Mở trình đơn chính

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Học Viện Nông Nghiệp Quốc Gia Việt Nam

Học viện Nông nghiệp Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam National University of Agriculture) là trường đại học chuyên ngành đứng đầu về đạo tạo nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp tại miền Bắc Việt Nam, thuộc nhóm ba mươi trường đại học đứng đầu Đông Nam Á, thuộc nhóm trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam. Trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.[2]

Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Gagaeg dbdsbdfd.jpg
Tên bản địaVietnam national university of agriculture (VNUA) Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2008- 2014)(HUA)
Tên kháchoxe-macti Nông nghiệp 1
Khẩu hiệuĐoàn kết (Solidarity)

Đạo đức (Morality)

Đi đầu (Advancement)

Đáp ứng (Response)

Đẳng cấp (Transcendence)
Thông tin chung
Loại hìnhĐại học công lập trọng điểm
Thành lập12 tháng 10, 1956; 63 năm trước
Tài trợNgân hàng thế giới (WB) 54.2 triệu USD

JICA Cộng đồng các Trường ÐH nói tiếng Pháp - Vương quốc Bỉ Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Australia Quỹ Ford

Ðại học Wageningen Hà Lan

ÐH Nông nghiệp Tokyo, ÐH Saga, ÐH Ryukus, ÐH Kagoshima, ĐH Yamagata (Nhật Bản), ÐH Kasetsart, ÐH Công nghệ Suranaree (Thái Lan), ÐH Nông

nghiệp Vân Nam (Trung Quốc),ĐH quốc gia Incheon Hàn Quốc 6 triệu USD
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởng danh dự1
Giám đốcGS.TS. Nguyễn Thị Lan
Hiệu trưởng1
Hiệu phó3
Giảng viên800
Nhân viên1400
Sinh viên40.000
Sinh viên đại học40.000
Nghiên cứu sinh600
Sinh viên chuyên nghiệp10.000
Thông tin khác
Khuôn viên210 ha
Địa chỉphố Ngô Xuân Quảng, thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm
Vị tríHà Nội, Việt Nam
Màuxanh, da cam, vàng
Biệt danhhoxe -macti
Bài háthọc viện nông nghiệp việt nam
Điện thoại844 8276346 fax: 248276554
Emailwebmaster@vnua.edu.vn
Websitewww.vnua.edu.vn
Xếp hạng
Xếp hạng quốc gia
Webometrics(2018)3[1]
Xếp hạng châu Á
Webometrics(2018)960[1]
Xếp hạng thế giới
Webometrics(2018)3129 [1]

Lịch sửSửa đổi

Giai đoạn 1956 – 1966[3]
  • Năm 1956, thành lập Trường Đại học Nông lâm theo nghị định số 53/NĐ-NL ngày 12/10/1956 của Bộ Nông Lâm, gồm 03 khoa: Nông học, Chăn nuôi -Thú y, Lâm học; có 5 ngành học, gồm: trồng trọt, cơ khí nông nghiệp, chăn nuôi, thú y và lâm nghiệp. Có 03 phòng Hành chính quản trị, Tổ chức cán bộ và Giáo vụ.
  • Năm 1958, sáp nhập thêm Viện khảo cứu trồng trọt, Viện khảo cứu chăn nuôi, Phòng nghiên cứu gỗ và lâm sinh để trở thành Học viện Nông Lâm.
  • Năm 1961, mở thêm ngành nuôi trồng và đánh bắt chế biến thủy sản; thành lập thêm khoa Kinh tế nông nghiệp.
  • Năm 1963, Học viện chuyển một phần cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật để thành lập Viện Khoa học Nông nghiệp.
  • Năm 1964 Học viện tách khoa Lâm học, phòng nghiên cứu gỗ và lâm sinh, một phần tổ bộ môn cơ khí, một phần các tổ bộ môn khoa kinh tế để thành lập trường Đại học Lâm nghiệp (nay là Đại học Lâm nghiệp Việt Nam). Lúc này phần còn lại của trường đổi tên thành Đại học Nông nghiệp.
Giai đoạn 1967 – 1975[3]
  • Năm 1967, tách thành hai trường đại học Nông nghiệp I và Đại học nông nghiệp II (nay là Đại học Nông lâm Huế) theo Quyết định số 124/CP ngày 14/8/1967 của Thủ tướng Chính phủ. Trường giữ lại tên gọi chính thức là Trường Đại học Nông nghiệp I.
  • Năm 1968, Trường tách khoa Thủy sản ra để thành lập trường Đại học Thủy sản (nay là Đại học Nha Trang) theo quyết định số 155-CP của Thủ tướng Chính phủ.
Giai đoạn 1975 – 1990[3]
  • Năm 1977, Trường thành lập thêm Khoa Quản lý ruộng đất. Giai đoạn này Trường có 8 khoa với 9 ngành và chuyên ngành.
Giai đoạn từ 1991 – 2000[3]

Trường đã thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo đủ các bậc đại học, sau đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Giai đoạn từ 2001 – 2008[3]

Trường có 13 Khoa, 9 Phòng ban, 13 Viện và Trung tâm, có 29 chương trình đào tạo đại học, 24 chương trình đào tạo sau đại học. Trường đã được Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh năm 2001, Danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới năm 2005.

Giai đoạn 2009 đến nay[3][4]

Ngày 28 tháng 03 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 441/QĐ-TTg thành lập Học viện Nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.[5]

Các khoaSửa đổi

    • Khoa Chăn nuôi
    • Khoa Công nghệ thông tin
    • Khoa Công nghệ thực phẩm
    • Khoa Cơ điện
    • Khoa Công nghệ sinh học
    • Khoa Giáo dục quốc phòng
    • Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn
    • Khoa Kế toán và Quản trị KD
    • Khoa Lý luận chính trị và Xã hội
    • Khoa Môi trường
    • Khoa Nông học
    • Khoa Quản lý đất đai
    • Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ
    • Khoa Thú y
    • Khoa Thủy sản

Tặng thưởngSửa đổi

  • Huân chương Độc lập hạng nhì (năm 1991);
  • Huân chương Độc lập hạng ba (năm 1986);
  • Huân chương Lao động hạng nhất (năm 1981);
  • 3 Huân chương Lao động hạng nhì (năm 1977, 1965, 1962);
  • 2 Huân chương Lao động hạng ba (năm 1973, 1960);
  • Huân chương Tự do của CHDCND Lào (năm 1981).
  • Danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 2005);
  • Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2001);
  • Huân chương Độc lập hạng nhất (năm 1996);
  • Huân chương Lao động hạng nhất của CHDCND Lào (năm 2000);
  • Bộ GD và ĐT khen thưởng và tặng cờ Trường tiên tiến xuất sắc (năm học 1999 – 2000, 2002 –2003); 02 Bằng khen về đào tạo (năm 1997, 1998), 06 Bằng khen về NCKH (từ năm 2001 - 2005);
  • 20 Bằng khen của Bộ Nông nghiệp – PTNT, Bộ KH và CN, của UBND các tỉnh về thành tích đào tạo cán bộ KHKT và chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất;
  • 30 năm liên tục được công nhận đơn vị tiên tiến xuất sắc về TDTT của Thủ đô (1975 – 2005).
  • Huân chương Hồ Chí Minh ngày 10/12/2016

Hiệu trưởng qua các thời kỳSửa đổi

  1. GS-TS Bùi Huy Đáp (1919-2004) là giáo sư, nhà nghiên cứu nông học. Ông quê ở Nam Định, là người đi đầu xây dựng nền khoa học nông nghiệp Việt Nam theo đường lối quần chúng. Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.
  2. Trần Hữu Dực (19101993) là một cựu chính khách Việt Nam. Ông từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần QĐNDVN.
  3. Chu Văn Biên (1912-2006) là nhà cách mạng và chính khách Việt Nam, Bí thư Khu ủy Liên khu IV, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương, Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Ấn Độ.
  4. Nguyễn Đăng (1963-1975);
  5. GS., TS., NGND Lê Duy Thước (1976-1983);
  6. GS., TS., NGƯT Trần Thị Nhị Hường (1984-1992);
  7. GS., TSKH., NGND Cù Xuân Dần (1992-1996);
  8. GS., TS., NGƯT. Nguyễn Viết Tùng (1996-2001);
  9. GS., TS., NGƯT. Đặng Vũ Bình (2001 đến 2006);
  10. GS.TS. NGND. Trần Đức Viên (2007 - 2014).
  11. GS.TS Nguyễn Thị Lan (2015 - nay)

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

Tham khảoSửa đổi