Khẩu EOC 12 inch 45 li là tên gọi chung cho một loạt các loại hải pháo 12-inch quấn dây được thiết kế và sản xuất bởi Công ty súng Elswick để trang bị các tàu mà công ty mẹ của nó, Armstrong Whitworth đang đóng hay trang bị cho nhiều nước trước Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Hải pháo EOC 12 inch 45-li
Pháo 12"/45 Mẫu năm thứ 41
Pháo 30cm/45 Mẫu năm thứ 41
Mikasa kobu shuho.jpg
Khẩu mẫu năm thứ 41 trên chiếc Misaka
LoạiHải pháo
Nơi chế tạoVương quốc Anh
Lược sử hoạt động
Phục vụ1906-1952
Sử dụng bởiVương quốc Anh

Brazil

Đế quốc Nhật Bản
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ Nhất
Lược sử chế tạo
Người thiết kếCông ty súng Elswick
Thông số
Độ dài nòngNòng súng 45 foot (13,716 m) (45 li)

Đạn pháo850 pound (385,6 kg)
Cỡ đạn12 inch (304,8 mm)
Vận tốc mũi2.700 foot một giây (823 m/s) - 2.800 foot một giây (853 m/s)
Tầm bắn xa nhất18.850 thước Anh (17.240 m)

Lịch sửSửa đổi

BrazilSửa đổi

 
Súng của thiết giáp hạm Minas Geraes của Brazil

Elswick đã cung cấp súng 12-inch/45 li cho lớp Minas Geraes đang hoàn thành bởi chính Elswick và Vickers vào năm 1910 cho Brazil.

AnhSửa đổi

 
Mặt cắt tháp pháo của chiếc HMS Agincourt

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu, Elswick đang hoàn thành thiết giáp hạm Sultân Osmân-ı Evvel cho Đế chế Ottoman, ban đầu được bắt đầu với tên gọi Rio de Janeiro cho Brazil. Nó được trang bị 14 khẩu súng 12 inch của Elswick. Nó được hoàn thành với tên HMS Agincourt và phục vụ trong Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế chiến I, với súng được chỉ định là BL 12 inch Mk XIII.[1] Hiệu suất của súng ngang bằng với khẩu 12-inch tiêu chuẩn của Hải quân Hoàng gia Anh, khẩu BL 12 inch Mk X do Vickers thiết kế.

Nhật BảnSửa đổi

Elswick đã cung cấp súng 12-inch cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản và chúng cũng được sản xuất theo bản quyền tại Nhật Bản.Từ năm 1908, chúng được định danh thành Pháo 12''/45 Loại năm thứ 41. Khi Hải quân Nhật chuyển sang hệ metric vào năm 1917, chúng lại được định danh lại thành pháo 30cm/45 Loại năm thứ 41. Chúng được trang bị các lớp tàu sau:

  • Thiết giáp hạm lớp Katori, đưa vào vận hành năm 1906
  • Tuần dương bọc thép lớp Ibuki, đưa vào vận hành năm 1907 & 1911
  • Tuần dương bọc thép lớp Tsukuba, đưa vào vận hành năm 1908
  • Thiết giáp hạm Mikasa, được thay súng vào năm 1908
  • Thiết giáp hạm lớp Satsuma, đưa vào vận hành năm 1910 & 1912
  • Thiết giáp hạm lớp Kawachi, đưa vào vận hành năm 1912

Ví dụ sống sótSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

  • Danh sách súng hải quân

Vũ khí có vai trò, hiệu suất và thời đại tương đươngSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Người Anh sử dụng Số La Mã để chỉ định số Marks (phiên bản) của súng cho đến sau thế chiến thứ hai. Ở trường hợp này có nghĩa là: Đây là phiên bản thứ 13 trong hải quân Anh của khẩu BL 12-inch.

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi