sa lớn cùng với các hiện tượng giáp nước, dâng nước làm bồi lắng các kênh rạch đòi hỏi phải nạo vét thường xuyên.

Các nguồn tài nguyênSửa đổi

Tài nguyên đất

Hệ thống phân loại phát sinh, tài nguyên đất huyện Hòa Bình gồm các nhóm đất sau:

  • Nhóm đất cát: Có diện tích 11.36 ha, chiếm 0,03% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố dọc theo bờ biển trên địa bàn các xã Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A,... Đất cát có yếu tố hạn chế là thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát cao, mùn, đạm và các chất dinh dưỡng nghèo, khả năng giữ nước kém, tuy nhiên đất tương đối tơi xốp, dễ thoát nước, không bị nhiễm mặn và có địa hình cao. Loại đất này đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp từ lâu, chủ yếu là các loại cây trồng hàng năm như: lạc, các loại đậu đỗ, ngô, một số loại rau, hành tía và trồng nhãn. Trong quá trình canh tác trên đất cát cần chú ý bón đủ phân tuỳ thuộc vào cây trồng, đặc biệt là phải chủ động nguồn nước tưới.
  • Nhóm đất mặn: Tổng diện tích đất mặn trong toàn huyện là 19.024,7 ha, chiếm 46,14% diện tích tự nhiên toàn huyện. Đất mặn phân bố chủ yếu ở phía Nam Quốc lộ 1A và một phần đất mặn ít dọc theo phía Bắc Quốc lộ 1A. Đất mặn được hình thành và phát triển trên các trầm tích biển, sông biển hỗn hợp và trầm tích biển - đầm lầy, tuổi Holocence. Đất chịu ảnh hưởng mặn của nước biển do thủy triều hoặc do mao dẫn đưa muối từ các tầng đất phía dưới lên bề mặt. Trên địa bàn huyện, đất mặn được phân chia ra các đơn vị đất sau:
    • Đất mặn nặng (Mn): có diện tích 972,16 ha, chiếm 2,25% tổng diện tích tự nhiên, phân bố sau đê biển ở các xã ven biển gồm Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A, Vĩnh Thịnh. Đất bị mặn thời kỳ dài trong năm với độ mặn cao do thủy triều hoặc do đưa nước mặn vào làm muối. Ngoài đặc điểm độ mặn cao thì các tính chất lý hóa học của loại đất này đều ở mức trung bình đến trung bình khá. Những hạn chế cho bố trí sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu là phân bố ở những khu vực còn chịu ảnh hưởng của thủy triều mặn và khan hiếm về nguồn nước ngọt. Diện tích đất mặn nặng hiện đang được sử dụng để nuôi tôm, phần còn lại là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng mà phần lớn nằm trong vành đai rừng phòng hộ ven biển. Đây là một loại đất khá thích hợp cho nuôi tôm nước mặn, như vậy, ngoài khu vực rừng phòng hộ ven biển ra, nên bố trí cho nuôi tôm hoặc kết hợp mô hình tôm - rừng; ở những khu vực sâu trong nội đồng nếu có điều kiện ngăn mặn, ngọt hóa, đất cũng thích hợp cho chuyên canh lúa hoặc lúa - cá.
    • Đất mặn trung bình (M): có diện tích 1.772,99 ha, chiếm 43% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở nơi có địa hình thấp ven sông, rạch. Đất thường bị ảnh hưởng mặn ngầm và mặn trên mặt vào mùa khô. Tầng đất mặt có hàm lượng muối cao vào mùa khô, do bốc hơi đưa muối lên các tầng gần mặt đất. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất: chất hữu cơ biến động từ trung bình đến giầu, OM lớp tầng đất mặt > 3,0%, lân dễ tiêu trong đất nghèo, đạm thủy phân cũng biến động từ nghèo đến trung bình. Tổng số muối tan trong đất biến động từ 0,5 - 0,6%. Đất có dung tích trao đổi biến động từ trung bình đến cao, CEC > 15 ldl/100g đất. Trong thành phần cation trao đổi hàm lượng Mg2+ > Ca2+. Đất mặn trung bình có nền đất cứng, ổn định, nhiễm mặn trung bình vào mùa khô. Tầng đất mặt ảnh hưởng mặn đã được giảm đáng kể do hệ thống đê bao ngăn mặn và được rửa mặn vào mùa mưa, do đó vẫn thích hợp cho canh tác các loại cây trồng nông nghiệp, nhất là vào mùa mưa. Trong canh tác nông nghiệp ở đất mặn trung bình, cần chú ý đến các biện pháp tăng cường ngăn mặn, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai lũ lụt làm nước mặn có thể tràn vào đồng ruộng gây chết cây trồng.
    • Đất mặn ít (Mi): có diện tích 12.432,24 ha chiếm 30,15% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện, tập trung nhiều ở thị trấn Hòa Bình, xã Vĩnh Mỹ A,... Hàm lượng dinh dưỡng trong đất khá, chỉ bị nhiễm mặn vào mùa khô trong thời gian ngắn, nên thích hợp cho cach tác nông nghiệp với các cây trồng như: lúa và rau màu các loại. Tổng số muối tan trong đất thấp, biến động từ 0,2 đến 0,4%, Cl- < 0,15%, dung tích hấp thụ đất biến động từ trung bình đến cao. Trong thành phần của cation trao đổi hàm lượng Mg2+ > Ca2+.
  • Nhóm đất phèn: Có diện tích 11.470,47 ha, chiếm 27,8% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Nhìn chung, đất phèn có hàm lượng lưu huỳnh tổng số rất cao, được xác định có tầng chuẩn đoán vật liệu sinh phèn với pH < 3,5 và có hàm lượng S > 0,75% và thường được chia theo độ sâu khác nhau. Đất phèn của huyện được chia ra thành các loại như sau:
    • Đất phèn tiềm tàng (Sp): có diện tích 5.415,42 ha, chiếm 13,1% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện gồm:
      • Đất phèn tiềm tàng - mặn thường xuyên dưới rừng ngập mặn và đất phèn tiềm tàng - mặn nặng chịu ảnh hưởng của cả hai yếu tố phèn và mặn nặng, nên không có khả năng canh tác nông nghiệp. Hướng sử dụng đất chủ yếu là tập trung cho nuôi trồng thủy sản, trồng rừng phòng hộ và làm muối.
      • Đất phèn tiềm tàng - mặn trung bình tập trung chủ yếu ở phần ven biển của huyện, đất có độ phì tiềm tàng khá cao. Đất bị nhiễm mặn không nặng, tính chất vật lý của đất đã tương đối thuần thục và phát triển xuống sâu, nền đất khá ổn định nên thuận lợi cho việc thực hiện các biện pháp trong sử dụng đất cho mục đích trồng trọt nông nghiệp. Hướng sử dụng thích hợp là tiếp tục canh tác các loại cây trồng nông nghiệp (đặc biệt là lúa 1 vụ mùa mưa), hoặc nuôi trồng thủy sản nước lợ.
      • Đất phèn tiềm tàng - mặn ít: có độ phì khá, tầng mặt đất thường giàu hữu cơ, mức độ nhiễm mặn ít, nên thích hợp cho canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước lợ. Tuy nhiên đất này phân bố ở địa hình thấp trũng và sâu trong nội địa do đó dễ bị ảnh hưởng bởi nước chua phèn trong kênh rạch từ các nơi khác dồn xuống. Vì vậy, trong canh tác nông nghiệp đòi hỏi điều kiện đủ nước ngọt tưới vào mùa khô và tiêu thoát nước phèn nhanh vào đầu mùa mưa.
    • Đất phèn hoạt động (Sj): có diện tích 2.140,36 ha, chiếm 5,19% diện tích tự nhiên toàn huyện. Do hệ thống đê bao ngăn mặn và kênh tưới tiêu nội đồng được phát triển tốt trong những năm qua nên mức độ ảnh hưởng mặn đối với đất phèn hoạt động đã giảm đáng kể, nhiều khu vực đã thoát khỏi ảnh hưởng của mặn. Tuy nhiên, trong khi các yếu tố mặn giảm xuống thì độc tố phèn là một hạn chế lớn đối với cây trồng canh tác trên loại đất này. Hướng sử dụng thích hợp là canh tác nông nghiệp, trồng các loại cây ngắn ngày chịu phèn như khóm, mía… và các loại rau màu khác, có thể kết hợp với nuôi thủy sản nước ngọt và nước lợ. Trong cải tạo đất cần chú ý đến độ sâu xuất hiện của tầng phèn kết hợp với các biện pháp cải tạo đất phù hợp để tránh đưa tầng sinh phèn lên trên mặt đất, gây độc cho cây trồng. Tiêu phèn và tưới đủ nước ngọt là biện pháp hữu hiệu nhất để cải tạo đất này.

Tài nguyên nướcSửa đổi

  • Nguồn nước mặt: nguồn nước được dẫn qua hệ thống kênh, rạch và các công trình ngọt hoá khép kín là nguồn nước mặt ngọt duy nhất phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Mặt khác hệ thống các công trình trong vùng ngọt hoá của tỉnh Bạc Liêu nói chung và huyện Hòa Bình nói riêng chưa khép kín, các công trình ngăn mặn chưa hoàn chỉnh vì vậy khó khăn cho việc giữ ngọt ổn định. Chất lượng nước mặt (kênh, rạch, ao, hồ) cũng diễn biến theo mùa. Khu vực phía Nam Quốc lộ 1A do chịu tác động trực tiếp của thuỷ triều biển Đông nên dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn gây nhiễm mặn nguồn nước mặt khu vực ven biển hầu như quanh năm. Ngoài ra lượng mưa hàng năm là nguồn nước ngọt chính rất quan trọng trong ngọt hoá diện tích đất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của nhân dân. Do ảnh sự gia tăng nhiệt độ và ảnh hưởng của mực nươc biển dâng, hệ sinh thái nước lợ có thể bị xáo trộn do diện tích biên lũ mở rộng về phía Nam. Hệ quả này còn nặng nề hơn nếu xem xét hoạt động xuyên biên giới do các hoạt động khai thác nước ở các quốc gia thượng nguồn sông Mê Kông. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong tương lai sẽ là mối đe dọa tới mực nước và dòng chảy của các sông trong khu vực nói chung và huyện Hòa Bình nói riêng.
  • Nguồn nước ngầm: nguồn nước ngầm tầng nông nằm sát mặt đất được bổ sung bằng nước mưa và lượng nước từ kênh rạch. Mực thuỷ cấp của nguồn nước này thay đổi tuỳ theo mùa. Mùa mưa mực nước cách mặt đất từ 0,5 - 1,0 m, mùa khô mực nước hạ thấp xuống 1 - 3 m. Nguồn nước ngầm tầng nông thường bị nhiễm mặn, phèn do vậy không thể sử dụng cho sản xuất, sinh hoạt. Về mùa khô nước được chuyển lên mặt đất bằng các mao dẫn mang theo muối và các chất gây độc không có lợi cho cây trồng (hiện tượng xổ phèn). Nguồn nước ngầm ở tầng sâu khá phong phú với trữ lượng lớn, chất lượng khá tốt. Có 4 tầng nước ngầm có thể khai thác nằm ở độ sâu khoảng từ 80 - 500 m trong địa bàn huyện. Hiện tại tầng nước được khai thác và sử dụng nhiều có độ sâu trung bình 80 - 100 m. Trữ lượng khai thác có thể đạt 3,68 triệu m³/ngày. Tuy nhiên việc khai thác nước ngầm chưa được quản lý một cách đúng mức, cần phải có những biện pháp quản lý giám sát để bảo vệ nguồn nước.

Tài nguyên rừngSửa đổi

Năm 2014, huyện Hòa Bình có 1.743,16 ha đất rừng phòng hộ, chiếm 4,09% diện tích tự nhiên và bằng 5,52% diện tích đất nông nghiệp. Diện tích rừng phòng hộ ven biển phân bố tập trung tại các xã Vĩnh Thịnh 1.066,82 ha, Vĩnh Hậu 401,36 ha và Vĩnh Hậu A 274,98 ha. Đất rừng của huyện có giá trị phòng hộ che chắn gió, bão, sóng biển, điều hoà khí hậu, cân bằng môi trường sinh thái, bồi tụ, lắng đọng phù sa phục vụ cho lấn biển, mở rộng diện tích, nơi cư trú, sinh trưởng của các loại hải sản và giữ vai trò quan trọng trong công tác an ninh quốc phòng. Thành phần thực vật chiếm ưu thế là đước, mắm, vẹt. Về động vật còn có các loại chim, bò sát, ếch nhái, tôm cá nước mặn. Nhìn chung, đất rừng của huyện với thảm thực vật hiện có đã góp phần cố định và tạo điều kiện bồi đắp lớp phủ thổ nhưỡng trên địa bàn huyện, đồng thời là tác nhân quan trọng trong quá trình hình thành các bãi bồi ven biển.

Tài nguyên biểnSửa đổi

Huyện có hơn 20 km bờ biển với vùng lãnh hải và thềm lục địa, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh. Tài nguyên biển phong phú cung cấp nguồn lợi hải sản, cảnh quan môi trường. Đây là vùng biển có lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại có trữ lượng lớn và có giá trị kinh tế cao. Khu vực nước lợ ven biển tạo thành vùng sinh thái đặc thù phong phú có tiềm năng cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, với các cửa biển Chùa Phật, Cái Cùng có thể phát triển các tuyến giao thông vận tải, đường thủy và du lịch, là điều kiện thuận lợi để huyện trở thành một khu vực kinh tế toàn diện.

Tài nguyên nhân vănSửa đổi

Lịch sử hình thành vùng đất và con người huyện Hòa Bình gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc tỉnh Bạc Liêu và Đồng bằng sông Cửu Long. Trên địa bàn huyện hiện có các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer và nhiều dân tộc khác sinh sống. Hơn 300 năm lấn biển khai hoang, mở đất chống chọi với thiên nhiên, đánh đuổi giặc ngoại xâm đã tạo cho con người Hòa Bình đặc tính đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, không chịu khuất phục trước thiên nhiên, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu. Ngày nay, trong công cuộc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân huyện Hòa Bình luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt kinh tế - văn hóa - xã hội. Kế thừa những thành quả đã đạt được, tranh thủ thời cơ, phát huy truyền thống vốn có, cùng với cả nước và tỉnh Bạc Liêu, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện quyết tâm vượt qua những khó khăn thách thức thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu xây dựng huyện trở thành Huyện nông thôn mới. Nền văn hoá ở Hòa Bình mang đậm bản sắc văn hoá vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đây là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Kinh, Hoa, Khmer nên nền văn hoá mang những nét đặc sắc riêng của từng dân tộc. Tuy mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng nhưng bao đời nay vẫn sống hoà thuận, đoàn kết, hội nhập vào cộng đồng chung và đã cùng nhau tạo nên một bản sắc văn hoá độc đáo. Nét văn hoá đờn ca tài tử đã thấm sâu vào lòng người, được nhân dân trong và ngoài nước biết đến. Đờn ca tài tử luôn được trau dồi, rèn giũa và gìn giữ như một nét đẹp truyền thống trong sinh hoạt văn hoá của nhân dân vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long.

Thực trạng môi trườngSửa đổi

Môi trường sinh thái của huyện cơ bản mang sắc thái tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những nét đặc trưng của điều kiện tự nhiên chi phối tới vấn đề môi trường sinh thái của huyện là:

  • Đất phèn và đất mặn chiếm ưu thế, hiện tượng xâm nhập mặn ở khắp

huyện với mức độ khác nhau đối với từng tiểu vùng. Xa nguồn nước ngọt, nước mưa là nguồn nước ngọt chính. Do những đặc trưng trên đã tạo ra các hệ sinh thái khá nhạy cảm với những tác động về môi trường. Trong những năm gần đây, diện tích nuôi trồng thuỷ sản đã tăng nhanh nhưng các mô hình đa canh, xen canh, luân canh chưa được khẳng định. Vì thế bên cạnh những thành tựu kinh tế đạt được việc sử dụng các nguồn tài nguyên tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây tổn hại không nhỏ về môi trường. Bên cạnh đó sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá cũng có tác động tới môi trường.

  • Môi trường nước ở các kênh, rạch đang tiếp tục bị ô nhiễm do nước thải, rác thải sinh hoạt, sản xuất từ các ao nuôi tôm, chuồng trại chăn nuôi đổ xuống. Các chất thải từ nuôi trồng thủy sản, lượng vôi bột làm vệ sinh vuông tôm đã làm cho môi trường đất, nước trên các kênh, rạch và môi trường không khí ít nhiều bị ô nhiễm ở những mức độ khác nhau. Từ những vấn đề nêu trên, trong thời gian tới cùng với quá trình khai thác nguồn lợi một cách tối đa để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống thì việc tái tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường phát triển bền vững là vô cùng cần thiết.

Hành chínhSửa đổi

Huyện Hoà Bình có 8 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Hòa Bình (huyện lỵ) và 7 xã: Minh Diệu, Vĩnh Bình, Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A, Vĩnh Mỹ A, Vĩnh Mỹ B, Vĩnh Thịnh.

Danh sách các đơn vị hành chính cấp xã

Ðơn vị hành chính cấp xã Thị trấn
Hòa Bình

Minh Diệu

Vĩnh Bình

Vĩnh Hậu

Vĩnh Hậu A

Vĩnh Mỹ A

Vĩnh Mỹ B

Vĩnh Thịnh
Diện tích (km²) 26,70 40,64 38,84 62,56 63,96 51,64 36,02 106,15
Dân số (người) 22.162 11.855 13.138 12.106 9.992 16.701 14.873 15.289
Mật độ dân số (người/km²) 830 292 338 194 157 323 413 144
Số đơn vị hành chính 8 ấp 12 ấp 10 ấp 7 ấp 6 ấp 12 ấp 8 ấp 7 ấp
Năm thành lập 1987 1979 1987 1987 2003 1990 1987 1979
Loại đô thị V

Bảng thống kê

Bảng thống kê đơn vị hành chính năm 2005- 2019
Năm
Số đơn vị hành chính
Số xã
Số thị trấn
Tổng
2005
7
1
8
2019
7
1
8

Lịch sửSửa đổi

Tên gọiSửa đổi

"Hòa Bình" vốn là tên của thị trấn Hòa Bình, trung tâm của huyện Vĩnh Lợi trước đây (huyện Hòa Bình và huyện Vĩnh Lợi bây giờ). Sau khi tách huyện từ năm 2005, tên thị trấn được lấy để đặt tên cho huyện Hòa Bình.

Lịch sửSửa đổi

Trước năm 2005Sửa đổi

Thời Pháp thuộc và sau đó là thời Việt Nam Cộng hòa, Hòa Bình chỉ là tên làng (sau năm 1956 gọi là xã) trực thuộc quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên, quận lỵ quận Vĩnh Lợi lại được đặt tại làng Vĩnh Lợi (sau năm 1956 gọi là xã Vĩnh Lợi, nay tương ứng với các phường 1, 2, 3, 5, 7, 8, Nhà Mát và xã Hiệp Thành thuộc thành phố Bạc Liêu) cho đến năm 1975. Sau năm 1975, huyện lỵ huyện Vĩnh Lợi được dời về xã Hòa Bình.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 326-CP[1] về việc phân vạch địa giới hành chính huyện Vĩnh Lợi thuộc tỉnh Minh Hải. Theo đó, xã Hòa Bình đổi tên thành xã Vĩnh Lợi. Còn xã Vĩnh Lợi trước năm 1975 thì nay đã thuộc về thị xã Minh Hải (tên gọi lúc bấy giờ của thành phố Bạc Liêu ngày nay).

Ngày 14 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 33B-HĐBT[2] về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, thị trấn huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Minh Hải. Theo đó, tách ấp Láng Dài của xã Vĩnh Lợi để sáp nhập vào xã Long Thạnh; giải thể xã Vĩnh Lợi để thành lập thị trấn Hòa Bình (thị trấn huyện lỵ huyện Vĩnh Lợi).

Trước năm 2005, vùng đất của huyện Hòa Bình ngày nay là một phần của huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Huyện lỵ huyện Vĩnh Lợi khi đó đặt tại thị trấn Hòa Bình.

Từ năm 2005 đến naySửa đổi

Ngày 26 tháng 7 năm 2005, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 96/2005/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Vĩnh Lợi để thành lập huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, thành lập huyện Hoà Bình trên cơ sở 41.133 ha diện tích tự nhiên và 102.063 nhân khẩu của huyện Vĩnh Lợi.

Huyện Hoà Bình có 41.133 ha diện tích tự nhiên và 102.063 nhân khẩu, có 8 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã Minh Diệu, Vĩnh Bình, Vĩnh Mỹ A, Vĩnh Mỹ B, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A và thị trấn Hoà Bình.

Nông thôn mớiSửa đổi

Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hòa Bình:

  • Ngày 21/12/2018, xã Vĩnh Mỹ B được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Huyện Hòa Bình có 1/7 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Phát triển đô thịSửa đổi

Dự kiến đến năm 2020, gồm 3 đô thị:

  • 1 đô thị loại IV: thị trấn Hòa Bình
  • 2 đô thị loại V: Cái Cùng, Vĩnh Mỹ B.

Giao thôngSửa đổi

 
Quốc lộ 1A đi qua Thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình

Huyện Hòa Bình có tuyến đường Quốc lộ 1A đi qua dài khoảng 15 km từ cầu Cái Tràm cho đến cầu Xóm Lung, đi qua thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình và xã Vĩnh Mỹ B(huyện Hòa Bình), song song với Quốc lộ 1A là tuyến kênh Bạc Liêu - Cà Mau, đây là tuyến giao thông quan trọng của huyện. Ngoài ra, huyện Hòa Bình còn có tuyến đường Tỉnh lộ nối từ Cầu số 2 (xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình với huyện Phước Long), đường nối thị trấn Hòa Bình, với xã Vĩnh Hậu, xã Vĩnh Mỹ A, huyện Hòa Bình và tuyến đường ven biển Đông.

Kinh tếSửa đổi

 
Chợ Hòa Bình từ cầu Hòa Bình nhìn xuống

Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính của huyện Hòa Bình, trong đó, các xã Minh Diệu, Vĩnh Bình,Vĩnh Mỹ B, phát triển trồng lúa; xã Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A, Vĩnh Thịnh phát triển nuôi trồng thủy hải sản (tôm sú) riêng thị trấn Hòa BìnhVĩnh Mỹ A phát triển cả trồng lúa lẫn nuôi tôm.

Là huyện vùng nông thôn, kinh tế chủ yếu của huyện là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, huyện được phân thành 2 vùng sản xuất (vùng ngọt ổn định và vùng chuyển đổi). Tổng diện tích tự nhiên trong toàn huyện là 41.219 ha, với bờ biển dài gần 20 km và được chia làm 2 vùng sản xuất rõ rệt:

- Vùng Bắc Quốc Lộ 1A: Đây là vùng ngọt ổn định của huyện, triển khai áp dụng mô hình sản xuất như: Mô hình bồn bồn - cá; lúa - cá; lúa - màu; 3 vụ lúa và mô hình nuôi cá nước ngọt.

- Vùng Nam Quốc Lộ 1A: Triển khai áp dụng các mô hình sản xuất như: Mô hình nuôi tôm công nghịêp - bán công nghiệp; nuôi tôm quảng canh cải tiến; nuôi tôm quảng canh cải tiến kết hợp; mô hình nuôi cá kèo. Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, để tăng sản lượng và chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận trên một đơn vị diện tích.

Năm 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 7,32% (vượt 0,86% kế hoạch); thu nhập bình quân 48,417 triệu đồng/người/năm (đạt 111,24% kế hoạch, tăng 10,1% so với cùng kỳ); tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5.962,45 tỷ đồng (đạt 104,7% kế hoạch, tăng 35,96% so với cùng kỳ); tổng giá trị sản xuất 8.884,59 tỷ đồng (đạt 103,26% kế hoạch, tăng 6,47% so với cùng kỳ). Cơ cấu kinh tế ngày càng chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ: Nông nghiệp chiếm 42%; công nghiệp - xây dựng 27%; dịch vụ chiếm 31%.

Năm 2019 huyện sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và bảo đảm tốc độ tăng trưởng hợp lý, phát triển bền vững. Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Huy động mọi nguồn lực để đầu tư, phát triển; đẩy mạnh kêu gọi đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục. Tạo sự chuyển biến mới trong nông nghiệp, công nghiệp và tập trung vào những dự án trọng điểm để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là khu vực nông thôn. Củng cố quốc phòng - an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy quản lý nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng chống tham nhũng. Đảng bộ, chính quyền, quân và dân huyện Hòa Bình phấn đấu, quyết tâm thi đua thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ quan trọng để đưa quê hương tiếp tục phát triển.

Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp huyện Hòa Bình theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2030. Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển và ven biển; nâng cao hiệu quả nghề khai thác hải sản; bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái. Quan tâm công tác hỗ trợ, phát triển đội tàu khai thác, đánh bắt hải sản có công suất lớn, trang thiết bị hiện đại có khả năng đánh bắt xa bờ, dài ngày trên biển; gắn với đó là phát triển các dịch vụ hậu cần nghề cá.

Dân sốSửa đổi

Huyện Hòa Bình có diện tích tự nhiên là 426,49 km2, dân số năm 2018 là 111.899 người, mật độ dân số 262 người/km2. Trong đó, dân số sống ở thành thị là 22.162 người chiếm tỉ lệ 19,81% và dân số sống ở nông thôn là 89.737 người chiếm tỉ lệ 80,19%. Dân tộc: gồm 3 dân tộc chính là Kinh, Khmer, Hoa và các dân tộc khác sống đan xen với nhau.

Dân số huyện Hoà Bình qua các giai đoạn năm 2010 - 2018
Năm
Thành thị Nông thôn Tổng
2010 20.833 87.381 108.214
2014 21.852 88.491 110.343
2015 21.954 88.902 110.856
2016 22.068 89.212 111.280
2017 22.091 89.481 111.572
2018 22.162 89.737 111.899
Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Bạc Liêu

Giáo dụcSửa đổi

Hiện tại trên huyện Hòa Bình có:

3 trường trung học phổ thông:

  • THPT Lê Thị Riêng (trường THPT Vĩnh Lợi trước đây).
  • THPT Trần Văn Lắm.
  • THPT Dân tộc Nội trú tỉnh Bạc Liêu.

8 trường THCS ở 8 xã, thị trấn:

Di tíchSửa đổi

Trên địa bàn huyện Hòa Bình hiện có một số di tích như:

  • Đình Vĩnh Mỹ.
  • Thành Hoàng Cổ Miếu.
  • Đình Bình An.

Hình ảnhSửa đổi

Kết nghĩaSửa đổi

 
Nhà máy đạm Ninh Bình ở KCN Khánh Phú, huyện Yên Khánh

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi