Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑; C: xiāngyán zhìxián; J: kyōgen chi-kan) (?-898:724-814) là một thiền sư Trung Hoa sống vào đời Đường. Sư thuộc Quy Ngưỡng Tông đời thứ nhất, nối pháp Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu. Sự ngộ đạo của sư khá đặc biệt, vì vậy nó được nhắc rất nhiều trong các tùng lâm thiền tông. Từ đó nêu lên cơ phong hoằng hóa bất khả tư nghị của chư Tổ Sư Thiền Tông.

Hương Nghiêm Trí Nhàn
香嚴智閑
Tông pháiQuy Ngưỡng Tông
Cá nhân
Sinh?
Mất898
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmBách Trượng Hoài Hải
Quy Sơn Linh Hựu
Kế nhiệmDiên Khánh Pháp Đoan
Hoạt động tôn giáo
Sư phụBách Trượng Hoài Hải
Quy Sơn Linh Hựu
Đồ đệDiên Khánh Pháp Đoan

Cơ duyên hành đạoSửa đổi

Sư quê ở Thanh Châu, từ nhỏ chán cảnh trần thế. Sư bèn đi xuất gia, đến tham vấn học đạo ở nhiều nơi.

Đầu tiên, sư đến tham học nơi Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải. Sư học rộng hiểu nhiều, thông suốt nhiều kinh điển, biện luận vô ngại nhưng chưa được ngộ đạo. Sau khi Bách Trượng thị tịch sư đến ở với pháp huynh là Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu- đại đệ tử đắc pháp của Bách Trượng, người sáng lập Tông Quy Ngưỡng.

Một hôm, sư đến tham vấn, Quy Sơn hỏi :Ta nghe sư đệ ở chỗ Tiên sư Bách Trượng thông minh lanh lợi, nhưng ta không hỏi đệ về chỗ học bình sinh, cũng không hỏi về kinh sách. Giờ đây hãy nói thử một câu khi cha mẹ chưa sinh xem. Sư không đáp được, bèn về lật tìm hết các kinh sách nhưng vẫn không giải quyết được mối nghi tình này. Sư tự than rằng: Bánh vẽ chẳng no bụng đói .Rồi đến xin Quy Sơn chỉ bảo, nhưng bị Quy Sơn từ chối bảo: Nếu ta nói sư đệ sau này sư đệ sẽ mắng ta, vì ta nói là việc của ta, liên hệ gì đến sư đệ?. Sư tự than trách bản thân mình yếu kém, tự nói : Ðời này không học Phật pháp nữa, làm tăng thường lo cơm lo cháo để khỏi nhọc tâm , rồi về thất đốt hết sách vở. Đến từ biệt Quy Sơn ra đi.

Sư vân du đến Núi Nam Dương (Nơi di tích của Quốc Sư Nam Dương Huệ Trung). Tại đây sư chú tâm làm ruộng, quét dọn tháp mộ của Quốc sư và chuyên tâm tu hành. Một hôm sư đang quét lá, lượm hòn đá ném trúng cây tre vang lớn. Sư chợt tỉnh ngộ phá lên cười. Rồi trở về thất tắm gội thấp hương, nhắm hướng Quy Sơn đảnh lễ để cảm tạ. Sư làm bài kệ đai ngộ( Trúc Thiên dịch Việt) :

一擊忘所知

更不假修治

動容揚古路

不墮悄然機

處處無蹤跡

聲色外威儀

諸方達道者

咸言上上機

Nhất kích vong sở tri

Cánh bất giả tu trị

Ðộng dung dương cổ lộ

Bất đoạ tiểu nhiên cơ

Xứ xứ vô tung tích

Thanh sắc ngoại uy nghi

Chư phương đạt đạo giả

Hàm ngôn thượng thượng cơ.

Tiếng dội lùm tre quên sở tri

Có gì đối trị giả tu trì

Ðổi thay thần sắc nêu đường cổ

Nếp cũ tiêu điều chẳng trệ si

Chốn chốn dạo qua không dấu vết

Sắc thanh nào nhiễm được uy nghi

Mười phương đạt giả đều như vậy

Tối thượng là đây biết nói gì.

Sau khi nghe được bài kệ này. Quy Sơn ấn chứng sư đã ngộ, nhưng Ngưỡng Sơn không chịu nên tìm đến để khảo sư. Sư bèn 2 bài kệ, bài đầu tiên Ngưỡng Sơn bảo sư mới ngộ ý chỉ Như Lai Thiền chứ chưa ngộ ý chỉ Tổ sư Thiền và bảo sư nói bài kệ khác, đến bài thứ hai Ngưỡng Sơn mới công nhận sư đã ngộ ý chỉ Tổ sư Thiền. Qua đây Quy Sơn và Ngưỡng Sơn đều hoàn toàn ấn chứng sư đã đạt đạo:

Bài kệ Như Lai Thiền Bài kệ Tổ sư Thiền
Năm xưa nghèo chưa thật nghèo

Năm nay nghèo mới thật nghèo

Năm xưa nghèo vẫn còn có đất cắm dùi

Năm nay nghèo dùi cũng không

Ta có một cơ

Chớp mắt chỉ y

Nếu người chẳng hội

Riêng gọi Sa-di.

Sau sư về giáo hóa tại Hương Nghiêm, học chúng đến rất đông. Sư tùy cơ dạy chúng đơn giản, sư có làm trên 200 bài kệ ứng đối đơn giản không theo quy luật, các nơi truyền bá rất thịnh.

Sư thị tịch vào năm đầu (898) niên hiệu Quang Hóa (光化), vua ban thụy hiệu là Tập Đăng Thiền Sư (襲燈禪師).

Pháp NgữSửa đổi

Sư dạy chúng: "Ví như người leo lên cây cao, dưới là vực thẳm ngàn thước. Người ấy miệng ngậm cành cây, chân không đạp chỗ nào, tay không bám vào đâu. Chợt có người đến hỏi "ý Tổ sư từ Ấn Độ sang". Nếu mở miệng đáp thì mất mạng nát thân, bằng chẳng đáp thì phụ lòng người hỏi. Chính khi ấy phải làm sao?" Khi ấy có Thượng tọa Chiêu bước ra thưa: Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thì thế nào? Sư cười rồi thôi.

Công án này được xếp vào tắc thứ năm của tập Vô Môn Quan, theo nhiều thiền sư đánh giá thì đây là một công án bí hiểm và ít người có thể lãnh hội được, vì nó khiến cho người tu hành không còn chổ bám trụ vào bất cứ nơi đâu, vượt lên mọi cách thức, lý lẽ thường tình. Dưới đây là nguyên văn công án, lời bình và kệ tụng của Thiền sư Vô Môn Huệ Khai, bản dịch của Dương Đình Hỷ:

Tắc năm : HƯƠNG NGHIÊM LEO CÂY

Cử : Hòa thượng Hương Nghiêm nói : Như người trên cây, mồm cắn vào cành cây, tay không vin vào cành, chân không đạp vào cây. Dưới cây có người hỏi ý tổ sư từ Tây sang. Không đáp thì phụ người hỏi. Nếu trả lời thì chôn thân mất mạng. Chính lúc đó phải làm sao?

Lời bình : Dù có biện luận như nước chẩy cũng không dùng làm gì, giảng được bộ đại tạng kinh cũng vô dụng. Nếu chỗ này đáp được thì làm sống con đường đã chết, làm chết đi con đường đã sống. Nếu chưa đáp được thì chờ sau này hỏi Di Lặc.

Kệ tụng :

香 嚴 眞 杜 撰

惡 毒 無 盡 限

啞 卻 衲 僧 口

通 身 迸 鬼 眼

Hương Nghiêm chân Đỗ Soạn

Ác độc vô tận hạn

Á khước nạp tăng khẩu

Thông thân bính quỷ nhãn

Hương Nghiêm thật bày đặt

Ác độc không thể lường

Khiến nạp tăng câm miệng

Toàn thân mắt quỷ giương

Nguồn tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Từ điển Thiền Tông Hán Việt. Hân Mẫn & Thông Thiền biên dịch. TP HCM 2002.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.